Board index   FAQ   Search  
Register  Login

*** ***
Click here to go to vomtroimagazine.com
Supporters

Truyện Kiếm Hiệp ***** LAM Y NỮ HIỆP ***** Đã đăng hết

Diễn Đàn Võ-Thuật

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp

Postby Editor 1 » Thu Jul 03, 2014 10:10 pm

(Hồi 38 Tiếp)

Liêm Hoa hỏi :
- Tên chị là gì? Biết tên gọi nhau tiện hơn.
- Tôi họ Lam tên Anh, sanh quán ở Thái Bình huyện.

Hai thế nữ nữa xếp các quần áo giặt sạch vào hai chiếc giành mây rồi xỏ đòn gánh khiêng về nhà. Liêm Hoa và Lam Y theo sau. Nàng nói chuyện :
- Lúc ở ngoài đầu lộ hỏi thăm vào đây, có người lực điều nói rằng Hạ Hầu tiểu thư mới du lịch xa về, phải không?

Liêm Hoa đáp :
- Phải rồi. Tiểu thơ và đại công tử mới đi Hàng Châu thăm người cô cửu về hồi trưa hôm qua.

Lam Y vờ hỏi :
- Nghe nói Hàng Châu là một đại trấn, chắc đại công tử và tiểu thư mua được nhiều thứ đẹp về nhà lắm nhỉ?
- Đi như vậy mấy khi ai chịu mua gì thêm bận tay đường trường. Tôi chỉ thấy dắt được một con Bạch mã cực đẹp về nhà thôi.
- Chắc nhà thiếu ngựa nên tiểu thư mới chịu khó mua thêm về dùng chứ gì?

Liêm Hoa phản đối :
- Đâu có! Tầu ngựa nhà có dư ngựa, có lẽ vì thiếu Bạch mã nên mua về cho đủ bộ.
- Kim chi ngọc diệp như tiểu thư mà xông pha kỵ mã kể cũng hiếm có.

Liêm Hoa phì cười :
- Lam thơ hỏi ngớ ngẩn thật. Hạ Hầu là dòng dõi võ tướng khai quốc công thần, tiểu thư và đại công tử võ nghệ gia truyền, dũng lực vô song. Cung mã là nghề nhà mà! Thơ thơ được thâu nhận làm việc ở đây sẽ mục kích hai vị ấy luyện tập thường ngày.

- Đại công tử và tiểu thư danh hiệu là gì nhỉ?
- Hạ Hầu Hùng và Hạ Hầu Ánh. Trông thơ thơ gọn gàng thế này chắc sẽ được hầu cận tiểu thư đó. Tôi biết ý tiểu thư và sẽ nói giúp cho.

Lam Y làm ra vẻ mừng rỡ :
- Ơn ấy bao giờ tôi dám quên.
- Ồ, có gì mà ơn với huệ. Bọn công nhân chúng mình giúp nhau là thường.

Hai người vãn chuyện, đi vòng vèo qua mấy dãy nhà tá điền, đến một trang môn đồ sộ, có tấm biển vắt ngang đề ba chữ “Kỳ Dũng Hầu”. Bên trong đình đài mấy lớp khang trang, hoa viên cây cối rườm rà, nào giả sơn, nào hồ bán nguyệt, cực kỳ sang trọng.

Liêm Hoa nói :
- Nam nữ công nhân ở trong nhà này đông và do bà Dương Kim quản gia điều xuất. Theo lệ phải trình diện với quản gia trước, nhưng Lam thơ theo tôi về phòng riêng ở hậu viên, chờ tôi nói với tiểu thơ trước cho thì chắc chắn hơn.

Lam Y theo Liêm Hoa đi vòng vèo vào tới khu hậu đình, thì vừa thấy một thiếu nữ đứng trên hành lang nhìn xuống.

Liêm Hoa nói nhỏ với Lam Y :
- May quá tiểu thư kia kìa, chắc thế nào cũng hỏi. Đó là Mai Hương đình có phòng của tiểu thư.
- Tiểu thơ ở nhà mà không vận xiêm y thường phục à?
- Ít khi lắm. Luôn luôn dùng võ phục.

Quả nhiên, Hạ Hầu Ánh vẫy tay gọi Liêm Hoa.
Liêm Hoa dặn Lam Y đứng đó chờ, rồi rảo bước sang đình Mai Hương.

Hạ Hầu Ánh hỏi Liêm Hoa :
- Ai đi với ngươi vậy?
- Con đang giặt ở máng nước thì thôn nữ này vào Kỳ Hầu Ổ kiếm việc làm. Thấy người gọn gàng dễ coi bảo theo về xem tiểu thư có bằng lòng không.

Hạ Hầu Ánh chăm chú nhìn Lam Y thôn nữ giây lát :
- Tên y là gì? Gọi sang đây ta coi!
- Y họ Lam tên Anh, người Thái Bình huyện.

Hạ Hầu Ánh nhìn Lam Y không chớp mắt trong khi nàng vờ khép nhìn xuống nền gạch bông. Tuy vậy, Nữ hiệp đã thừa thì giờ quan sát tiểu thơ họ Hạ Hầu rồi. Nàng phảng phất như Nhạc Lan Anh cao hơn, nhưng cũng chỉ đứng đến tai Lam Y.

Hạ Hầu Ánh nghĩ thầm sao lại có thôn nữ xinh đẹp, trắng trẻo ngà ngọc chẳng kém chi một vị thiên kim tiểu thư thế này? Được người này hầu cận thì còn chi bằng, nhưng biết đâu y không là gian tế, là Lam Y nữ hiệp tìm đến đây lấy lại Bạch mã.

Đoán được ngay ý nghĩ của Hạ Hầu Ánh, Lam Y vờ ngơ ngác nhìn y hệt một thôn nữ lần đầu mới được đặt chân tới cấm đình danh gia.

Bỗng Hạ Hầu Ánh cất tiếng trong trẻo hỏi :
- Lam Anh một mình từ Thái Bình huyện tới đây, mà không sợ đường trường thân gái sao?

- Thưa tiểu thư, con côi cút đi với vợ chồng người biểu huynh qua Lục gia thôn, được nghe nói tướng công và phu nhân bên Kỳ Hầu Ổ nhân đức, nên biểu huynh dẫn con sang đây xin việc làm.
- Vợ chồng biểu huynh ngươi đâu? Không thấy đi cùng?

- Biểu huynh và biểu tẩu vào Thạch Tấn huyện, chiều mai mới về qua đây rước.
- Giá tỉ không kiếm được việc làm, đêm nay ngươi định ngủ ở đâu?
- Biểu huynh con dặn rằng xin ngủ nhờ một nhà nào trong Kỳ Hầu Ổ và chiều mai sẽ ra đại lộ chờ.
- Nếu ta thâu nhận, ngươi có ưng ý theo ta không?
- Thưa tiểu thư, con mong muốn được như vậy. Phước đức quá!

Bỗng Hạ Hầu Ánh hỏi ngang :
- Bên Thái Bình huyện rộng lớn, không kiếm nổi chỗ làm sao?
- Con có đi làm mấy nơi, nhưng các nam công nhân... sỗ sàng quá nên đành phải bỏ việc.

Hạ Hầu Ánh nhận xét thấy Lam Y sắc diện đỏ ửng vẻ mắc cỡ thì tin là nàng thật tình, nghĩ thầm “Phải rồi, nhan sắc thế kia, bọn nam bộc không trêu cợt sao được”.
- Được rồi, ta nhận ngươi làm hầu cận ta. Nếu bọn nam bộc lả lơi trêu ghẹo, ngươi cứ việc mách để ta trừng phạt. Các thể nữ trong nhà đều vận xiêm y, chịu khó ngoan ngoãn ta sẽ may cho.

Lam Y bẽn lẽn :
- Con vận y phục thôn dã đã quen, tiện làm việc hơn. Dùng xiêm y không được gọn gàng.

Hạ Hầu Ánh mỉm cười :
- Nếu thế ta sẽ cho vận võ phục, hầu đao mã, chịu khó ta sẽ truyền dạy võ nghệ cho. Hiện thời, ta có nhiều võ phục cũ, ta sẽ đưa cho mà dùng.
- Dạ, con xin cố theo.

Nói câu ấy, Lam Y không khỏi cười thầm: “Mày thấp hơn ngót ngang tay và nhỏ cân hơn, chị mày đây vặn vừa sao”.

Hạ Hầu Ánh thấy mến ngay Lam Y thôn nữ, bèn bảo Liêm Hoa :
- Để Lam Anh ở đây với ta. Có gặp quản gia Dương Kim thì bảo cho y hay việc thâu nạp này nghe chưa?

Liêm Hoa đi khỏi, Hạ Hầu Ánh nói :
- Nguyên tòa Mai Hương đình này thuộc về ta, vào đây chỉ phòng riêng cho cất hành lý. Hiện có hai nữ tì làm việc vặt, hiềm vì chúng ủy mị lắm, chớ không khỏe mạnh như Lam Anh.

Lúc hai người đi gần nhau, Hạ Hầu Ánh mới chợt nhận ra thôn nữ cao lớn hơn mình :
- A, Lam Anh lớn hơn ta nhiều, phải may võ phục khác mới vừa.

Mai Hương đình có một tầng lầu. Ở trên là tư phòng của Hạ Hầu Ánh và một căn phòng xép. Dưới là khách phòng bày giá võ khí.

Hạ Hầu Ánh dẫn Lam Y vào căn phòng nhỏ sau khách phòng mà rằng :
- Từ nay Lam Anh ở đây. Khỏe mạnh thế này, không theo tập cũng phí. Biết kỵ mã không?

Lam Y đáp :
- Trước kia gia đình chưa sa sút, nhà có ngựa nên con có tập cưỡi qua loa và biết đóng yên ngựa.
Giữa lúc hai người đang nói chuyện, thì có tiếng gọi :
- Hiền muội có nhà không?

Hạ Hầu Ánh lên tiếng trả lời, và bảo Lam Y :
- Công tử Hạ Hầu Hùng, anh ta đó. Lam Anh theo ra đây.

Dứt lời, nàng đi trước ra khách phòng. Một thanh niên tuấn kiệt đang ngồi trên cẩm đôn.
Thấy Lam Y, Hạ Hầu Hùng hỏi em :
- Ai đây?
- Tiểu muội mới kiếm được một người hầu đao mã đó, thôn nữ Lam Anh.

Lam Y kín đáo nhận xét Hạ Hầu Hùng, tiến lên vái chào.

Hạ Hầu Hùng lẳng lặng nhìn Lam Y một hồi, đoạn bảo em :
- Con Bạch mã vẫn không chịu ở chung tàu với bầy ngựa nhà. Nó đá luôn, ngu huynh nhốt riêng ra rồi.

Chắc nó nhớ chủ.
- Hoặc nhớ chủ, hoặc dữ tánh. Ngựa nhà bị thương không.
- Chúng giạt sang bên nên không hề gì. Ngu huynh cột Bạch mã vào ổ riêng.

Hạ Hầu Ánh nói :
- Ta ra coi xem thế nào, nhân tiện chỉ cho Lam Anh biết nơi tàu ngựa luôn thể.

Nàng vẫy Lam Y đi theo.

Ra tới nơi, tiếng ngựa hí vang ầm. Hạ Hầu Hùng nói :
- Con Bạch mã hí đó, chắc nó nhớ chủ chớ không sai.

Lam Y cười thầm: “Bây ngu quá! Nó đánh hơi biết ta tới nên mừng rỡ, chớ nhớ gì. Ngựa nhớ phải bỏ ăn chớ sao lại hí vang”.
Bạch mã giậm bốn vó, giựt dây cột như muốn tháo chạy.

Tên gia nhân mã phu chạy ra nói :
- Bạch mã dữ quá! Kỳ một điều là sao bây giờ nó mới hung hãn vậy.

Anh em Hạ Hầu tiến vào tàu ngựa, Lam Y sợ Bạch mã giựt đứt dây chạy ra với nàng sẽ bị lộ chân tướng, bèn ngăn lại :
- Trước kia biểu huynh con có giữ tàu ngựa, nên con học theo biết tánh ngựa. Con Bạch mã này nổi hung có lẽ bị cột dây ngắn quá. Để con thử coi!

Hạ Hầu Hùng nghe vậy lại chăm chú nhìn Lam Y.

Hạ Hầu Ánh mỉm cười bảo rằng :
- Lam Anh thạo về mã tánh như vậy ư? Thử coi, nhưng cẩn thận kẻo nó đá đó.
Lam Y vờ lấy nắm cỏ tươi đi thẳng vào trong tàu cho Bạch mã và nới dài dây cột.

Bạch mã thấy chủ đứng yên ngay. Lam Y vỗ lên cổ nó mấy cái :
- Ăn cỏ đi kẻo bị đánh đa!

Tuấn mã ngoan ngoãn cúi đầu ăn cỏ như thường, yên trí là chủ đã tới.

Lam Y ra khỏi tàu ngựa.
- Công tử và tiểu thư coi, vì dây cột ngắn quá, nó không cúi đầu được xuống tới máng ăn.

Hạ Hầu Hùng nói một mình :
- Lạ quá nhỉ! Vừa rồi chính tay ta cột nó, dây dài đủ cỡ mà.

Hạ Hầu Ánh vô tình khen :
- Không ngờ Lam Anh lại thạo về môn mã tánh như vậy. Khá lắm!

Hạ Hầu Hùng bảo em :
- Ngu huynh mừng thay cho hiền muội gặp được người hầu vừa ý.
Hạ Hầu Ánh vui vẻ :
- Tiểu muội nghĩ rằng Lam Anh có thể thành người bạn hơn là người hầu.

Trong khi anh em Hạ Hầu mải nói chuyện, Lam Y nhận xét địa thế khu vườn sau, thấy có hai cổng bằng cây đóng kín, còn tên mã phu thì ở cùng với gia đình y trong căn nhà nhỏ cách tàu ngựa chừng vài sải tay.

Lát sau, về đến Mai Hương đình, Hạ Hầu Ánh bảo nàng :
- Tôi có cảm tưởng là Lam Anh thạo nghề cung mã, lai lịch của em thế nào thuật rõ tôi nghe, chỗ chị em bạn gái đừng ngại Lam Y nghĩ thầm mày đã trộm ngựa trêu ta thì ta sẽ trêu lại cho mà coi! Nàng đáp :
- Tiểu thư biết nhìn người, tôi đâu dám giấu diếm. Khi xưa nội tổ ở trong quân binh nên tôi biết qua loa về nghề cung mã. Sau đó gia đình sa sút tôi phải đi làm mướn ăn, ngoài ra không có gì đáng nói thêm bận tai tiểu thư.

Hạ Hầu Ánh cả cười :
- Như thế cũng thừa đủ cho chúng ta thành thân nhau. Tôi ưa chuộng võ nghệ và hàng ngày luyện tập.

Lam Anh chịu khó ở đây giúp việc, tôi truyền nghề cho. Khỏe mạnh thế này chắc mau tấn tới lắm.
- Tiểu thơ cùng tập với đại công tử, tôi mắc cỡ và ngại vô cùng.
- Việc chi mà ngại. Các a hoàn trong trại được lệnh luyện võ nghệ theo các nam công nhân, nhưng người nào cũng ẻo lả, e thẹn trốn tránh, nên tôi bực mình không tin dùng ai cả. Mong rằng Lam Anh bạo dạn hơn.
- Tôi theo tiểu thư tất bị các đồng nghiệp chê cười ghen tị. Cùng là bạn tôi đòi với nhau, lẽ nào mình tôi múa may trên sân trong khi họ phải rán sức làm việc, các bạn không đố kỵ sao được? Mong rằng tiểu thư cho tôi được tự nhiên hầu hạ thì hơn.

Hạ Hầu Ánh lắc đầu :
- Ý tôi đã quyết, Lam Anh đừng cản tôi. Có ai cấm đoán họ tập võ nghệ đâu? Trách Lam Anh sao được?

Nếu chúng điều nặng, tiếng nhẹ, mách tôi hay. Trốn luyện võ là trái lệnh tướng công. Người muốn rằng tất cả nam nữ tráng niên trong trang đều phải biết võ nghệ sơ đẳng. Học võ giữ mình há không phải là điều hay cho phụ nữ sao?
- Tiểu thư dạy như vậy, tôi sẽ cố gắng theo đòi, nhưng võ sảnh ở đâu?
- Trong khu hậu viên hồi nãy có hai cổng, một thông sang võ sảnh có cả vòng luyện mã, một lối thông ra cánh đồng tới suối tắm ngựa, mai tôi sẽ chỉ cho, nhưng phải dậy sớm mới mong thành công.

Đêm hôm ấy, tiếng kiểng ở vọng canh đầu thôn vừa đổ canh ba, Lam Y lẹ làng mở cửa phòng lẻn ra ngoài nghe ngóng, thì vừa lúc toán tránh đinh tuần phòng từ phía hậu viên tiến về hướng Mai Hương đình.

Nàng vội nấp vào bóng tối chờ chúng đi khỏi mới vùn vụt chạy thẳng ra tàu ngựa. Vốn đã thuộc đường, nàng không mất công tìm kiếm.

Lẹ tay mở gióng cây, Lam Y vào tàu vỗ nhẹ lên má Bạch mã cho nó biết là chủ tới khỏi kinh hoàng. Đoạn nàng gài mảnh giấy bữa nọ của Hạ Hầu Ánh lên vách tường, tháo dây cột dắt Bạch mã ra khỏi tàu ngựa.
Đi vòng trên cỏ, tránh xa căn mã phu, Lam Y dắt ngựa ra tới cổng mà nàng đoán là ăn thông ra cánh đồng.

Trước khi mở cổng, nàng phi thân lên mặt tường nhìn ra ngoài nhận xét. Quả nhiên, phía ngoài đồng rộng bát ngát mênh mông.

Yên trí, Lam Y nhẹ tay rút then cổng, dắt Bạch mã ra ngoài, vỗ lên má con vật tinh khôn nói nhỏ :
- Ngươi đứng dậy, ta đóng cổng đã!

Nàng vượt tường vào trong gài cổng lại như cũ rồi nhảy ra ngoài. Cẩn thận, nàng dắt Bạch mã cách khỏi Kỳ Hầu Ổ một quãng xa để tránh tiếng chân ngựa, đoạn theo phương hướng đi tréo ra lối đại lộ, tránh hẳn lối vào thôn ổn. Tới đại lộ, Lam Y lên ngựa cho đi bước một về phía Thạch Tấn huyện.

Chợt từ cành cây bên đường có tiếng cú rúc, Lam Y dừng ngựa lại nhìn quanh, một bóng đen từ cành cây nhảy xuống mặt đại lộ, tiến thẳng đến phía Lam Y. Nàng xuống ngựa hỏi :
- Sao tẩu tẩu không cùng đi?

Bóng đen chính là Chu Đức Kiệt đáp :
- Đáng lẽ nàng cùng đi, nhưng nghĩ vì hiền muội muốn dành sự bất ngờ cho Nhạc Lan Anh, lỡ họ Nhạc tỉnh dậy không thấy hai người đâu, kinh động nơi quán trọ thì sao? Vì thế Âu Dương Bích Nữ ở lại.
- Hiền huynh chờ lâu chưa?
- Tới vừa lúc kiểng đổ canh ba, đúng lời hiền muội hẹn.
- Hiền huynh về thành đi. Chiều mai cuối giờ Thân đến cả Kỳ Hầu Ổ nhé!
- Lấy lại Bạch mã rồi, sao không đi ngay, ở lại làm chi?
- Hiền huynh quên rằng họ Hạ Hầu muốn làm quen với chúng ta à? Sáng mai, tiểu muội còn trêu giỡn họ chút đỉnh cho bỏ công vất vả.
- Chúng đông thì sao?
- Không, có hai anh em. Hạ Hầu Hùng và cô em Hạ Hầu Aùnh.

Đức Kiệt lên Bạch mã, Lam Y vẫy tay chào rồi phi hành về Kỳ Hầu Ổ.
Nàng hành động lặng lẽ như bóng vượn.

Tảng sáng hôm sau, Hạ Hầu Ánh đai nịt gọn ghẽ xuống lầu. Thấy cửa phòng thôn nữ còn đóng chặt, nàng lẩm bẩm :
- Cô ả này ngủ say không biết đường dậy, phải luyện cho y thức sớm mới được.

Nhẹ tay, nàng khẽ mở cửa phòng, ló đầu nhìn vào. Lam Y ngủ say, mặt quay vào tường. Rón rén, Hạ Hầu Ánh mở mùng đập nhẹ vào vai gọi :
- Lam Anh! Lam Anh! Sáng rồi dậy chớ!

Lam Y vờ ư hử, vươn vai rồi lại ngủ nữa.
Hạ Hầu Ánh mỉm cười, cù vào sườn thiếu nữ mãi ngủ.

Lam Y giả vờ giật mình choàng dậy, dụi mắt, ngáp dài.
- Ủa tiểu thư! Dậy sớm vậy?
- Còn sớm à! Tảng sáng rồi. Định tập luyện phải dậy sớm giờ này chớ.
- Trời ơi! Sáng thật rồi ư? Đệm ấm ngủ ngon quá! Xin lỗi tiểu thư, tôi rửa mặt cho tỉnh sẽ ra hầu ngay.
- Hôm nay trễ đó. Có lẽ đại công tử chờ ở võ sảnh.

Lam Y rửa mặt quấy quá, bịt khăn lên đầu, vội vã theo Hạ Hầu Ánh.
- Mấy hôm hành trình mệt mỏi, ngủ quên không nghe nổi tiếng gà gáy sáng nữa.

Hạ Hầu Ánh nói :
- Nếu còn mệt, ra võ sảnh coi cho biết thể thức, vài ngày tinh thần điều hòa sẽ bắt đầu luyện tập cũng được. Cố gắng có hại cho sức khỏe.
- Thưa tiểu thư hô hấp khí trời trong sạch ban sảng khoái lắm.

Bỗng Hạ Hầu Ánh lắng tai nghe, rồi bảo Lam Y :
- Kìa! Sao lại có tiếng ồn ào ở hậu viên? Rảo bước coi!
- Chắc công tử và tráng đinh luyện tập, nên tiếng ồn ào vọng tới đây...
- Không, tập luyện, phận sự ai nấy lo? Mọi sáng có thế đâu...

Hạ Hầu Hùng và các tráng đinh đang xúm xít quanh nơi tàu ngựa.

Thấy tiểu thư đi tới, bọn tráng đinh vội tản sang hai bên, chăm chú nhìn thôn nữ xinh đẹp đi phía sau.
Hạ Hầu Hùng bảo em :
- Đêm qua có kẻ trộm bạch mã rồi, y để lại tờ giấy này.

Chàng đưa tờ giấy cho em xem.
Hạ Hầu Ánh nhận ra tờ giấy do chính mình đã gài trong tàu ngựa Củng gia điếm mấy bữa trước, khi nàng trộm bạch mã của Lam Y nữ hiệp.

Nàng nhìn qua thấy không ghi thêm câu nào, bèn nói :
- Lam Y nữ hiệp trả đũa lẹ nhỉ! Hiền huynh kiếm dấu chân ngựa chưa?
- Dấu chân còn rành rành từ trong tầu ngựa đi ra tới mảnh đất này, nhưng mất hút trên làn cỏ tiên. Trước cổng sau cũng có dấu.
- Cổng để ngỏ ư?
- Cổng đóng. Thì có khó khăn gì, nàng mở cổng dắt ngựa ra rồi vượt tường đóng lại như cũ. Chúng ta khờ khạo để trang dinh canh phòng nơi cổng hậu, xem nàng hành động thế nào.

Hạ Hầu Ánh phì cười.
- Bất ngờ ở điểm Nữ hiệp đến quá sớm thôi. Nếu để bọn tráng đinh canh phòng, bất quá chúng lại bị nàng lập mẹo trói gà chớ ăn thua gì! Nhân vật ấy hành động thiên hình vạn trạng phòng ngừa sao nổi.

Hạ Hầu Hùng cười theo :
- Hiền muội phí công toi. Tưởng mượn Bạch mã nối dây liên lạc làm quen, ngờ đâu nàng đi thẳng. Bây giờ biết kiếm phương nào?

Lam Y cười thầm: “Ta đứng ngay nhãn tiền mà bây giờ không biết gì cả”.

Hạ Hầu Hùng kéo em ra một chỗ nói nhỏ :
- Sao hiền muội dễ tánh thế? Có nghi ngờ gì không?
- Hiền huynh ngờ Lam Anh chớ gì. Không phải đâu. Sáng nay cô ả còn ngủ say.
- Nó vờ thế, biết đâu?
- Lẽ nào Lam Y lại mất công giả đò tới đây xin việc làm chi. Nàng đích thân tới đòi, không những chúng ta phải trả ngựa mà còn khẩn khoản tiếp đãi. Thôi đừng bận tâm nữa, tiếc rằng chúng ta vô duyên không được làm quen với nàng.

Lam Y hỏi Hạ Hầu Ánh :
- Có kẻ trộm táo gan vào đây đoạt bạch mã phải không tiểu thư? Sao không tra cứu?

Hạ Hầu Ánh gật đầu :
- Kẻ trộm đó là một nhân vật hữu danh trong giới giang hồ.
- Ủa, hữu danh mà đi trộm ngựa của người ta ư?
- Không. Lấy lại chớ không lấy trộm. Bạch mã chính là của y do tôi lấy về đây để mong được gặp người ấy.
- Nhân vật giang hồ đó là ai?
- Lam Y nữ hiệp.
- A! Tôi được thấy mặt người ấy rồi.

Hạ Hầu Ánh ngạc nhiên :
- Thiệt ư? Gặp ở đâu, hình dáng thế nào?
- Hình dáng y hệt tiểu thư. Mới đây khi qua Thanh Phiêu thôn, biểu huynh bị cảm nóng lạnh nằm lại đó, nên tôi được thấy Nữ hiệp giúp người thôn ấy bắt con mãnh hầu to lớn dị thường.
- Tôi cũng trộm bạch mã của Nữ hiệp tại Củng gia điếm bên Thanh Phiêu. Nhưng Lam Anh còn may mắn hơn tôi là được trông thấy nàng... Thôi, sang võ sảnh, trễ quá rồi.

Thao trường Kỳ Hầu Ổ là một khu đất khá rộng, các bực đá tập nhảy cao, vòng luyện mã ở xung quanh. Võ sảnh là một mái đình trống, nền đất phẳng lì cao hơn mặt thao trường độ một thước.

Các tráng đinh đứng thành hàng ba đang đồng đều luyện một bài quyền theo sự hướng dẫn của viên Trưởng đinh. Họ biểu diễn từng thế quyền một rất thong thả theo từng tiếng đếm Nhất, Nhị, Tam của Trưởng đinh.

Thí dụ, khởi bài quyền bằng “Bài Tổ”, rồi chuyển sang thế thứ nhất. Từ thế bài Tổ sang thế “chánh” thứ nhất, phải qua một “thế biến” thì Trưởng đinh đếm “Nhất” ở thế Biến, và đếm “Nhị” khi chuyển sang thế chánh. Đoạn từ thế chánh nọ chuyển sang thế chánh kia nếu phải qua hai thế biến, thì viên Trưởng đinh hô nhất ở thế biến thứ Nhất, hô Nhị ở biến thứ hai, và hô tam lúc nhập thế chánh. Đó là lối tập đồng đều người học để luyện thuộc một bài quyền.

Bọn tráng đinh cởi trần, quấn thắt lưng vải thôn quần bịt ống chân dận hài thảo tết bằng gai. Người nào cũng nở nang, khỏe mạnh. Hạ Hầu Hùng cũng cởi trần, cổ to, vai rộng lưng chét, có sức vài trăm cân. Chàng đang cử hai bánh xe bằng đá cỡ lớn, gân bắp nổi lên cuồn cuộn. Cử bánh xe đá xong, chàng thong thả hô hấp theo mấy thế đầu của bài “Nội công”.

Hạ Hầu Ánh bỏ áo ngoài. Bên trong, nàng vận sẵn chiếc trấn thủ bằng vải ngắn tay nọt chặt lấy người. Hai cánh tay nõn nà nhưng chắc nịch. Nàng đi đi lại lại hô hấp, rồi chuyển thần lực cử hai bánh xe đá như anh.

Cử tạ xong, nàng lại hô hấp điều hòa.

Hạ Hầu Hùng hỏi em :
- Lam Anh chịu ra đây luyện tập đó ư?
- Dạ, Lam Anh ra đây cho dạn với cảnh thao trường, và sẽ bắt đầu luyện. Tiểu muội quyết luyện cho nàng thành người bạn tập thân tín.

Hạ Hầu Hùng mỉm cười, nhìn cô thôn nữ đang bỡ ngỡ e thẹn :
- Đã ra đây, phải mạnh bạo tự nhiên mới mong thành công được.

Quay sang Hạ Hầu Ánh, chàng nói :
- Chúng ta cầm tay Lam Anh kéo nàng nhảy lên bực cao kia đi, cho quen hoạt động chỗ đông người.

Lam Anh vờ vĩnh :
- Ấy chết! Cao thế kia nhảy lên đó sao được! Té người chết.

Hạ Hầu Ánh phì cười :
- Ý kiến ấy hay đó. Phải vẫy vùng cho dạn chỗ đông người, vài bận quen ngay. Công tử và tôi kèm hai bên té sao được?
Dứt lời, nàng cầm tay Lam Y kéo đại ra góc thao trường, nơi có các bực đá tập phi thân.

Hạ Hầu Hùng theo ra, cầm tay tả Lam Y, Hạ Hầu Ánh cầm tay hữu dặn rằng :
- Tự nhiên, đừng gò lại nhé. Chúng ta sẽ nhảy lên bực đá cao nhất kia kìa.

Lam Y vờ nói :
- Trời, trông rợn cả tóc gáy!
Hạ Hầu Hùng bảo :
- Sợ thì nhắm mắt lại. Sẽ như bay đó. Lúc mở mắt thì đã đứng chót vót trên kia rồi. Nào nhảy!

Lam Y nhắm mắt sợ hãi.
Anh em Hạ Hầu cầm tay phi thân lên mặt bực đá cao nhất.
Cả ba người cùng như ba con chim bay.

Tới mặt tường, Hạ Hầu Hùng kêu :
- Lam Anh nặng quá! Thiếu chút nữa không tới mặt tường.
Hạ Hầu Ánh nhắc :
- Đừng co tay lại mà.

Hạ Hầu Hùng nói :
- Lam Anh có co tay đâu, nhưng sao mà nặng vậy? Nào nhảy xuống.

Hai người cầm tay Lam Y nhảy xuống và cùng cảm tưởng như vị một sức nặng ngàn cây kéo buột cả hai xuống mặt đất.

Hạ Hầu Ánh la lớn :
- Lam Anh để tay tự nhiên mà sao nặng quá vậy? Suýt trượt chân. Cố mềm mại toàn thân, thử nhảy lần nữa coi nào.
Anh em Hạ Hầu cầm tay Lam Y hô nhảy.

Họ co chân lấy trớn tưởng nhảy ngay lên mặt tường như vừa rồi, nhưng chẳng nhúc nhích được chút nào cả.
Lam Y vờ kêu :
- Kìa, sao công tử và tiểu thư không nhảy?

Hạ Hầu Hùng bảo Lam Y :
- Tôi bê một bánh xe đá còn phi thân lên mặt tường rất nhẹ nhàng huống chi Lam Anh.
- Chắc công tử và tiểu thư phi thân sai phép thế nào đó chứ? Lẽ nào tôi nặng đến thế được?

Hạ Hầu Ánh phản đối :
- Ai lại nhảy sái phép bao giờ! Thử lại coi nào!

Lam Y đưa tay cho hai người cầm. Lần này tới mặt tường cao và cả hai cùng cảm thấy như có sức vô hình kéo vút lên cao mà không phải dùng sức nữa.

Hạ Hầu Hùng vội hỏi em :
- Nhẹ quá phải không? Người Lam Anh thế nào ấy! Lúc như phiến đá ngàn cân, lúc nhẹ bỗng như nắm bông vậy. Kỳ thật!

Hạ Hầu Ánh nói :
- Đúng thế, hay Lam Anh có pháp thuật gì trêu chúng tôi đấy?

Lam Y đáp :
- Trời ơi, tiểu thư gán cho tôi tội tày đình. Sợ lắm chẳng tập nữa, nhảy xuống đi, đứng chênh vênh chóng mặt quá chừng.

Anh em Hạ Hầu cầm tay Lam Anh nhảy xuống nhẹ nhàng như lúc phi thân.
Nhưng lần này chưa kịp buông tay ra thì đã bị Lam Y cầm chặt, phi thân kéo vụt cả hai người lên mặt tường lẹ làng như chim én.

Buông anh em Hạ Hầu ra, Lam Y lảo đảo dùng thế “Hồ Điệp Phiên Hoa” tuyệt đẹp, xòe hai tay cánh bướm nhào người xuống mặt đất tuyệt đẹp.

Thế nhảy đó là một công phu cực kỳ điêu luyện của tay thượng thặng môn phi hành.
Lam Y khoanh tay cười duyên dáng nhìn anh em Hạ Hầu.

Hai người kinh ngạc nhảy xuống đất cung bái. Hạ Hầu Ánh nói :
- Chúng tôi hữu nhãn vô ngươi, múa rìu qua mắt thợ, mong Nữ hiệp lượng thứ.

Lam Y giả vờ luống cuống :
- Ấy chết! Công tử và tiểu thư lầm tưởng tôi là Lam Y nữ hiệp.

Hạ Hầu Ánh nhìn nàng mà rằng :
- Không là Nữ hiệp thì là ai nữa? “Khinh thân thuật” thiệt cao siêu. Lúc nặng như Thái Sơn, khi nhẹ như chim Hồng, chim Hộc. Bản lãnh tuyệt vời!

- Tôi đích thị là Lam Anh, đồ đệ của Nữ hiệp. Sư phụ phái tôi tới đây trước và chiều nay người mới đến.
Hạ Hầu Ánh ngạc nhiên nhìn anh, không ai bảo ai mà cùng nghĩ thầm “Đồ đệ mà bản lãnh thế này thì sư phụ chắc ghê gớm lắm!”

Hạ Hầu Hùng nghi ngờ :
- Nữ hiệp trêu giỡn anh em tôi mãi, gia muội trộm Bạch mã không ngoài mục đích được diện kiến tôn nhan.

Lam Y mỉm cười :
- Công tử khăng khăng tôi là Nữ hiệp thì tôi biết nói sao?
Giọng nói thật thà và nét mặt tự nhiên của nàng khiến hai người tin ngay.

Hạ Hầu Ánh nói :
- Bản lãnh chúng tôi còn kém xa tài nghệ môn đệ của Lam Y nữ hiệp thật đáng hổ ngươi. Thế mới biết, Nữ hiệp danh quả bất hư truyền. Từ nay, yêu cầu thơ thơ coi chúng tôi là bằng hữu, đừng dùng danh từ công tử, tiểu thư nữa khiến tôi đắc tội muôn phần.

- Nhị vị ngang hàng với gia sư, tôi đâu dám nhận hân hạnh ấy? Bản lãnh của nhị vị đạt mức cao độ rồi đó, nhiều người không bằng, chớ quá nhún nhường.

Anh em Hạ Hầu mặc áo, mời Lam Y về Mai Hương đình.

Hạ Hầu Ánh hỏi Lam Y :
- Phải chăng đêm qua, Lam thơ thơ đem Bạch mã đi? Để ngựa đâu mà mau lẹ vậy?
- Tôi không đem Bạch mã đi đâu cả. Sư phụ tôi đích thân đến lấy đi, chính tôi cũng không ngờ. Người đến sớm như vậy vì Người hẹn tôi chiều nay mới tới.
- Lam thơ cải trang khéo quá, y hệt thôn nữ xinh đẹp.
- Tiểu thơ cho phép tôi đổi lại y phục.

Dứt lời, Lam Y vào phòng thay áo Hạ Hầu Hùng bảo em gái :
- Giới giang hồ kiếm khách hành động thiệt khôn lường! Ngờ đâu Lam Anh khỏe đến thế! Lúc ghì anh em ta không cất nổi chân khỏi mặt đất, lúc nhấc bổng lên như cầm hai vật nhẹ vậy.

Hạ Hầu Ánh gật đầu :
- Lam Anh đóng vai thôn nữ ngớ ngẩn khéo quá đến nỗi tiểu muội hết ngờ vực ngay từ lúc mới gặp nàng.

Thầy nào trò ấy cũng ghê gớm cả.
Hai người đang mải chuyện trò bỗng có vật gì bay cắm phập vào cánh cửa ra vào.

Cả hai cùng vội chạy ra xem. Hạ Hầu Ánh kêu :
- Ủa, ai liệng Liễu Diệp phi đao thế này?

Hạ Hầu Hùng với tay rút ngọn phi đao xuống :
- Có chữ trắng ở giải đao màu lam đây nè. Coi nào!
Chàng đọc :
- “Lam”. Lam Y cợt ta phóng ngọn phi đao này, kiếm mau, nàng chưa chạy đi xa được đâu.

Dứt lời, Hạ Hầu Hùng chỉ tay vào phòng có ý bảo em coi chừng Lam Anh, đoạn chạy vụt ra sân ngó quanh quẩn, rồi phi thân lên mái đình tìm kiếm.

Hạ Hầu Ánh nhón nhén qua phòng khác ló đầu nhìn căn phòng nhỏ.
Lam Y đã gọn gàng trong bộ võ phục tuyệt đẹp và đang xõa tóc chải đầu, vẻ mặt rất tự nhiên.
Nàng mỉm cười khi thấy Hạ Hầu Ánh ngó vào phòng mình.

- Tôi chải tóc xong sẽ ra ngay. Có việc gì gấp không?
Nét mặt nghi ngờ và sửng sốt của Hạ Hầu Ánh khiến nàng cười thầm, thản nhiên hỏi :
- Kìa, tiểu thơ làm sao đờ người ra vậy? Tinh thần bất an phải không?

Hạ Hầu Ánh lắc đầu. Giữa khi ấy Hạ Hầu Hùng bước tới hất hàm hỏi em.

Hạ Hầu Ánh nói :
- Lúc tiểu muội vào thì Lam Anh đang xõa tóc chải đầu.
Lam Y vờ ngạc nhiên :
- Tôi chải đầu thì sao, hả tiểu thơ? Có điều gì lạ vậy?

Hạ Hầu Ánh hỏi :
- Nãy giờ, thơ thơ có rời phòng này lúc nào không?
- Tôi vừa thay y phục xong, đang chải đầu thì tiểu thơ vào. Chuyện gì thế?

Hạ Hầu Hùng giơ cao ngọn Liễu Diệp phi đao :
- Lam cô nương có nhận ra ngọn phi đao này không?

Lam Y gật đầu không do dự :
- Ủa! Lưỡi phi đao của Lam Y nữ hiệp! Công tử bắt được ở đâu thế?
- Không bắt được ở đâu cả. Vừa đây lưỡi đao do bàn tay bí mật nào phòng cắm phập ở cánh cửa phòng khách kia kìa. Hay là ma quỷ?

Lam Y tự nhiên :
- Chắc Nữ hiệp tới giỡn chơi, lẽ nào có chuyện ma quỷ giữa ban ngày?
- Nếu tôi là nhị vị thì chạy luôn ra ngoài tìm trước, hơn là vào đây.

Hạ Hầu Hùng đáp :
- Tôi tìm kiếm khắp nơi rồi mới vào đây. Thiệt tình, tôi ngờ thơ thơ quá.

Lam Y mỉm cười :
- Trời ơi! Ngờ tôi ư? Công tử coi kìa. Phòng này có hai cửa sổ thì còn đóng kín y nguyên, cửa ra vào ăn thông với phòng khách, không lẽ tôi chui qua ngói sao? Dầu tôi có bản lãnh cao siêu cũng không thể mau lẹ bằng Nữ hiệp.

Dứt lời, nàng bước ra khách phòng, tay bới tóc gài trâm :
- Vết đao của Nữ hiệp đâu?

Hạ Hầu Ánh chỉ vào cánh cửa chạm trổ bên tả :
- Đây này, vết đao sâu lắm.

Lúc bấy giờ, Hạ Hầu Ánh mới nhận ra điều gì lạ và la lên :
- Lam Y nữ hiệp phóng đao thật tài tình! Trúng mắt con ốc chạm nổi.
Hạ Hầu Hùng và Lam Y xúm lại nhìn.

Lam Y tặc lưỡi vờ vĩnh :
- Nói đến tài phóng đao của sư phụ tôi thì tuyệt hảo. Bách phát bách trúng. Bất cứ đứng, ngồi, chạy, nhảy, lộn cũng sử dụng được như thường. Một điều khiến tôi thắc mắc không hiểu vì lẽ gì Nữ hiệp đến Kỳ Hầu Ổ giờ này? Phóng ngọn phi đao xong bỏ đi đâu? Ban ngày, ban mặt, trang trại đông người thế này mà qua lại không ai biết cả, biểu hiện như ma quỷ. Nhiều khi chính tôi cũng khổ sở vì tánh chất bất thường của Nữ hiệp nhị vị ạ.

Anh em Hạ Hầu nghi nghi, hoặc hoặc, bực mình vì bị giỡn chơi như một trẻ nít. Ba người trở vào khách phòng.
Lúc đó, Hạ Hầu Hùng mới chăm chú ngắm kỹ Lam Y thực kiêu hùng trong bộ võ phục màu lam tuyền.

Cả đôi võ ủng ngắn cổ cùng đồng màu với y phục. Màu lam thẫm tôn nước da trắng mịn của nàng không những là trang cân quắc anh thư mà còn đáng bậc thiên hương quốc sắc.

Hạ Hầu Hùng mải miết nhìn khuôn mặt trái xoan đẹp như vị tiên cô trong bức họa treo trên tường khách phòng Mai Hương đình.

Lam Y biết vậy tảng lờ như không. Hạ Hầu Ánh cũng nhìn nàng không chớp mắt. Màu lam quả rất hợp với thiếu nữ kỳ vỹ đang ngồi trước mặt nàng.

Lam tuyền...! Không, đâu có lam tuyền. Đầu giải đai lưng có đường triện màu trắng kia kìa, thiệt là nổi, Lam Anh khéo dùng màu sắc lắm!

Hạ Hầu Ánh chú ý nhìn. A! Không phải đường triện thường! Đó là một dải chữ thêu theo kiểu triện nối nhau ngang đầu hai giải thắt lưng. Nàng cố đọc ra chữ “Y” và đoán ra chữ “Lam” bị gấp lại trông không rõ. Kỳ thiệt! Sao Lam Anh lại thắt lưng thêu triện hai chữ “Lam Y”? Hạ Hầu Ánh nhìn lại một lần nữa suốt từ cặp võ hài gọn gàng lên đến mớ tóc mây huyền ánh.

Bất chợt nàng gặp đôi mắt phượng xênh xếch đang dịu dàng nhìn lại nàng và cặp môi đỏ thắm chúm chím cười. Thôi đích thật rồi! Đích thật Lam Y nữ hiệp đang ngồi trước mặt nàng chớ không phải Lam Anh đồ đệ nào cả. Nữ hiệp đích thân trêu cợt anh em nàng. Bản lãnh của chính Lam Y nữ hiệp mới xuất quỷ nhập thần như vậy chớ!

Nghĩ đoạn, Hạ Hầu Ánh bảo anh lúc đó cũng đang mải miết ngắm nhìn người đẹp quên cả mình là chủ, và vị anh thư nữ kiệt là khách.

- Hiền huynh cố đọc dòng chữ triện trắng ở đầu giải đai lưng sẽ biết đích danh người ngồi trước mặt chúng ta đây.

Lam Y cả cười :
- Bây giờ mới nhận ra hai hàng chữ này ư? Đọc cho rõ đi kẻo lầm nữa.

Nàng vừa nói vừa căng đầu giải lưng cho anh em Hạ Hầu đọc.

Hạ Hầu Hùng la lớn :
- Lam Y! Có thế chứ, tôi ngờ ngay từ lúc mới được diện kiến, nhưng không đủ yếu tố để ghép buộc nên đành phải thôi.

Anh em Hạ Hầu cùng đứng lên vái chào. Hạ Hầu Ánh nói :
- Bao lâu nay nghe đại danh, tôi hằng ao ước được gặp nên mới mạo muội trộm ngựa nối dây liên lạc, xin Nữ hiệp lượng thứ cho.

Lam Y đáp lễ mà rằng :
- Nếu tôi không nhận là Lam Y thì nhị vị tính sao? Đai lưng này của sư phụ tôi đó.
Hạ Hầu Hùng đáp :
- Nữ hiệp cợt chúng tôi thế đủ rồi. Lẽ nào trên đời này đã có Lam Y lại còn Lam Anh nữa...

Lam Y nghiêm nét mặt :
- Nào nhị vị muốn gặp thì nay tôi đã tới, có điều gì dạy bảo không?

Hạ Hầu Ánh nói :
- Nghe đại danh Lam Y nữ hiệp từ lâu, ao ước được kết giao. Nay người không nề hà tới đây, xin mời ở lại tệ trang nghỉ ngơi ít lâu. Hình như có lệnh huynh cùng đi phải không?
- Gia huynh Chu Đức Kiệt hiện ở Thạch Tấn huyện cùng với gia tẩu và một người bạn.

- Để tôi cho tráng đinh lên huyện mời về đây.
- Đừng, mất công. Chiều nay ba người ấy sẽ tới. Tướng công và phu nhân hiện có ở nhà không? Người là hữu quan chăng?
- Gia phụ, gia mẫu hiện có nhà. Cho đến nay, gia phụ vẫn vui thú điền viên sơn dã. Trước kia nội tổ và tam đại có xuất chán Lam Y hỏi :
- Trên Thanh Phiêu thôn có Kỳ Hầu Sơn, quý trang đây là Kỳ Hầu Ổ, vậy có liên lạc gì giữa hai danh từ ấy không?

Hạ Hầu Hùng đáp :
- Kỳ Hầu Sơn chỉ định một loài hầu dị thường. Còn Kỳ Hầu Ổ là do tước Kỳ Dũng hầu của nội tổ Hạ Hầu Thiên khi xưa dày công hạn mã, nên Minh Thành tổ phong tước và cắt đất này cho con cháu Hạ Hầu tập ấm. Bởi vậy mới thành danh từ Kỳ Hầu Ổ.
- A! Thế ra nhị vị là dòng dõi danh tướng, thảo nào võ dũng gia truyền.

Hạ Hầu Ánh mỉm cười :
- Nữ hiệp giễu anh em tôi làm chi?
- Tôi nói thiệt tình dâu dám giễu? Lẽ tự nhiên nhị vị không có công phu khổ luyện như bọn giang hồ chúng tôi, nhưng dòng dõi tướng môn luyện tập được như vậy cũng không phải dễ dàng. Trên đường du hiệp, anh em tôi thường giấu tên tuổi, nhị vị làm thế nào biết được hành tung của chúng tôi.

Hạ Hầu Hùng nói :
- Nữ hiệp còn nhớ đã hành động những gì ở Dương Châu không?
- Có chứ! Quên sao được?
- Một người rất thân với nhị vị đại hiệp đã kể chuyện cho anh em tôi nghe.
- Phải chăng Thiên Lý Mã Tào Chí? Lúc qua Dương Châu tôi ở Tào gia trang.

Hạ Hầu Hùng lắc đầu :
- Không. Cuối năm ngoái, chúng tôi sang Trấn Giang có quen với Phàn Thế Hùng. Tuy mới quen biết nhau nhưng tánh tình họ Phàn hào hiệp nên thành tâm giao. Chúng tôi kể chuyện vụ kỵ mã hội ở Kim Lăng thì họ Phàn nhân đó nói lai lịch vị hiệp khách lúc qua Trấn Giang cả phá Xuân Phong lầu, nào hạ Phi Không Đầu Đà Kim Cương tự ở Dương Châu, hỏa thiêu Xích Hoa viện ở Sơn Phu, và báo thù cho Phàn Mộng Liên em của Thế Hùng.

Lam Y nói :
- Trận đánh ở Kim Cương tự, anh em họ Phàn gia có tham dự. Bởi vậy tên Hắc Đầu Đà trốn thoát, về sau bất chợt gặp Mộng Liên và Thế Hùng ở Trấn Giang nó mới theo dõi ám sát. Mộng Liên trúng độc đao chết.

Tiếc thay! Hồi ấy nếu chúng tôi xuống Thái An huyện sớm độ mười ngày thì cứu được tính mạng Mộng Liên khỏi tay tử thần! Mỗi khi nghĩ tới thiếu nữ bạc số ấy, tôi ân hận thương tiếc vô cùng. Mọi sự chẳng qua tránh không được số trời! Vợ Thiên Lý Mã Tào Chí bên Dương Châu là biểu muội của anh em Phàn gia đấy.

Hạ Hầu Ánh nói :
- Dạ, Thế Hùng nói chính vì cứu người biểu muội ấy mới tìm ra vụ đầu đà Kim Cương tự.
- Họ Phàn được mạnh khỏe không?
- Thế Hùng mời chúng tôi về Thái An huyện chơi. Phàn mẫu và tẩu nương được mạnh khỏe. Lão mẫu nhắc đến nhị vị luôn... À, Thế Hùng còn nói tới một vị hiệp nữ họ Âu Dương hồi đó đi cùng Nữ hiệp mà.

Lam Y gật đầu :
- Vị đó là ái nữ của lão anh hùng Trại Mạnh Thường bên Tô Châu, và là cao đồ Thiếu Lâm tự. Gia huynh đính hôn cùng Âu Dương tiểu thơ hồi cuối năm ngoái. Từ ngày kỵ mã hội Kim Lăng, ba chúng tôi vẫn cùng nhau du hiệp. Lát nữa, gia tẩu sẽ tới. Thiếu nữ hiện thời cùng đi với ba chúng tôi cũng không xa lạ với nhị vị đâu Hạ Hầu Ánh ngơ ngác nhìn anh không hiểu.

Lam Y giải thích :
- Đã dự khán kỵ mã hội tất nhị vị biết mặt Quận chúa Lan Anh.

Hạ Hầu Ánh đáp :
- Có. Hiện thời Quận chúa Lan Anh đồng hiệp cùng với Nữ hiệp đó ư?
- Phải. Chính nàng. Chuyện dài lắm, tôi kể nhị vị nghe.
Lam Y kể lai lịch Nhạc Lan Anh và các vụ lộn xộn trong Vương phủ Kim Lăng cho anh em Hạ Hầu nghe.

Hạ Hầu Hùng nói :
- Trời ơi! Việc xảy ra ở kế bên mà chúng tôi hoàn toàn không biết gì.
Lam Y nói :
- Vụ đó có tánh cách quân sự, bí mật, ai biết được mà nói.

Chiều hôm đó, Chu Đức Kiệt, Âu Dương Bích Nữ và Nhạc Lan Anh dắt Bạch mã đến Kỳ Hầu Ổ cho Lam Y nữ hiệp. Lam Y giới thiệu, mọi người hân hoan mừng rỡ.

Anh em Hạ Hầu mời bốn người lên đại sảnh ra mắt song thân là Hạ Hầu Đồng và Từ thị phu nhân. Thấy con gặp bạn anh hùng hào kiệt. Hạ Hầu tướng công vui mừng vô hạn, giữ Tam hiệp và Nhạc Lan Anh ở lại Kỳ Hầu Ổ.

Khu này, cảnh sắc phong quang đẹp mắt, nhân không có việc gì gấp bốn người vui vẻ nhận lời lưu lại Kỳ Hầu Ổ ít lâu, ngày ngày cùng cha con Hạ Hầu thao luyện, đàm luận cổ kim, hoặc vào núi săn bắn thú rừng.
Anh em Hạ Hầu bấy giờ mới trông thấy Thất Tinh đao, Thái Dương kiếm, và thanh Trảm Lư của Tam hiệp. Hai người trầm trồ khen ngợi, ao ước có được một bảo vật như thế.

Hạ Hầu Hùng nói :
- Nội tổ tứ đại tôi có để lại một cây trường kiếm đã từng giúp Người xông pha chinh chiến, lập nhiều kỳ công, uống máu Nguyên quân không biết bao nhiêu mà kể. Thanh kiếm đó có tốt, nhưng so với mấy bảo vật này còn kém xa một vực một trời. Để tôi lấy xuống các vị coi.

Lát sau Hạ Hầu Hùng cầm thanh trường kiếm vỏ đồng bọc da cá sấu đặt trên bàn.

Lam Y đỡ lấy đọc chữ “Kỳ Dũng Hầu” nạm ở chuôi kiếm. Nàng hỏi :
- Ba chữ này hình như được nạm vào chuôi kiếm sau khi quân binh của Minh Thái Tổ đã bình định xong Trung Quốc?

Hạ Hầu Hùng đáp :
- Chính vậy, tuy đuổi quân Mông Cổ ra khỏi lãnh thổ, song gia tổ cũng còn chinh phạt các phiên trấn lúc đó còn lưu luyến Nguyên triều, mấy năm sau mới hoàn toàn được hưởng thái bình.

Lam Y rút trường kiếm ra coi, lấy khăn lau hết lớp dầu bôi trên lưỡi kiếm. Nàng nhìn kỹ rồi đưa cho mọi người luân tay coi.

Chu Đức Kiệt hỏi Hạ Hầu Hùng :
- Lưỡi kiếm này không bôi dầu thì bị han sao?
- Để lâu sẽ bị han tuy không đến nỗi han dễ dàng như thứ thép thường.

Lam Y nói :
- Lưỡi kiếm có vết mài tức là sử dụng nhiều, thép trui không đúng mức độ nên bị lụt. Để lâu bị han tức là thép không nguyên chất. Chẳng như những thanh báu kiếm, dù ngâm vào trong nước hay chôn xuống đất ướt ẩm bất kể thời gian cũng không bao giờ bắt han; chém những vật rắn chắc dễ như chẻ tre và lưỡi vẫn sắc bén thổi sợi tóc đứt như thường.

Hạ Hầu Ánh nói :
- Người xưa đúc nổi những thanh báu kiếm dẻo sắc như gỗ, chắc phải có thuật pháp khác người gì?
Lam Y mỉm cười :
- “Không! Phương pháp thì có nhưng làm gì có chuyện tà thuật hay tiên thuật. Như ba thứ võ khí của chúng tôi, chỉ có thanh Trảm Lư hùng kiếm là được đúc từ thời Xuân Thu Chiến Quốc.

Thanh Thất Tinh đao và Thái Dương kiếm cũng là hai món báu khí đúc ngay trong thời đại này, chém sắt đá như chém bùn, chém sinh vật không hề vấy máu, so sánh về phẩm đâu có thua sút thanh Trảm Lư.

Trái lại về hình thức, cân lượng hai thanh Thái Dương và Thất Tinh còn mỹ thuật cân đối hơn cây Trảm Lư. Tại sao? Vì kỹ thuật gia hiện đại, biết cách bổ khuyết những cái thiếu sót của người xưa. Tôi dám nói chắc chắn như vậy là vì ngươi tạo ra Thái Dương kiếm không phải ai xa lạ, mà là thúc phụ của tôi. Hạ Hầu hiền muội thử sử dụng thanh Trảm Lư, sau đó cầm Thanh Thái Dương kiếm xem thế nào”.

Hạ Hầu Ánh liền rút Trảm Lư kiếm chém ngang, lia dọc, hoa lên mấy đường, đoạn tra vào bao trả Âu Dương Nữ, và rút thanh Thanh Thái Dương đi thử vài thế.

Nàng thâu kiếm, gật đầu mà rằng :
- Quả vậy. Thanh Trảm Lư hơi hẹp đầu mũi kiếm một chút, trái lại Thái Dương kiếm cầm rất vừa tay.
- Chuôi Thái Dương kiếm dài hơn, cầm vừa tay. Chuôi cây Trảm Lư hơi rộng ngang, nếu không có bản lãnh, người sử dụng dễ bị đánh bật kiếm.
- Nhưng thôi, được thanh Trảm Lư cũng là việc thế gian hãn hữu rồi. Nếu là Âu Dương thơ thơ, tôi sẽ đổi hai miếng đáp ở chuôi kiếm cho dài ra và gọn lại.

Chu Đức Kiệt nói :
- Thanh Trảm Lư báu ở phẩm là một chuyện không chối cãi được rồi, nhưng nó còn “quý” ở chỗ cổ. Nếu thay đổi đi thì còn gì đáng quý nữa.

Hạ Hầu Hùng nói :
- Tôi đồng ý với Chu đại ca, không nên sửa đổi cán thanh Trảm Lư. Vả lại đánh bật được kiếm ở tay Âu Dương thơ thơ thiết tưởng không phải dễ.

Lam Y đăm chiêu nhìn mọi người :
- “Ba thứ bảo vật này toàn là thứ “Xuy Mao Kiếm” (thổi tóc đứt qua lưỡi kiếm) chặt sắt như bùn, kiếm sắc như thu phong, kiếm khí như băng tuyết, kiếm thanh như sấm động, kiếm quanh như điện chớp.
Bất cứ đao hay kiếm, phải đủ bốn thứ Sắc, Khí, Thanh, Quang như thế mới có thể gọi là báu vật được.

Nghe những câu chuyện hoang đường về đúc kiếm báu mà phát tức cười. Đại thể như dùng ba trăm mạng hài nhi bỏ vào lò đúc kiếm, hoặc luyện kiếm đến nỗi mất một con ngươi mới thành báu kiếm. Thật ra luyện kiếm có phương pháp hẳn hoi, và đòi hỏi nhiều công phu lớn lao, khó khăn hơn cả câu chuyện hoang đường quái đản, tuy không ghê rợn khủng khiếp bằng”.

Hạ Hầu Ánh hỏi :
- Sao ba vị không theo lệnh thúc học phương pháp đúc bảo kiếm có hơn không?

Chu Đức Kiệt đáp :
- Có chớ! Hiện chúng tôi đang nghiên cứu về thuyết pháp và chỉ có thể thực hành được sau khi đã du hiệp đầy đủ khắp mọi nơi như thúc phụ khuyên bảo.

Tam hiệp, Nhạc Lan Anh rất tâm đầu ý hiệp với anh em Hạ Hầu, ở lại Kỳ Hầu Ổ chơi thấm thoắt được trên mười ngày.

Một hôm, Lam Y từ tạ, xin phép lên đường về Tô Châu.

Anh em Hạ Hầu cố giữ không được, đành lưu mọi người lại một ngày làm tiệc linh đình tiễn hành, có cả Hạ Hầu tướng công và phu nhân dự.

Âu Dương Nữ nói với họ Hạ Hầu :
- Bữa nào bá phụ, bá mẫu và nhị vị huynh muội đây qua Tô Châu chơi thưởng ngoạn, thế nào cũng mời đến tệ trang Âu Dương nghỉ ngơi.

Tướng công Hạ Hầu Dũng gật đầu :
- Thế nào cũng có chuyến tôi đến yết kiến Trại Mạnh Thường lão huynh, nhờ nhị vị hiền điệt chuyển lời chào của tôi lên lệnh phụ.
- Dạ tiểu nữ sẽ y lời.
- Và chừng nào các hiền điệt qua đây cũng vui lòng ngừng gót giang hồ ở lại Kỳ Hầu Ổ cho chúng tôi được rước khách anh hùng.

Tam hiệp khiêm tốn từ tạ lên đường. Anh em Hạ Hầu tiễn lên đến Thạch Tấn huyện.
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 1
 
Posts: 687
Joined: Wed Nov 23, 2011 5:39 pm
I am: Reader

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp

Postby Editor 1 » Thu Jul 17, 2014 8:52 pm

Lam Y Nữ Hiệp
Tác Giả: Tề Phong Quân
Dịch giả: Trường Giang Mạnh Vũ

Hồi 39


Nhận giúp Thiết Xích, Tam hiệp qua đất Trường Sa
Giòng sông Lăng Lý, Cửu quái lộng hành Hoang Địa



Bốn người lên đường về hẳn Tô Châu. Nhưng đường vòng Thạch Tấn huyện không dẫn thẳng đến đại trấn mà đi vào lối sau Tam Môn cốc.

Khi gần tới nơi, Lam Y nhìn quanh :
- Cảnh vật nơi đây y hệt lối vào Tam Môn cốc nhỉ?
Âu Dương Bích Nữ chỉ roi ngựa vào mấy phiến đá lớn chồng lên nhau :
- Thì hẳn hoi là Tam Môn cốc rồi, hiền muội coi cái thạch môn thiên nhiên kia kìa. Không nhận ngay ra là vì chúng ta đi ngược chiều. Lối này rẽ tay hữu qua Hàn gia trại. Lối tay tả qua ngay trước cổng Địch gia trại và về trang trại nhà...

Chu Đức Kiệt nói :
- Phải rồi, trên đường từ Thạch Tấn về đây ta thường gặp các ngưu trại cực lớn. Ngu huynh còn nhớ Địch, Hàn hai Trại chủ đã có lần nói rằng các lái trâu phần nhiều từ Lữ Châu và Vũ Hồ đến, tất kéo qua đường này. Và hai trại Địch, Hàn là chặng cuối cùng trước khi tiêu thụ các giống vật đó vào Tô Châu và các vùng lân cận.

Vừa đi vừa chuyện trò, không mấy chốc bốn người đã sắp qua cổng Địch gia trại.

Lam Y hỏi ý kiến mọi người :
- Có vào thăm Địch Phượng Tiên không? Hay là để khi khác...
Chu Đức Kiệt nói :
- Nên rẽ vào trước là thăm họ Địch, sau là xem anh em chàng họ Dương đã về đây chưa hay lại lang thang nơi nào rồi.
Âu Dương Bích Nữ cười ròn rã :
- Gặp y ở Vũ Hồ, tiểu muội giật mình, không ngờ y lại lang thang mò mẫm vào nơi hẻo lánh ấy để nhận xét từng cử chỉ của giống cáo nhị thể, và lần đường ra Củng gia điếm uống thứ rượu ngon Sơn Phu.
Lam Y góp ý :
- Bà vợ tánh nhanh nhẹn, nóng nảy như Địch Phượng Tiên đâm bực mình, tưởng lầm ông chồng quá ưu điềm đạm ấy là phải?
- Chắc bây giờ họ hiểu nhau rồi! Lúc tái hội, cả hai cùng có cảm tưởng như bắt được bảo vật.
Chu Đức Kiệt mỉm cười :
- Dương Hoài Ngọc có lầm lỳ ra đi như vậy, Địch cô nương mới biết chân đức tính tình của vị hôn phu đáng giá ấy chớ

Âu Dương Bích Nữ âu yếm nhìn Đức Kiệt :
- Phải các ông hay binh nhau lắm. Có ở vào địa vị Địch Phượng Tiên mới hiểu được nàng. Điềm đạm tùy trường hợp thôi chứ.

Chu Đức Kiệt điềm nhiên :
- Chu tầm mã, mã tầm mã, bởi ngu huynh không điềm đạm nên mới lấy vợ nóng tính... Kỳ vừa rồi ở Kim Lăng, không biết ai mấy lần sôi nổi đòi đánh Đường Trại Nhi.
Lam Y và Nhạc Lan Anh phá lên cười.
Âu Dương Bích Nữ đỏ mặt :
- Nói tới đó, bây giờ tôi còn muốn xé đôi nó ra, đừng nói khi ở Kim Lăng.
Vừa khi ấy, Địch Phượng Tiên đon đả từ trong trại chạy ra đón chào :
- Gớm thật! Nếu không đứng trên đại sảnh trông thấy thì các vị cũng đi qua phải không.
Bốn người cùng xuống ngựa. Lam Y giới thiệu Nhạc Lan Anh rồi nói :
- Đâu có, chúng tôi đang muốn vào thăm đây, Độ này Địch muội mập dữ đa.
Phượng Tiên đáp :
- Vẫn thế chớ mập gì. Chiều rồi, quý vị nghỉ lại đây nhé.

Không chờ nữa, nàng sai gia nhân tháo hành lý đem lên đại sảnh và dắt ngựa vào tàu cỏ. Chu Đức Kiệt ý tứ nhìn Âu Dương Bích Nữ nói nhỏ.
Sắp về đến nhà rồi, còn nhủ đò lại đây. Lam Y thiệt khéo đa sự.

Âu Dương Bích Nữ vui vẻ :
- Cô muội hành động phải rồi. Hiền huynh khó tánh làm chi? Cố rán đi thì cũng phải cuối giờ Hợi mới về tới nhà. Sáng mai thanh thản về trang có hơn không?
- Ngu huynh e hiền muội xa nhà lâu, nhớ lão mẫu chớ.
- Về khuya Người cũng đi nghỉ rồi, chẳng nói chuyện được nhiều.
Quay sang Lam Y, Âu Dương Bích Nữ nói nhỏ :
- Cô muội đoán thử coi họ Dương về Địch gia trại chưa.
Lam Y cười khúc khích :
- Phượng Tiên không hỏi chúng mình ở đâu về tức là biết ta ở Vũ Hồ do Dương Hoài Ngọc kể lại rồi.
Phượng Tiên đang nói chuyện với Nhạc Lan Anh bỗng quay lại hỏi :
- Nhị vị thơ thơ nói gì đến Dương lang vậy? Chàng ra Tô Châu có lẽ cũng sắp về.
Lam Y nói :
- Địch muội không đi theo giúp Dương đại ca, lỡ bị Hàn Gia Tam Mã trêu chọc thì sao?... À, thảo nào, đứng trên sảnh chờ hôn phu nên Địch muội mới trông thấy chúng ra đi qua cổng trại. Gớm thật.
Phượng Tiên nguýt dài :
- Thơ thơ giỡn hoài. Tiểu muội cám ơn món quà da cáo nhị thể nhé. Thiệt đẹp.
Vào đến đại sảnh, Phượng Tiên sai a hoàn dọn dẹp mấy căn phòng ngủ và sửa soạn tiện nghi cho mọi người tắm táp, thay y phục đường trường bụi bậm.
Lúc bốn người trở ra thì Phượng Tiên đã thắp đèn, dọn thồi, ghế ra sân trước mời ngồi nghỉ mát dưới ánh trăng mười bốn.
Thị nữ dâng trà vừa được một tuần thì Địch trại chủ, Dương Hoài Ngọc và Lâm Diêm Bá cưỡi ngựa về tới trại.
Thấy họ Dương cỡi con tuấn mã kiêu hùng, Chu Đức Kiệt hỏi Phượng Tiên :
- Dương đại ca cưỡi con tuấn mã nào mà kiêu dũng thế này?
- Thưa con Lôi Điện mã. Toàn trại này không ai cỡi nổi nó. Vậy mà Dương lang im lìm, giấu diếm, lặng lẽ bỏ đi sau khi đã khắc phục được con hung mã ấy.
Địch, Dương, Lâm phóng ngựa vào tới giữa sân, nhảy xuống đất cùng mọi người chào mừng vui vẻ.
Chu Đức Kiệt hỏi Địch Lân :
- Bao giờ lão bá cho uống rượu mừng đây?
Địch Lân nói đỡ :
- Tam hiệp mới từ Kỳ Hầu Ổ bên Thạch Tấn huyện về qua đây, con mời nghỉ lại nên chưa biết việc hồng thiệp.
Lam Y vỗ vai Phượng Tiên :
- Định ngày nào đây? Chúng tôi về gặp dịp náo tân phòng.
Phượng Tiên đỏ mặt :
- Ngày hai mươi hai tới đây. Quí vị sửa soạn lễ mừng đi thì vừa.
Nhạc Lan Anh nói :
- Tôi ở giữa nói trung gian. Nếu Tam hiệp không cố tâm khuyên nhủ và gởi gắm Dương đại huynh về Tô Châu với Âu Dương Tòng Đức đại huynh, thì có lẽ giờ này Dương huynh còn nằm khàn ở Vũ Hồ để khảo cứu môn địa lý học vùng đó. Vậy mấy ngày nữa, tân lang và tân giai nhân phải đền ơn Tam hiệp bằng bữa rượu túy lúy càn khôn.
Địch Phượng Tiên phân bua :
- Trước các nhân chúng đấy nhé. Tôi hỏi Dương lang vào Vũ Hồ làm gì và tại sao không về Tam Môn cốc, thì vị hôn phu của tôi trả lời rằng vào Vũ Hồ để... đi tĩnh dưỡng tinh thần.
Dương Hoài Ngọc im lìm nhìn Phượng Tiên cười. Mọi người cười theo.
Tối hôm ấy, Phượng Tiên truyền gia nhân dọn bữa ăn ngoài sân hóng gió. Dương Hoài Ngọc hỏi Tam hiệp có qua Củng gia điếm uống rượu khi lên đường đi Tô Châu không, thi Chu Đức Kiệt đem việc gặp Củng Thuận, Trần Nhị, Lam Y bắt mãnh hầu và vụ lấy lại Bạch mã bên Kỳ Hầu Ổ cho mọi người nghe.
Sáng hôm sau, Tam hiệp và Nhạc Lan Anh từ giã ra về. Địch Phượng Tiên gởi lời Âu Dương Bích Nữ thăm Tòng Cát phu nhân.
Về tới Âu Dương trang, bốn người vào ra mắt lão anh hùng Trại Mạnh Thường thì thấy cả Đức Võ Thượng Nhân ngồi đó rồi.
Bốn người cung kính quỳ lạy.
Thượng nhân nói :
- Ta mới tới Tô Châu sáng nay. Các con khá vào chào Âu Dương phu nhân đi.
Bốn người vào cả hậu đường. Âu Dương phu nhân và Phượng thái ngồi cả ở hậu sảnh. Vợ Tòng Cát đang khâu áo ngồi gần đó. Vương nhũ mẫu và bốn a hoàn thân tín của Lan Anh cũng lên chào mừng.
Trình diện xong, Lam Y thấy Âu Dương phu nhân chăm chú nhìn Nhạc Lan Anh bèn đưa mắt ra hiệu cho Âu Dương Bích Nữ.
Phu nhân nói :
- Nghe nói Đức Võ Thượng Nhân mới ở Yên Kinh xuống, chắc có nhiều tin lạ, các con ra đại sảnh xem thế nào, lát nữa sẽ vào đây cho già hỏi chuyện nhé.
Anh em Tòng Cát nghe nói Tam hiệp đã về kéo nhau hội diện và cùng ra đại sảnh.
Nhạc Lan Anh băn khoăn muốn biết tin Thuận Vương hồi kinh sư thế nào, nhưng không dám hỏi ngay.

Thượng Nhân biết ý bảo ngay :
- Lan Anh, con muốn biết tin của Thuận Vương không?
Nàng bẽn lẽn cúi đầu chờ. Thượng Nhân nói tiếp :
- Chuyến về kinh, đoàn xe chở Thuận Vương và gia đình bị cướp vây đánh ở trong đất Trực Lệ, may nhờ đoàn quân của Tổng binh Bảo Định vừa dịp kéo qua đó cứu kịp không hề chi. Về tới kinh sư, có lẽ vì ăn năn hối lỗi, Thuận Vương tự ý khấu đầu vào cung nhận tội. Vĩnh Lạc hoàng đế vốn tánh nhân từ chỉ trách mắng một hồi rồi cho ra ở nơi Vương phủ cũ ngoài Hoàng thành. Nói tới đây, ta cần nhắc cho các con nghe một chuyện động trời đã xảy ra trong biệt điện Khánh Hòa mới tỏ được đức tánh cao cả, nhân lượng bao dong của vị Minh quân.
Thượng nhân kể vụ Tề Quân Bảo bất ngờ gặp hai đầu đà ở tiệm thịt cầy bên Lư Cầu kiều cho đến vụ chúng đột nhập Khánh Hòa điện và bị chết như thế nào, và nói tiếp :
- Căn cứ vào vụ mưu sát hụt nhà Vua, các con đủ thấy Thánh thượng nhân đức tới mức độ nào khi tha thứ cho Thuận Vương? Hồng phúc của Minh quân rất lớn mới xui ra việc Tề Quân Bảo tò mò theo hai đầu đà, do đó ta mới kịp cứu giá.
Lam Y nữ hiệp hỏi :
- Thưa thúc phụ, còn việc Thái sư Trần Chí Hòa ra sao.
Trại Mạnh Thường rót trà mời, Đức Võ nhắp ly trà nóng hỏi :
- Tội trạng của Trần Chí Hòa khắc và nặng hơn Thuận Vương nhiều. Y là văn quan vào hàng nhất phẩm triều đình, quan cao chức trọng, hơn nữa y còn là hàng quốc phụ vì con y được nạp vào cung. Biết Thuận Vương mù quáng vì mối thù vô nghĩa muốn tạo, mà họ Trần vẫn thông đồng để hòng địa vị gì? Như vậy là bất trung, bất trí, con người đó dùng sao được? Thay vì tội lăng trì, tru di tam tộc, nhà Vua đầy y và toàn gia ra Thanh Hải. Tây cung Trần phu được hoàn về tới gia đình... Thế là nhẹ lắm, đáng lẽ phải biếm lãnh cung.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Hai hàng quan Văn, Võ có vị nào vị truy tố về tội bè đảng với Thái sư gian nịnh không thúc phụ?
- Có. Hình như Thượng thư Đặng Đá Báy, Ngự sử Triệu Công Hà và mấy viên quan hạ cấp nữa, đầy theo Trần Chí Hòa.
Lam Y nói :
- Như vậy chúng an tâm lập riêng một trào ngoài trại đấy.
Thượng nhân nói tiếp :
- Em Thuận Vương là Tuần phủ Trường Sa Chu Vĩnh An cũng bị triệu về Kinh, thay thế bởi chân Trạng nguyên Hoàng Kinh Tuấn trước đây tòng sự tại Binh Bộ phủ. Ngoài ra còn một số quan liêu tại mấy tỉnh thuộc vùng Giang Nam, bị tình nghi bè kết với Thuận Vương đều bị thuyên chuyển đến các địa điểm xa xôi và đặt trực thuộc dưới quyền chỉ huy của những người khác. Với sự thuyên chuyển này, Vĩnh Lạc hoàng đế hoàn toàn tẩy uế vấn đề triều chính.
Lam Y hỏi :
- Vị nào được thay Trần Chí Hòa, không thấy thúc phụ nói tới.
Thượng Nhân chậm rãi :
- Vấn đề này rất tế nhị. Ta phải hỏi lại xem các con còn nhớ môn sử học mà các con đã học khi còn ở Cửu Huyền sơn không.
Lam Y đưa mắt nhìn Chu Đức Kiệt đoạn nói :
- Xin mời thúc phụ cứ dạy, may ra chúng con còn nhớ.
- Minh Thành Tổ lập quốc xong, vị Tể tướng tên gì và sau này làm gì.
Không do dự, Lam Y đáp :
- Tể tướng là Hồ Duy Dung nhưng mười ba năm sau Duy Dung mưu phản bị Minh Thành Tổ bắt hành quyết. Sau này... sau này...
Lam Y khẽ hất hàm ra hiệu nhờ Chu Đức Kiệt nhắc.
Đức Võ Thượng Nhân mỉm cười :
- Lam Y quên rồi, phải không? Đức Kiệt nói tiếp được không?
Đức Kiệt thưa :
- Vị Thái sư Tể tướng thuộc bộ Trung Thư tỉnh, nên nhân thấy Hồ Duy Dung chuyên quyền mưu phản, vua Thái Tổ bèn bỏ luôn chức thừa tướng để tránh sự chuyên quyền.
Việc triều chính chia cho lục bộ chuyên hành do Nhà vua cầm đầu, và có Điện các Đại học sĩ làm cố vấn. Nhờ sự cải tổ ấy, Thái Tổ kiểm soát được hết việc triều chính và tránh được sự đại thần chuyên quyền. Không hiểu tại sao Vĩnh Lạc hoàng đế, chức Thái sư Tể tướng lại thành thể chế.
Đức Võ Thượng Nhân gật đầu bảo Đức Kiệt :
- Ta biết con nhớ sử học và Lam Y quên là vì trong khi con chịu khó ngồi đọc sử, Lam Y vào rừng hái trái, bắt chim thú đem về miếu nướng ăn.
Mọi người tủm tỉm cười nhìn Lam Y.
Thượng Nhân nói tiếp :
- Vì vụ Trần Chí Hòa Vĩnh Lạc hoàng đế lại áp dụng thể chế bỏ chức Thái sư. Sở dĩ trước đây chính Thái Thượng đặt lại chức Thái sư để tránh việc hoạn quan có người kiểm soát khỏi chuyên hoành. Nay nhà Vua xét không cần thiết vì Tổng thái giám Lý Tuyên là người trung trực. Bởi vậy, Người mới áp dụng chế độ của Tiên Vương.
Nhà vua còn lập cả một chương trình lớn lao cải cách binh bị, bởi vậy triều Tổng trấn Tứ Xuyên Hà Thiên Thọ về họp bàn cùng Nguyên soái Mã Thành Long, Tổng binh Hà Bắc trương phụ, Phó tổng binh Mộc Thạnh. Đại diện Thủy quân có Thủy sư Đề đốc Đàm Bá Phục và Đề đốc Trịnh Hòa. Trịnh Hòa do chân Thái giám xuất thân, rất giỏi về Thủy quân, đóng binh ở Thanh Đảo duyên hải Sơn Đông.
Mã Thành Long đặc thăng Toàn quốc Đại nguyên soái kiêm tân chức Điện các đại học sĩ cố vấn của Hoàng đế ở hẳn tại Bắc Kinh.
Triệu Tấn phó soái đạo quân miền Bắc lên thay thế cho họ mã. Mã Thành Hổ thay Triệu Tấn giữ chức Phó soái, Mã Thành Báo lãnh ấn tiên phong cùng anh ở nguyên đơn vị.
Hà Thiên Thọ chức vị đã cao, giữ nguyên chức cũ Tổng trấn Tứ Xuyên, nhưng hai con Hà Thiên Tường, Thiên Khánh được tập ấm điều khiển đạo quân Tây nam.
Nhạc Lan Anh thắc mắc về việc Thái tử Chu Trấn Quốc và Bảo Quốc, bèn hỏi Thượng nhân về sự định đoạt của Triều đình.
Thượng nhân đáp :
- Đàm Bá Phục ở nguyên bộ vị cũ vì chức cao. Riêng về phần Kim Lăng, Thánh thượng còn đang lựa quan chức bổ nhiệm. Theo như sự hiểu biết của Mã Thành Long thì người được tuyển lựa trấn Kim Lăng sẽ là một văn quan.
- Họ Mã tuyên dương đức độ và lòng trung hiếu của Trấn Quốc, Bảo Quốc nên hình như hai người đều được ở lại Kim Lăng phụ tá về mặt binh bị cho vị tân quan.
Khi Mã Thành Long nói vậy tức là đã có phần nào chắc chắn, điệt nữ khá an tâm.
Trại Mạnh Thường góp ý :
- Triều đình đặt Trấn Quốc, Bảo Quốc vào chức phụ tá binh bị Kim Lăng thiệt rất tâm lý, vì hai thành niên ấy thông thuộc đất và dân tình Kim Lăng. Riêng phần bộ đội cũng dễ điều khiển.
Lam Y bảo Nhạc Lan Anh :
- Hiền muội mãi hỏi thăm tin tức người nọ người kia, quên cả tin riêng cho chính mình. Lẽ nào hiền muội bỏ gia đình Thuận Vương đi một cách suôn sẻ thế được.
Thượng Nhân gật đầu mà rằng :
- Lam Y nói phải. Nhất nhất mọi việc thuộc vụ Kim Lăng, tánh chất hành động của từng người một đều được Mã Thành Long ghi chép rõ ràng trong bản tường trình lên nhà vua :
- Nhạc điệt nữ có sắc phong, chưa biết phong như thế nào. Chính Hoàng đế thân yêu cầu ta về đây báo cho lão hữu Trại Mạnh Thường cùng toàn gia, Tam hiệp, Nhạc Lan Anh phải tề tựu cả ở Âu Dương trang chờ Thánh chỉ sẽ tiếp tới ngay. Đáng lẽ từ Yên Kinh, ta vào Thanh Hải đến núi Côn Luân có việc ngay, thành thử phải xuống đây để báo cáo vụ Thánh chỉ sắp tới đây :
- Sáng nay, lúc mới tới trang trại, lão hữu Trại Mạnh Thường nói các con chưa về, ta đã lo lỡ cuộc tiếp rước thánh chỉ.
Lão anh hùng cười và bảo các con :
- Hồi nãy, Thượng Nhân lúc mới đến bí mật không hé lời, nay chờ đông đủ mọi người mới chịu tuyên bố kết quả vụ Kim Lăng. Các con liệu sửa soạn trang hoàng cho nghiêm chỉnh căn đại sảnh để tiếp Thánh chỉ, tiệc rượu đãi khâm sai quan và phòng ốc cho đại quan ngủ lại một đêm.
Nói đoạn, lão anh hùng hỏi Lam Y :
- Vừa rồi, từ Kim Lăng vào Vũ Hồ, dọc đường gặp những chuyện gì mà bây giờ điệt nữ mới về.
Lam Y kể lại vụ cứu thiếu nhi họ Vương ở Củng gia điếm và gặp họ Hạ Hầu cho mọi người nghe.
Nàng nói tiếp :
- Lúc về qua Tam Môn cốc, chúng con mới hay vụ báo hồng thiệp mối duyên Dương Hoài Ngọc, Địch Phượng Tiên sắp tới đây.
Trại Mạnh Thường gật đầu mà rằng :
- Các con khỏi phải lo về vấn đề lễ vật. Lão phu đã sửa soạn đủ. Ngày mai sẽ cho người đem sang Địch gia trại mừng. Các con mới đi xe về, liệu nghỉ ngơi mai mốt đón rước Khâm sai quan.
Tam hiệp rủ Nhạc Lan Anh ra nhà ngoài. Tòng Cát, Tòng Đức cũng theo ra. Âu Dương Bích Nữ hỏi riêng Tòng Đức :
- Nhị huynh về trước đã sửa soạn tư phòng cho... Nhạc tiểu thư chưa.
Tòng Đức nói :
- Phòng của Lan Anh ở kế bên phòng hiền muội. Vương nhũ mẫu cùng ở với nàng như trước.
Chờ anh em Tòng Cát, Tòng Đức đi khỏi, Âu Dương Bích Nữ và Lam Y dẫn Lan Anh về phòng của nàng, đoạn rủ Lam Y vào hậu đường nói chuyện với phu nhân về vụ Tòng Đức, Lan Anh.
Tối hôm ấy, anh em Chu gia đến trại phòng hầu riêng Đức Võ Thượng Nhân.
Thượng Nhân nói :
- Tuy rằng các con không màng danh vọng, quan tước, nhưng ta khuyên chẳng nên khinh thường Thánh chỉ. Dầu sống theo lẽ phải, tự nhiên con người ta phàm sanh ra ở đời phải có Quân, Sư, Phụ làm đầu. Thánh Tổ Vĩnh Lạc là một vị anh quân. Hai con tin ở ta tâm lý nhiều biết người. Vậy ta đã có dịp ngày đàm đạo cùng Nhà vua, diện đối diện, Vĩnh Lạc là con người đáng phục, đáng kính. Nếu được mục kích lối cải cách triều chính thiệt mau lẹ của nhà vua kỳ vừa rồi, tất hai con sẽ nghĩ như ta. Chuyến trước kia, lão hữu Trại Mạnh Thường có kể lại các hành động nghĩa hiệp của hai con, Nhà vua đã có ý dời hai con vào bệ kiến. Nghe lời phúc trình của Mã Thành Long, Thánh thượng càng mong gặp mặt nên nhắn ta dời hai người về Kinh. Ta nghĩ Thành chỉ tới đây không ngoài mục đích đó.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Thúc phụ có chuyện chi cần vào Côn Luân?
- Năm kia, ta lên Côn Luân sơn một lần rồi. Cảnh sắc nơi ấy thiệt là thần tiên y nhã hơn Cửu Huyền sơn gấp bội. Về địa thế cũng lợi hơn. Nếu một mai xảy ra chuyện can qua với các rợ người cửa quán, sự liên quan với Quan nội sẽ bị cắt đứt. Riêng cá nhân ra không ngại. Tuy vậy là một vấn đề phiền phức đáng cho ta lưu ý. Cho nên ta định tâm dời mộ phần Huyền Vân trưởng lão trên Bạch Sơn Miếu về nơi ta đã lựa chọn ở Côn Luân sơn. Ta mong có dịp cùng các con vào dãy núi hữu danh ấy thăm viếng.
Lam Y nói :
- Thúc phụ muốn lập căn cứ tu hành tại Côn Luân sơn là sự rất hợp lẽ, dầu sao cũng cần phải xây dựng cho đủ tiện nghi. Vậy vấn đề thợ thuyền ra sao? Chúng con có đủ tài chính cung cấp thi hành việc đó.
Thượng Nhân suy nghĩ giây lát :
- Con khỏi lo. Để đền ơn cứu giá, Hoàng đế đã ngỏ ý dựng trên Côn Luân sơn một ngôi đại tự theo bản đồ của ta. Chừng nào ta hoàn thành bản đồ xây dựng, Nhà vua sẽ tức tốc hạ lệnh cho quan thủ trấn Thanh Hải lấy công khố ra thi hành. Hiện thời, trên ngọn núi chánh của dãy Côn Luân đã có sẵn ngôi Bích Vân tự, không hiểu xây từ đời nào bằng đá, rộng rãi. Ta nhận xét kỹ rồi, chỉ cần trùng tu, mở rộng thêm chút ít nữa thì hoàn toàn.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Hiện thời, ai trụ trì tại ngôi cổ tự ấy? Hay bỏ hoang?
- Hoang phế từ lâu rồi, lá khô chồng chất. Có một điều lạ là mái ngói không hề suy chuyển với thời gian hoang phế. Sàn nhà và các cây rui hoàn toàn bằng thứ “Thiết Mộc” khô đanh lại, rắn chắc như đá. Cây đó có trong rừng rải rác khắp dãy núi, nhưng phải thiệt vào sâu mới thấy. Công trình kiến thiết của cổ nhân vĩ đại thật, tinh xảo. Phải qua một cái động đá mới vào tới cổng Bích Vân tự. Suối nước chảy ngang qua sân chùa thiệt kỳ vỹ.
- Thưa đấy thuộc về phủ, huyện nào? Có thôn ổ gì không?
Dãy Côn Luân sơn thuộc đất Lương Châu, Tiêu Dương huyện Giang Mã, Tiêu Giang lẩn quất, khi ẩn khi hiện dãy dọc theo dãy núi liên miên nhấp nhô tới một nơi có năm ngọn núi cao ngất, thiên hiểm mà người cùng đó gọi là Ngũ Ngọc sơn. Nghe thế biết vậy, lúc ta lên ngọn núi chánh của dãy Côn Luân sơn là nơi có Bích Vân tự mới hiểu dân chúng chỉ biết truyền khẩu, thiệt ra cổ nhân đặt tên Ngũ Ngọc rất đúng. Đứng ở Bích Vân tự nhận ngay ra ba phía có ba trái núi thấp hơn Côn Luân sơn ở chính giữa, vòng ra phía sau núi thấy ngọn thứ tư và dãy núi lại liên tiếp mịt mù ăn tréo sang phía Tây.
Bởi lẽ khu ấy có năm núi rất rõ rệt nên thành tên Ngũ Ngọc Bích Vân tự trông thẳng ra hướng Đông nam. Ngay phía Đông, án trước Côn Luân sơn là một trong bốn trái núi rải rác chung quanh. Ngay chân núi có Kim gia ổ, Dân Kiều gia gọi là Đông Sơn, bởi vậy ta suy ra ba trái núi tất thành tên theo phương hướng Tây Sơn, Nam Sơn, Bắc Sơn.
- Thưa thúc phụ, nghĩa là lên Bích Vân tự, phải qua chân ngọn núi Đông Sơn, nơi có Kiều gia ổ.
- Chính thế. Hiện thời, đường đi bị cây rừng cỏ dại lấp lối vì ngôi chùa hoang phế lâu đời. Ta đã chuyểân trên các mỏm đá dọc theo lối lên chùa nhận xét, sửa sang không khó. Việc tiếp tế thực vật lên núi do Kiều gia ổ dễ dàng hơn ở ngọn núi Bạch sơn trong dãy Cửu Huyền nhiều. Hơn nữa còn tiện lợi cho việc đúc Thái Dương kiếm vì chùa rộng lớn sẵn nước ngang sân, khi cần nhân công có thể gọi người ngay Kiều gia ổ. Chuyến du hiệp Giang Nam này chắc hai con không có thì giờ nghiên cứu các phương pháp trong cuốn “Thái Dương trường kiếm”. Vậy chừng nào về thăm nhà, nên nghỉ ngơi đọc kỹ các bộ bí thư ta đã trao cho, và sao thêm mỗi thức một bản.
Im lặng giây lát, Đức Võ Thượng Nhân nói tiếp.
- Trại Mạnh Thường tố cáo vụ Kim Lăng mưu phản với Nhà vua và giúp đỡ các tướng lãnh triều đình đánh bắt phản tướng đã gây được một tiếng vang rất lớn, khiến Nhà vua chú ý đặc biệt đến giới Giang Hồ Nghĩa Hiệp.
Lam Y nói :
- Việc thúc phụ cứu giá cấp thời mới là điều thúc đẩy Hoàng đế chú ý đến hành động hữu ích của hiệp khách.
- Trại Mạnh Thường cất công vào kinh tố cáo, bày mưu lập kế, ta cứu giá, các con điều khiển trận đánh, mỗi thứ một ít mới gây thành ảnh hưởng lớn lao.
- Thúc phụ dạy con một vài điều về tương lai.
Nhìn thẳng vào cặp mắt long lanh của điệt nữ, Thượng Nhân chậm rãi :
- Con cũng như Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ, người nào cũng hiệp nghĩa cốt đạo can, nhưng duyên nghiệp thiếu thời hãy còn, vậy hiện nay nên sống bình thường như mỗi người.
Anh em Chu gia vâng dạ, toan hỏi thêm nữa thì Thượng Nhân đã nhắm mắt tham thiềân nhập định. Biết người không muốn nói thêm, Đức Kiệt và Lam Y rón rén ra khỏi trại phòng khép cửa lại.
Sáng hôm thứ ba có phi mã quân trên Tô Châu do quan sở tại sai báo cho Trại Mạnh Thường biết đúng giờ Ngọ, Khâm sai quan sẽ đến Âu Dương trang.
Lão anh hùng lập tức sai bày sẵn hương án ở đại sảnh, trải chiếu hoa suốt từ trang môn vào đến thềm nhà. Mọi người trong trang đều được lệnh y phục chỉnh tề đón tiếp, một mặt hỏa đinh sửa soạn đại tiệc.
Đúng giờ, Khâm sai quan và đoàn hộ vệ binh từ Tô Châu tới nơi. Lão anh hùng Trại Mạnh Thường và Đức Võ Thượng Nhân ra tận trang môn đón.
Thượng Nhân giới thiệu Khâm sai quan và Trang chủ. Hai bên cùng cung bái.
Tôn Ngự sử nói :
- Tôi phụng mệnh Hoàng đế đem chiếu chỉ về đây.
Trại Mạnh Thường đưa tay mời. Tôn khâm sai qua trang môn đi giữa, bên tả là Trại Mạnh Thường, bên hữu là Đức Võ Thượng Nhân. Hộ vệ binh đi sau.
Cửa đại sảnh mở lớn, trang đinh võ phục chỉnh tề vác giáo đứng dàn cả hai bên, người nào cũng khỏe mạnh đứng sững như pho tượng.
Khâm sai quan và hai viên phò tá vào đại sảnh trang hoàng uy nghiêm, đứng trước hương án.
Trại Mạnh Thường, Âu Dương Phu nhân, Đức Võ Thượng Nhân đứng hàng đầu ngay sau hương án.
Hàng thứ nhì có Chu Đức Kiệt, Lam Y nữ hiệp, Âu Dương Bích Nữ.
Hàng thứ ba có Âu Dương Tòng Cát, Nhạc Lan Anh, Tòng Đức.
Mọi người khác trong nhà đứng dàn cả hai bên tường đại sảnh.
Viên quan phụ tá đặt chiếc hộp trạm trổ, sơn son thếp vàng lên mặt hương án trầm nghi ngút. Thấy mọi người đã tề chỉnh, Tôn khâm sai từ từ tiến đến hương án, trịnh trọng mở hộp chạm, cung kính nâng tờ chiếu chỉ bằng giấy lụa màu phớt vàng mở ra, lùi lại một bước, cất giọng oang oang đọc.
Mọi người đón chiếu chỉ quỳ cả xuống.
Chiếu rằng:
Đại Minh, thấp bát nhất, sơ Cửu Nguyệt, Binh Thìn niên.
Minh triều Hoàng đế Thánh tổ, Vĩnh Lạc nguyên đệ thập niên họ chiếu.
Xét rằng lão anh hùng Âu Dương gia, tục danh Tòng Thiện biết trọng quyền lợi Quốc gia, lấy nghĩa Quần thần làm đích, Mai Hương Đình dù không phải quan chức Triều đình, không hưởng bổng lộc do Quốc khố đài thọ vẫn tận tâm giữ tròn bổn phận công dân, không quản gian lao tránh cho nước nhà khỏi vòng nội biến, dân gian khỏi ách tương tàn. Trẫm sắc phong Âu Dương Tòng Thiện tước Trung Dũng Hầu, nếu muốn xuất chánh được chấp nhận tức khắc.
Âu Dương Tòng Cát, Âu Dương Tòng Đức có công bình phản tướng, được tập ấm tước vị của thân sanh phụ mẫu.
Toàn gia họ Âu Dương được sử dụng bảy chữ “Trung Dũng Tô Châu Đệ Nhất Gia”, lãnh bổng lộc tương đương với tước vị.
Xét rằng Tam hiệp Đơn Đao Chu Đức Kiệt, Lam Y nữ hiệp Chu Tú Anh, Thiết Phiến Cô Âu Dương Bích Nữ, thiên chức cứu khôn phò nguy, giúp đỡ người yếu hèn, vì Quốc gia trị tội cường hào ác bá, gây nhiều chiến công oanh liệt, gần đây điều khiển trận bắt tặc tướng trong Vương phủ Kim Lăng.
Trẫm sắc phong Tam hiệp tước Ngự Tiền Kiếm sĩ.
Chu gia huynh, muội và con cháu được đời đời sử dụng bốn chữ “Danh Trấn Giang Hồ”.
Xét rằng Nhạc Lan Anh tánh tình trung thực theo dòng máu tổ tiên, lấy nghĩa Quần Thần làm trọng. Trẫm sắc phong tước “Vũ Mục Anh Thư Quận Chúa”.
Xét rằng Chu Đức Võ là người xuất gia tu đạo có công cứu giá thiệt lớn lao, ơn ấy không quên, đào tạo được hai người cháu thành lương đống anh hùng, nữ kiệt anh thư, Trẫm sắc phong Chu đạo trưởng là Côn Luân trưởng lão Đức Võ Thượng Nhân được tùy nghi sử dụng công khố Thanh Hải xây dựng nơi tu đạo.
Ngoài ra, Trẫm tứ hôn Âu Dương Tòng Đức với Vũ Mục quận chúa Nhạc Lan Anh.
Hay tin Hiệp sĩ Chu Đức Kiệt đã hứa hôn với Âu Dương tiểu thư, Trẫm muốn đặc cách chủ hôn để tỏ lòng ưu ái với hai họ Chu, Âu Dương cũng như với Âu Dương và Nhạc gia.
Vậy Trẫm biệt thỉnh với chư khanh.
Đức Võ Thượng Nhân, toàn thể Âu Dương gia, Tam hiệp cùng Quận chúa Nhạc Lan Anh sang Xuân Đinh Tỵ lai Kinh sư dự tiệc yến kỷ niệm ngày lễ Đăng Quang.
Chư khanh khá nghe lời.
Khâm thử!
Đọc xong, Khâm sai quan gấp chiếu chỉ đặt lên hương án, đoạn lấy ở hộp đựng chiếu chỉ, một tập sắc phong có đề tên từng người, áp dấu Ngọc tỷ, thâu bút của Hoàng đế đương triều, cung kính đưa cho từng người một và nói lời chúc tụng.
Hương án bày quay về hướng Bắc nên tám người lãnh sắc quỳ ngay trước án vọng bái tạ ơn Vua.
Khâm sai quan bỏ chiếu chỉ vào hộp, hai tay nâng đưa cho Trại Mạnh Thường lãnh cất đi. Lễ đón Thánh chỉ chấm dứt.
Trang đinh dẹp hương án vào hậu sảnh. Âu Dương phu nhân cáo lỗi về tư phòng. Trại Mạnh Thường mời Tôn khâm sai và hai vị tiểu quan phụ tá dùng trà và cuộc tiếp tân bắt đầu. Tòng Cát thân tiếp đoàn tùy tùng Khâm sai quan ngoài võ sảnh. Tòng Đức tiếp các thực khách hỉ dạ ở thực phòng thường xuyên.
Tôn khâm sai nói cho mọi người biết triều đình bổ Vương Bật thuộc Hàn Lâm viên xuống tựu chức Đề đốc Kim Lăng.
Chu Trấn Quốc được chính thức tựu chức Trung Quân tại đó.
Lam Y nữ hiệp hỏi Tôn Gia Trọng :
- Thưa đại quan, Mã nguyên soái hồi triều nhậm chức mới, tất đem theo cả tiểu thư Kim Loan cùng về.
- Toàn thể gia đình cùng về. Nhị vị công tử Thành Hồ và Thành Báo được phép nghỉ hai tháng tại Yên Kinh trước khi trở về bộ đội nhậm tân chức. Mã tiểu thư cũng có hỷ sự.
- Hỷ sư thế nào, đại nhân.
- Thưa Nữ hiệp, trưởng nam Hà tổng trấn, Thiên Tường công tử dạm hỏi Kim Loan tiểu thư. Hai họ Mã, Hà đều ưng thuận. Chỉ chờ hồng thiệp gởi đi đầy đủ các nơi là nghinh hôn. Thánh thượng chủ hôn.
Buổi tiếp tân kéo dài đến tận chiều trong cảnh tưng bừng đàn ca xướng hát, các vũ nữ ở Tô Châu về trình bày nhiều vũ khúc tân kỳ.
Tối đến, toàn thể Âu Dương trang, đèn nến sáng choang, cuộc vui đến khuya mới tàn. Tôn khâm sai nghỉ lại ở trang trại một đêm, sáng hôm sau mới giã từ mọi người ra Tô Châu, rồi về kinh sư phục mệnh.
Lam Y hỏi Chu Đức Kiệt :
- Có lẽ Chu Bảo Quốc đã nói riêng vụ Tòng Đức, Lan Anh với Mã nguyên soái nên Hoàng đế mới biết và tứ hôn cho hai người.
Đức Kiệt gật đầu :
- Bảo Quốc hành động đúng như lời chúng ta khuyên y khi còn ở Vũ Hồ.
- Hiền huynh bình luận thế nào về lối thăng thưởng của Nhà vua.
- Thăng thưởng thì đáng lắm rồi. Còn việc tẩy trừ Trần Chí Hòa và mấy tên đồng bọn thì chỉ gợt được phần nào bọn gian nịnh trong Triều, nhưng chưa thể loại hết được bọn tham quan ô lại đầy rẫy trong toàn quốc. Có du hiệp như anh em ta mới hiểu được tình trạng của dân chúng nhiều nơi sống khổ sở lầm than dưới sự áp bức tham quan cường hào.
- Nước nhà rộng quá, kiểm soát không nổi.
- Đúng thế. Nếu ở vào địa vị Hoàng đế, ngu huynh sẽ lựa các quan chức có bản lãnh, lập thành “Du Hiệp Đoàn” phái đi các nơi điều tra, lập bản phúc trình. Bọn tham quan ô lại nhỏ thì bị gọi lên phủ, lớn bị triệu hồi kinh trị tội. Hành động bất ngờ như thế mới mong tẩy trừ được hết. Bọn tham quan sẽ luôn luôn lo sợ, không biết “Du Hiệp Đoàn” tới lui lúc nào mà phòng ngờ, thành thử họ tự động phải đi vào con đường chân chánh.
Lam Y mỉm cười mà rằng :
- Phương thuốc trị bệnh tham nhũng của hiền huynh hay đấy, nhưng kiếm đâu ra những vị quan liêu trong triều đình có bản lãnh phi thiềm tẩu bích như một hiệp khách chân chánh hay một tên phi hành đại đạo.
Đức Kiệt phản đối :
- Trong thiên hạ có những nhân vật ấy, lẽ nào triều đình lại không tuyển mộ được? Bởi vậy, đã cải cách phải cải cách hoàn toàn.
- Như lệ luật tuyển Võ trạng chẳng hạn, tại sao không áp dụng thêm vào đó lối khảo thí môn đồ của các võ phái danh gia.
- Võ trạng sẽ hoàn toàn biết là nhường nào về phương diện Công phu bản lãnh.
- Hiền huynh sẽ không tự vấn vì lẽ gì cao đồ môn phái không chịu xuất chánh? Những người ấy mới đáng được tuyển Võ trạng nguyên.
- Dễ hiểu lắm. Theo họ, khổ luyện mới thành tài và phải mất nhiều năm. Trong thời gian dài dằng dặc đó, những ai chịu đựng nổi đạt mức cao siêu thì họ đã quen lối sống phóng khoáng thiên nhiên, thanh thản tự do như chiếc chim trời thả cánh môn phương. Sống bó buộc trong lề lối quan liệu, họ không chịu được. Phải chăng các môn đồ võ phái chịu ảnh hưởng giáo đạo của sư phụ, nên không ưa cảnh sống ra luồn vào cúi.
Anh em Chu gia ngồi bên giả sơn đang thảnh thơi bàn tán ngoài hậu hoa viên, thì trang đinh chạy ra mời về có khách.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Vị nào vậy? Nam hay nữ?
- Thưa thiếu gia, con không nhớ tên gì nhưng đó là vị khách vẫn uống được nhiều rượu.
Đức Kiệt ngắt lời :
- Thiết Hoàn Tử Hồng Trường Hải.
- Thưa không, vị này vẫn đeo xích sắt.
Lam Y nhìn anh mà rằng :
- Trương Tam Sơn rồi! Lâu không gặp ông này.
Hai người về đại sảnh. Thiết Xích Tử đang nói chuyện với Đức Võ Thượng Nhân và lão anh hùng Trại Mạnh Thường liền cùng anh em Chu gia thi lễ.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Trên nửa năm nay mới được gặp Trương tiên sinh. Người đi đâu bây giờ mới xuất hiện.
Thiết Xích Tử đáp :
- Chuyến trước, khi ở miền duyên hải Phúc Kiến về, tôi đi thẳng Tiêu Anh phủ, rồi về nằm khàn ở nhà. Gặp trúng lúc gia đệ tam Vân sửa sang lại một ngôi đại miếu thờ Huyền Thiên Thượng Đế thành thử lẩn quẩn trông nom với y mãi tới nay mới rảnh.
Lam Y ngạc nhiên :
- Nếu tiểu nữ không quên thì hồi ở Dương Châu, tiên sinh có kể chuyện lệnh tôn lập am Trương gia trên Võ Đang sơn, nay sửa sang thần miếu nào.
Thiết Xích Tử giải thích :
- Phải, Trương gia am là của riêng do phụ thân tôi xây dựng để gia sư Trương Lãng Tử ở. Gần đó có ngôi đại miếu thờ Huyền Thiên do người thủ miếu họ Liêu truyền nhau trông nom được bốn đời rồi. Nay họ ấy không có con trai nối dõi nhường lại cho họ Trương trong thôn. Hai ngôi am, miếu ấy kế cận nên gia đệ sát nhập cả hai làm một và sửa chữa luôn thể miếu Huyền Thiên. Huyền Thiên miếu do Minh Thành Tổ hồi chưa lên ngôi đích thân đem quân đuổi tặc tướng Trần Hữu Lượng đến chân Võ Đang sơn, thì gặp trời tối. Địch quân thuộc đường trở lại bao vây, Thái Tổ phải rút quân lên núi vì Trần Hữu Lượng quật khởi đánh dữ quá.
Đêm đó trong khi mệt nhọc, dựa vào yên ngựa ngủ thiếp đi, Minh Thái Tổ mơ thấy thần nhân tự xưng là Huyền Thiên Thượng Đế báo mộng, chỉ một con đường hiểm sau núi có thể vòng ra phía trước đánh úp quân địch. Tỉnh dậy, Thái Tổ tin là có thần nhân phù trợ, lập tức kéo quân theo phương hướng nhớ trong giấc mộng. Quả nhiên, con yếu lộ ấy có thật. Thái Tổ dàn quân bao vây, bất chợt tảng sáng đánh thốc vào quân địch. Tặc tướng Trần Hữu Lượng chạy không kịp bị Thái Tổ đâm một giáo chết tại trận.
Khi lập quốc xong, Thái Tổ nhớ ơn Thần nhân thắng trận Võ Đang sơn bèn lập miếu ngay tại nơi nằm mộng trên núi thờ phụng. Đó là miếu Huyền Thiên do gia đệ sát nhập với Trương gia am chuyển thành ngôi đại tự có quy củ. Thiệt không ngờ gia đệ Tam Vân sùng đạo đến thế? Chẳng như tôi chỉ rượu be bét tối ngày.
Giả tỉ luật nhà chùa chỉ cấm tứ giới mà bỏ lệ cử rượu thịt, chắc chắn Trương mỗ có thể tu hành... đắc đạo được.
Nghe Thiết Xích Tử nói với giọng hết sức thật thà, mọi người đều nhìn nhau phì cười. Ngó ngang, Thiết Xích Tử nói tiếp :
- Tôi có lời chúc mừng hai đạo sắc do Hoàng đế ban tặng Chu gia và Tam hiệp. Tiếc quá, bỏ sót mất vụ Kim Lăng thành thử không được dự Ngự yến cùng các vị.
Tuy không là mai nhân giữa hai họ Chu và Âu Dương, nhưng nếu Trương mỗ này không gọi Thiết Phiến Cô trên Thanh Dương hồ bên Dương Châu, thì Chu đại hiệp quen sao được Âu Dương Bích Nữ? Chuyến này, Hoàng đế trớ trêu đứng chủ hôn cho hai người ở Yên Kinh, lão ngu tôi trật bữa rượu mừng nữa.
- Không tiếc sao được? Mấy khi được uống mừng duyên kỳ ngộ giữa đôi hào kiệt, anh thư.
Trại Mạnh Thường nói :
- Lão đệ khỏi than phiền. Nhà Vua chú ý đặc biệt đến giang hồ chúng ta. Vậy khá ngày giờ tập trung cả ở tệ trang, rồi cùng lên Hà Bắc, lão đệ sẽ có dịp uống cạn kho Ngự tửu.
Âu Dương Bích Nữ nói :
- Trương thúc thúc chuyến này cũng gặp dịp may. Sắp có vụ đại hôn lễ.
Thiết Xích Tử vội hỏi :
- Ai kết hôn với ai vậy? Bao giờ? Tôi đến đây chủ ý mời Tam hiệp đi gấp Trường Sa giúp một việc. Chắc không chờ nổi rồi.
- Ngày mốt sẽ đại tiệc trong Tam Môn cốc. Thúc thúc nán lại vài ngày có sao không?
Nói đoạn, Âu Dương Bích Nữ kể chuyện hai họ Dương, Địch cho Thiết Xích Tử nghe.
Lam Y hỏi :
- Trương tiên sinh bảo anh em tiểu nữ đi Trường Sa có việc gì quan trọng không? Có e lỡ nhật kỳ vì chờ dự tiệc hôn lễ trong Tam Môn cốc không?
Thiết Xích Tử đáp :
- Chờ một vài ngày không sao, nhưng chậm trễ nhiều chắc không được. Ba vị nhận giúp tôi chớ.
- Việc của tiên sinh cũng như việc nhà, lẽ nào không giúp? Chuyện chi vậy.
Thiết Xích Tử chậm rãi :
- Chuyến này, tôi định vào Động Đình hồ chơi, chẳng ngờ nửa đường gặp người nhà của gia muội Trương Tam Nương... Hẳn quí vị còn nhớ việc gia việc muội Tam Nương kết duyên cùng Tiểu Lữ Bố Hoàng Hoa Chiếm bên Trường Sa.
Mọi người gật đầu. Thiết Xích Tử nói tiếp :
- Hoàng Hoa Chiếm vẫn điều khiển mấy Bảo cuộc Trường Sa, Hà Khánh phủ, và Tần Bình huyện. Vợ chồng y ngồi xem xét mọi việc và nhường sự hoạt động cho hai con...
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Nhất thái tử Hoàng Hoa Long và Nhị thái tử Hoàng Hoa Hổ phải không :
- Phải rồi. Năm nay chúng lớn tuổi, hai mươi bốn, hai mươi lăm tuổi cả rồi. Vợ chồng gia muội trao trách nhiệm cho hai con trai trong việc phân phát tiêu sư áp tải hàng hóa đi các nơi.
Cách đây hơn hai năm, Hoàng Hoa Hổ có đánh một bọn tặc đạo trên mé sông nhánh của Trường Giang. Chẳng ngờ trong bọn có một tên là Lôi Chấn bị thương nặng hẹn sẽ bảo thù. Hình như Hoàng Hoa Hổ đâm một thương suốt qua vai Lôi Chấn, tưởng y bị tử thương, chẳng ngờ y sống sót và gởi thư hẹn báo phục.
Bỗng đi đã lâu không thấy gì, họ Hoàng Hoa tưởng tên Lôi Chấn đe dọa hão huyền, biết đâu bây giờ về quấy phá thiệt họ. Chúng hành động thế nào tôi không rõ, nhưng theo lời gia nhân thì hình như chúng có chín tên lấy tên hiệu là Cửu quái lợi hại lắm. Trong nhà Hoàng Hoa vỏn vẹn có hai vợ chồng và hai con trai, bận nhiều việc, các tiêu sư làm công thì bận tải hàng. Hoàng Hoa Long, Hoàng Hoa Hổ cũng ít khi ở nhà, sợ bọn Cửu quái đón đánh xe hàng, phải đích thân đi áp tải.
Bởi vậy, gia muội biên thơ về Võ Đang sơn cầu cứu. Tên gia nhân gặp tôi, nên tôi chợt nghĩ quí vị có thể tiếp tay, nhân tiện qua chơi Trường Sa luôn thể.
Nghe chuyện Trương Tam Sơn, Trại Mạnh Thường bảo Tam hiệp :
- Các con liệu sửa soạn, xong tiệc cưới Dương Hoài Ngọc, Địch Phượng Tiên thì lên đường kẻo trễ.
Lam Y nữ hiệp nói :
- Từ ngày được nghe chuyện, tiểu nữ vẫn ước ao được yết kiến lệnh muội Trương Tam Nương, nay sang Trường Sa cũng là một công đôi việc.
Thiết Xích Tử nhìn Lam Y mà rằng :
- Khi thiếu thời, gia muội Tam Nương cũng hao hao giống Nữ hiệp. Nay có tuổi, Tam Nương hơi đẫy đà một chút, nhưng bản lãnh không hề kém sút.
Hôm sau, Đức Võ Thượng Nhân gọi anh em Chu gia dặn dò, đoạn từ biệt mọi người lên đường vào Thanh Hải thăm thú núi Côn Luân.
Dự tiệc cưới Dương Hoài Ngọc, Địch Phượng Tiên xong, Tam hiệp cùng Thiết Xích Tử vào Trường Sa phủ.
Trại Mạnh Thường tặng họ Trương một con hắc lư cho tiện đi đường vì Tam hiệp cưỡi ngựa.
Một chiều kia gần tới nơi thì mây u ám kéo đầy trời, gió thổi phần phật. Bốn người vội lấy nón, áo da phòng mưa, thúc ngựa chạy lẹ vào thành.
Vừa qua cổng thành thì mưa đổ xuống như trút nước.
Trường Sa phủ rộng lớn không kém gì Kim Lăng.
Thiết Xích Tử nói :
- Đằng nào cũng ước rồi, quý vị theo tôi sang lối Tây môn thì đến nhà.
Đoàn người qua hết phố nọ sang phố kia, vào tới khu nhiều cây cối um tùm nhà cửa rộng rãi, vườn tược hẳn hoi.
Thiết Xích Tử chỉ ra phía trước mặt :
- Đây là khu Đại Mộc, Hoàng Hoa phiêu cục kia kìa, nơi có cây tòng lớn trước cổng.
Lát sau, đến nơi Tam hiệp thấy ngang trên cổng gạch treo tấm biển đề Phiêu Cục Hoàng Hoa nóc cổng có vọng lâu.
Thiết Xích Tử gọi lớn :
- Mở cổng mau! Chưa tối đóng cửa sớm vậy.
Tên gia nhân coi cổng thò đầu ra ngoài vọng lâu hỏi :
- Ai gọi đó? Xin cho biết tên.
- Ngươi không nhận ra ta hay sao, hỏi mãi.
Lúc đó tên gia nhân mới nhận ra người nhà, bèn chạy vội xuống mở cổng :
- Trời ơi, đại bá mà con không biết, mời người vào, ướt hết đồ rồi.
Y vừa nói vừa vái chào bốn người.
- Gia gia có nhà không?
- Thưa có, mời người lên thẳng đại sảnh.
Ba con chó lớn thấy người lạ tới chạy vù qua sân gạch sửa inh ỏi. Mấy tên gia nhân đội nón chạy theo xuống cổng dắt lừa, ngựa.
Tam hiệp, Thiết Xích Tử đỡ hành lý vác lên vai, rảo bước qua sân lên đại sảnh. Vợ chồng Hoàng Hoa Chiếm và hai thanh niên hào kiệt đứng chờ ở hành lang. Thiết Xích Tử chỉ Tam hiệp giới thiệu :
- Đây là Đơn Đao Chu Đức Kiệt, Lam Y nữ hiệp, Chu Tú Anh và Thiết Phiến Cô Âu Dương Bích Nữ, hôn thê của Chu đại hiệp và là ái nữ của Trại Mạnh Thường bên Tô Châu. Đã có lần ngu huynh nói chuyện cho các người nghe rồi đó.
Mọi người thi lễ, Hoàng Hoa Chiếm cất tiếng sang sảng :
- Nghe chuyện không bằng diện kiến. Bất lâu nghe đại danh, nay hội kiến mới biết danh bất hư truyền, hân hạnh cho chúng tôi nhiều lắm.
Tam hiệp nói mấy lời khiêm tốn. Hoàng Hoa Chiếm mời khách vào sảnh đường. Bốn người để hành lý lên trưởng kỷ, cởi bỏ mũ, áo mưa rồi an tọa.
Trương Tam Nương nhìn Lam Y và Âu Dương Bích Nữ không chớp mắt :
- Trông thấy nhị vị, tôi không khỏi nhớ lại thuở nào cùng tuổi ấy... thấm thoắt đã mấy chục năm qua.
Lam Y nói :
- Lúc ở Dương Châu, Trương tiên sinh đã có dịp kể chuyện cho chúng tôi nghe, như xạ kích viên môn, đấu thương, kích đêm trăng, nên riêng phần tôi vẫn ao ước được yết kiến đại nương.
Trương Tam Nương âu yếm nhìn chồng mỉm cười, chỉ hai con mà rằng :
- Mới ngày nào thí võ thành duyên phu phụ mà nay đã có hai con lớn chừng này rồi.
Lam Y ý tứ thấy Trương Tam Nương tuy có tuổi nhưng vẫn còn trẻ lắm như người trạc tứ tuần, nét mặt thật đẹp đẽ vóc dáng cân đối. Hoàng Hoa Chiếm để râu chòm đen lánh, bệ vệ, khuôn mặt như mũ ngọc khi xưa hẳn đẹp tướng như Chu Đức Kiệt, xứng danh với tước hiệu Tiểu Lã Bố.
Hai anh em Hoàng Hoa Long, Hổ dáng dấp y hệt phụ thân, người nào cũng có vẻ anh hùng hào kiệt.
Gia nhân ra đại sảnh báo khách phòng đã sửa soạn rồi. Hoàng Hoa Chiếm và Trương Tam Nương mời bốn người về phòng thay áo.
Nhà họ Hoàng Hoa có ba nếp xây hàng chữ “Môn” sân trước sân sau, vườn cây xanh mát gọn gàng.
Ngoài trời tối hẳn, trong nhà lên đèn sáng trắng. Vợ chồng Hoàng Hoa Chiếm và Long Hổ cùng khách dùng bữa ở đại sảnh.
Thiết Xích Tử cũng đã trút bộ áo giang hồ vận thường phục coi đạo mạo, chớ không lôi thôi lếch thếch như thường ngày.
Thiết Xích Tử hỏi vợ chồng Hoàng Hoa :
- Gia nhân cầm thơ đi Võ Đang sơn đã về chưa.
Trương Tam Nương đáp :
- Gặp phải trưởng huynh, y về thẳng đây chớ không đi Võ Đang sơn.
- Phải rồi, chính ngu huynh nhắn không cho y đi Võ Đang sơn và mời Tam hiệp về tiếp tay. Câu chuyện đầu đuôi thế nào? Xưa nay có thường xảy ra nhiều vụ lôi thôi không.
Hoàng Hoa Chiếm đáp :
- Như hiền huynh đã biết, ngoại trừ những đám cướp nhỏ không đáng kể, không bao giờ có chuyện chặn đánh xe hàng tải dưới hiệu kỳ “Hoàng Hoa”.
Phiêu cục nhà nhận bảo vệ hàng hóa và khách thương đi nhiều đường lắm, như Trường Đức, Đông Thanh, Hoàng Giang ở phía tây. Bảo Kinh huyện, nguyên Châu, Bình Nhường ở phía Đông. Các nơi này vị trí ở hai bên tả, hữu Trường Sa. Ngoài ra còn có nhiều chuyến tải hàng lớn như đi Nam Xương vào Giang Tây, Sa Chí Phủ, Hán Dương đất Hồ Bắc.
Ba con đường lớn này rất nghịch, tuy vậy bọn lục tâm hắc đạo đều quen biết như nếp xưa không bao giờ hành động khó dễ cho đoàn áp tải Hoàng Hoa.
Cho nên nhiều khi tôi và Long, Hổ hai cháu không đích thân áp tải, phái các tiêu sư phụ đi thay cũng đủ.
Thiết Xích Tử nói :
- Lỡ một hôm bọn lục lâm cường đạo hoặc vì cần quá, hoặc vì thấy chuyến hàng lớn quá, giả dạng đón cướp ở khu vực khác rồi phân tán đi thì hiền đệ tính thế nào.
Hoàng Hoa Chiếm lắc đầu :
- Hiền huynh ít trực tiếp với chúng, nhất là ở vùng ba tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây nên không hiểu mới nói vậy. Các toán “tiểu đạo” không bao giờ dám bén mảng tới những khu vực có “đại đạo”. Bọn đại đạo thì có căn cứ hoặc Sơn trại, hoặc Lâm trại hẳn hoi. Chúng quen biết giao dịch mật thiết với nhau phòng khi nhờ nhau cứu trợ nếu bị lâm nguy.
Bởi vậy chúng chia ra nhiều khu vực, đạo nào “kiếm ăn” ở trong ranh giới của riêng đạo ấy, không hề bao giờ lấn nhau. Về điểm này, tôi nhận xét thấy chúng rất tôn trọng quyền lợi của nhau và triệt giữ lời cam kết. Nhờ thế, bọn tiểu đạo không dám tới những nơi thuộc khu vực đại đạo, một là sợ bị đại đạo điều tra, tiêu diệt chúng, hai là sợ không đủ tài sức chống chọi nổi với các đoàn áp tải lớn. Hơn nữa, chúng còn biết rằng các phiêu lưu lớn quen thân mật với đại đạo, nhúng tay vào cướp hàng hóa, sẽ bị đánh bật cả hai đầu.
Chu Đức Kiệt mỉm cười :
- Nghĩa là các “tay em” không dám đụng độ với “tay anh” đó.
- Đúng thế.
- Và nói ngược lại, Phiêu cục, Sơn trại, hay Lâm trại tuy đứng đối lập nhau, nhưng thiệt ra bề trong hai bên vì quyền lợi riêng, phải nhường nhịn lẫn nhau, thành thử bề ngoài thù mà bề trong là bạn.
- Dạ, quả có như thế đó, song có vài điểm này. Đại đạo chỉ “nể” và “chịu” giao dịch với những Phiêu cục nào cứng rắn thôi. Trước khi được chúng hay chịu, tiêu sư phải tranh đấu, đánh cho chúng một vài trận thất điên đao, hoặc ít nhất phải đều sức với chúng mới nói chuyện được.
Âu Dương Bích Nữ hỏi :
- Các Phiêu cục nhỏ làm thế nào sống được.
Trương Tam Nương đáp :
- Sống chứ. Họ nhận hàng đi gần quanh bạt nhà. Mồi nhỏ bắt cá nhỏ. Nhưng cũng có Phiêu cục lớn ngoan cố, mà Tiêu sư trưởng tự lượng không đủ tài sức tranh đấy cùng đại đạo, bèn điều đình với chúng nộp xuất tiền lộ tương đối rẻ.
Mỗi chuyến hàng qua đều mối trả, nhưng không trả công khai, thành thử khách hàng có cảm tưởng tiêu sư bản lãnh siêu quần được bọn lục lâm kiêng nể.
Lam Y nói :
- Làm nghề bảo tiêu kiếm ăn ngoan cố như vậy không bền. Chóng chầy sẽ bị bại lộ. Đối với bọn lục lâm, để chúng sợ hơn là bị chúng nhờn.
Trương Tam Nương gật đầu :
- Nữ hiệp kinh nghiệm điểm ấy rất đúng. Đánh cho chúng thất điên bát đảo, chúng sợ ta phá sào huyệt, hoặc hợp sức với quan quân đả phá, nên bọn nọ bảo kia, chúng tự nhiên kiêng nể mặc ta qua lại như vào chỗ không người. Đó là trường hợp của Phiêu cục Hoàng Hoa.
- Tải hàng gần, chúng tôi để phiêu kỳ và phái các tiêu sư phụ theo áp tải. Một khi tải hàng xa Hoàng Hoa Long hay Hoa Hổ luân phiên theo đoàn xe hàng và không hề xảy ra sự gì.
Bỗng cách đây hai năm, Hoa Hổ áp tải chuyến hàng quan tọng vào Nguyên Châu bên Giang Tây vừa qua dòng Lăng Lý giang, được mấy dặm thì bị toán đại đạo chận đánh định cướp hàng.
Hoa Hổ đón đánh một tên đại đạo xưng danh là Lôi Chấn.
Tên này trúng thương được đồng bọn cứu đem đi.
Sau trận đó, không xảy ra vụ nào khác cả. Cho đến nay, tháng trước Hoa Long, Hoa Hổ đi áp tải chưa về, phu quân tôi đi kiểm soát công việc chi nhánh bảo Phiêu cục của nhà, bỗng một buổi sáng nọ, gia nhân dậy sớm làm việc thì thấy phong thơ ghim chặt ở cột hành lang bởi một con dao ngắn. Gia nhân vào báo, tôi vội chạy ra xem.
Trong thơ không có gì lạ hơn là nhắc lại việc Hoàng Hoa hổ đâm trúng thương kẻ địch năm xưa, nay sau thời gian chuẩn bị, tên đó sẽ báo thù. Ký tên Lôi Châu cửu quái.
Nói tới đây, Trương Tam Nương bảo con trai thứ vào lấy bức thư và con dao ngắn hăm dọa cho Thiết Xích Tử và Tam hiệp xem.
Trương Tam Nương nói tiếp :
- Chúng tôi định tự lực đương đầu nếu chúng lộ diện, nhưng suy đi tính lại phu quân tôi thấy cần phải đủ người tài ba chống đối và cần quét một trận cho bọn đại đạo biết sợ bảo nhau kiêng nể Hoàng Hoa phiêu cục. Nghề nghiệp bắt buộc như thế, cần phải có tài danh. Nếu phu quân tôi viết thơ về Võ Đang sơn cầu gia huynh giúp đỡ bằng cách phái các cháu Trương Tam Võ, Trương Nhị Nương và nếu có thể, chính gia huynh Tam Sơn, Tam Vân tới cả đây. Gia nhân gặp huynh trưởng Tam Sơn, và mọi việc thì quý vị đã rõ.
Chu Đức Kiệt đọc bức thư của Lôi Chấn hăm dọa, lật đi lật lại xem con dao ngắn, đoạn chuyền cho mọi người lần lượt xem.
Lam Y nói :
- Ký tên Lôi Chấn là kẻ bị thương nặng muốn báo thù đã đành, sao lại có hai chữ Cửu quái vào đó? Cửu quái là tước hiệu lục lâm giang hồ của Lôi Chấn, hay là chín tên Quái đồng bọn của y.
Thiết Xích Tử nói :
- Chúng viết nửa chừng thế mới khó hiểu khiến ta ngờ chúng đông người.
Âu Dương Bích Nữ để phong thơ và con dao lên mặt án :
- Theo ngu ý, một mình Lôi Chấn dù sao thời gian luyện tập với chí phục thù, không dám tự lực hành động vì y thừa hiểu tiêu sư Hoàng Hoa phiêu cục là những người có bản lãnh đã từng cho y nếm mùi thất bại.
- Cửu quái đây vừa là tước hiệu lục lâm vừa là số người. Số người đó là chín con Quái, đồng bọn Lôi Chấn.
Chu Đức Kiệt gật đầu đồng ý :
- Hiền muội nói phải. Tôi cũng nghĩ thế.
Thiết Xích Tử nói :
- Thường qua lại miền duyên hải nên tôi biết thứ dao ngắn này là “mũi chùy” của những thủy thủ quen sống trên giang, biển quen dùng. Đối với họ, “chùy” là thứ khí giới thân rất tiện dụng trên bộ cũng qua như khi ở dưới nước. Vậy có thể tạm đoán được bọn Cửu quái thuộc về giới thủy tặc chăng.
Lam Y nói :
- Trương tiên sinh đồng quan điểm với tôi. Trận đánh giữa Lôi Chấn và Hoa Hổ đại ca gần Lăng Lý giang, biết đâu họ Lôi không thuộc loại thủy khấu :
- Trên sông Lăng Lý có hay xảy ra những vụ cướp ghe chài không.
Hoàng Hoa Chiếm đáp :
- Có. Không xảy ra luôn, nhưng mỗi khi hữu sự thì y như là các ghe lớn tải nhiều hàng hóa, tiền bạc bị đánh cướp lấy trộm. Bọn thủy tặc rút lui đi rất êm đềm. Nhà đương cuộc địa phương không biết đâu mà tìm kiếm dò la và kết luận rằng thủy tặc ở xa tới, “ăn hàng” xong rút lui ngay. Chính chúng tôi cũng nghỉ như vậy.
- Lịnh Phiêu cục không bao giờ bảo đảm hàng hóa chạy trên sông ư?
- Có chứ. May mắn không gặp thủy tặc bao giờ cả. Hiện thời, tại Trường Sa có ba Phiêu cục lớn, kể cả tôi, hai nhà kia thường mắc mưu thủy khấu luôn. Vì vậy mới đây, một số khách hàng của họ chạy qua tôi, và tôi thấy đang cần phải giữ tín nhiệm hơn nữa.
Quý vị tới đây, yêu cầu tiếp tay.
Lam Y nói :
- Chúng tôi qua Trường Sa lần này cũng chỉ vì mục đích ấy. Tiên sinh và đại nương chớ nề hà. Nhưng tôi lấy làm lạ rằng tại sao quan quân không dùng biện pháp gì để ngừa bọn thủy tặc hoành hành trên sông Lăng lý.
Trương Tam Nương nói :
- Tôi biết Tam hiệp thắc mắc về điểm ấy. Trước đây, Đề đốc Trường Sa là Vĩnh An, em Thuận Vương, tuy không phải tham quan, song bổn tánh chậm chạp, phái nhân viên đi điều tra mấy lần không đạt kết quả nên họ đình chỉ lại ngay :
- Không hiểu vì mới tới nhậm chức bây giờ thế nào :
- Nhưng cũng hiểu qua về vị trí Trường Sa với Lăng Lý giang như thế nào. Thủ phủ này gần biên giới Giang Tây mà ranh giới hai tỉnh là Lăng Lý giang cách thủ phủ thành có mấy dặm đường. Phân nửa sông thuộc về Hồ Nam, phân nửa thuộc về Giang Tây. Có thể suy luận rằng quan địa phương cho là thủy tặc thuộc căn cứ Giang Tây và gửi công văn yêu cầu quan địa phương bên ấy truy nã.
- Bọn Giang Tây không cần đếm xỉa tới mé bên ấy toàn rừng núi hoặc hoang địa. Quan quân Trường Sa không thấy bên kia hành động nên cũng bỏ nốt. Bọn thủy tặc hành động rất khôn khéo ở chỗ không điều hòa, quan quân theo dõi mãi đâm ngán đành bỏ ngang.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Dòng Lăng Lý có lớn không? :
- Lớn y hệt khúc sông mà quý vị đã qua mới vào được đất Hồ Nam. Ngày mai, chúng ta ra triền sông quan sát.
Đức Kiệt nói với mọi người :
- Theo thiển ý, tôi dự đoán thế này. Tên Lôi tặc không dám vào tận Hoàng Hoa phiêu cục hành động để báo thù đâu, mặc dù chúng là Cửu quái. Bọn Thủy khấu sẽ tổ chức chặn cướp ghe áp tỉa hàng hóa của quý vị. Bây giờ làm thế nào kiếm được sào huyệt của chúng mà phá thì hay hơn cả. Do trận đánh đó, uy danh Phiêu cục càng thêm lừng lẫy.
Hoàng Hoa Long hỏi :
- Phiêu cục nhà nhận áp tải hàng đường thủy nhiều năm nay không hề xảy chuyện gì trong khi thủy tặc vẫn thỉnh thoảng hoành hành đối đầu các Phiêu cục khác. Nếu Cửu quái ở trong bọn thủy khấu, tại sao chúng không quấy chúng ta.
Thiết Xích Tử nói :
- Dễ hiểu lắm, bây giờ bọn Lôi Chấn mới về và Cửu quái sẽ bắt đầu gây chuyện Hoàng Hoa phiêu cục. Chu đại hiệp ước đoán như vậy ta rất đồng ý.
- Dạ bây giờ chúng mới cùng Lôi Chấn về đây thì tiểu điệt xin chịu. Trước kia chắc là bọn khác vì chúng vẫn kiêng nể Hoàng Hoa...
Lam Y nói :
- Ngày mai chúng ta ra bên sông xem sao. Các ghe hay bị chặn đánh ở quãng nào.
Trương Tam Nương nói :
- Trong vòng mười, mười lăm dặm về thượng lưu dòng Lăng Lý. Tôi sẽ dẫn đường.
- Người vùng này quen mặt, Đại nương cùng đi với chúng tôi không tiện. Anh em tôi sẽ tùy nghi hành động.
Thiết Xích Tử nói :
- Tôi cũng thuộc triều Lăng Lý giang, sẽ đi cùng Tam hiệp.
Chu Đức Kiệt gật đầu :
- Phải đó! Trương tiên sinh dẫn đường hợp cách lắm. Chúng ta nên vận thường phục và để võ khí lại nhà.
Sáng hôm sau, Tam hiệp cùng Thiết Xích Tử thuê xe ra bến sông. Từ thành ra bến, hai bên đường đều có nhà ở và tửu quán, người qua lại khá tấp nập. Ngay đầu bến, có cơ sở quan thuế chuyên về việc khám xét và đánh thuế buôn bán muối. Bờ tả ngạn phía Trường Sa, ghe thuyền lớn nhỏ đậu san sát như lá tre. Trái lại bên hữu ngạn thuộc Giang Tây chỉ là một bến đồ chuyên chở khách quá giang. Nước xanh biếc chảy xiết. Bên bờ, mấy ghe chài về cập bến đổ tôm cá bán ngay tại chỗ cho các người buôn bán cất vào phủ thành.
Lam Y chỉ các thúng đựng tôm cá :
- Hải vật tươi quá ngon lành thật.
Thiết Xích Tử nói :
- Miền này có cá chép ngon nhất, thịt mềm thơm, tiếc rằng không phải mùa. Mỗi khi đến thăm gia muội, bao giờ tôi cũng nhằm mùa Lý Ngư.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Mùa xuân có Lý Ngư thì phải.
- Chính mùa Xuân. Giống cá ấy ưa mát. Mùa Đông và Hạ, chúng ở đáy nước không lên. Còn tiết thu là mùa sanh đẻ.
- Nhưng Lý Ngư đâu có ở trong sông ngòi? Nghe nói giống cá ấy ở trong đầm.
Thiết Xích Tử chỉ tay theo dọc sông :
- Các ghe chài lưới đánh cá bắt tôm lan suốt dọc sông này đến ba, bốn dặm. Cũng mé này, đi ngược lên, có một vũng nước lớn và hình như khá sâu. Dân vùng này gọi là Kế Giang đầm, dân chài đánh lưới cá Lý Ngư ở đó.
Bốn người tiến theo dọc sông, vừa đi được một quãng thì có hai người ra kiểu dân chài một trẻ, một già đi tới.
Người trẻ tuổi đội chiếc thúng tre trết sơn bảo người có tuổi :
- Phải đưa hai con Lý Ngư này vào thành bán cho đại tửu lầu mới được phụ thân ạ.
- Ừ, bán cho Kim Môn lầu hơn cả.
Hai cha con bàn tán như vậy khi đi qua chỗ Tam hiệp.
Thiết Xích Tử vội bảo ba bạn đồng hành :
- Kìa, họ nói về cá Lý Ngư. Gọi mua đi.
Không chờ trả lời, Thiết Xích Tử gọi :
- Này! Ngư ông ơi, có Lý Ngư bán đó ư?...
Hai cha con ngư phủ ngừng bước nhìn bốn người. Thanh niên đáp :
- Phải, có hai con Lý Ngư lớn đây, nhưng mắc lắm.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Mắc thì mắc chớ sao? Cho xem còn tươi không nào.
- Tươi lắm! Vừa bắt được ở Kế Giang đầm lên.
Thanh niên vừa nói vừa đặt thúng sơn xuống vệ cỏ mở nắp ra. Trong thúng có nước, mấy câu rêu nổi lềnh bềnh và hai con Lý Ngư lớn đang lừ lừ luồn quanh, chớp nước luôn miệng.
Âu Dương Bích Nữ hỏi :
- Mùa này làm gì có Lý Ngư mà bắt được nhỉ.
Thanh niên chài lưới đáp :
- Mùa nào cũng có Lý Ngư, riêng mùa Xuân nó mới lên mặt nước, dễ lưới hơn. Tôi phải lặn xuống tận đáy Kế Giang đầm khổ cực mới bắt nổi hai con này. Chắc người thường không mua được, nên tôi định đem bán cho đại tửu lầu trong thành.
Lam Y nói :
- Thì đại tửu lầu cũng bán lại cho người ta ăn chớ có bán riêng cho siêu nhân đâu mà thường, với không thường.
Lão ngư phủ nói :
- Thưa đành vậy, nhưng bỗng dưng mấy ai chịu bỏ ra mười lượng bạc để mua một con cá trong khi với bạc ấy có thể dùng được thồi thịnh soạn? Bởi vậy, con tôi mới nói là mắc chớ không có gì đâu.
Thiết Xích Tử nói :
- Được, mười lượng một con, tôi chịu lấy cả hai, đem về tận nhà hộ tôi nhé.
Cha con ngư phủ chưa kịp đáp bỗng có ba người lực lưỡng vận y phục chẽn, quấn khăn đầu rìu, chân đi thảo hài, lưng đeo nón tàu dắt dao ngắn, từ phía bên sông đi tới, vỗ vai bảo thanh niên ngư phủ :
- Này, Phùng đại ca, bắt được Lý ngư sao không như mọi khi? Đem bán ngoài lấy tiền hơn, phải không?
Người khác để râu mép nói :
- Gớm thật! Thề lấy, thề để không bán cho ai! Bắt quả tang nhé.
Người thứ ba đứng tuổi hơn cả, bảo hai người kia :
- Hai hiền đệ hỏi thế chỉ khiến Phùng Tam rối trí cuống cuồng lên thôi. Biết đâu y không đang cho mọi người xem để tỏ tài bắt nổi Lý Ngư trái mùa? Y tài thiệt đó!
Quả nhiên Phùng Tam và lão ngư phủ biến sắc run rẩy khi bất chợt gặp ba người nọ thiệt. Nhưng cha con họ Phùng cố điềm tĩnh che mắt mọi người.
Phùng Tam nói với Thiết Xích Tử và Tam hiệp :
- Tôi cho quý vị xem Lý Ngư trái mùa khó hiếm, có thế thôi, chớ không bán đâu. Mắc lắm, mắc lắm.
Ngay từ lúc đầu, Chu Đức Kiệt thấy tình hình ba đại hán nọ với cha con ngư phủ đã có ý nghi ngờ, nên kín đáo đưa mắt ra hiệu cho mọi người...
Nghe Phùng Tam nói vậy, Chu Đức Kiệt đáp :
- Ừ, mắc thế thì ai mua! Đến mùa cá rẽ sẽ ăn, cần chi vội vàng.
Lam Y tiếp lời Đức Kiệt :
- Mùa này bắt nổi Lý ngư mới thiệt cừ khôi. Lặn giỏi mới làm nổi việc ấy.
Ba đại hán nhìn chằm chặp Lam Y và Âu Dương Bích Nữ.
Nhưng họ lại chú ý đến thúng Lý như ngay.
Người trẻ nhất bảo cha con Phùng ngư phủ :
- Tôi lấy nhé! Không giắt tiền theo đây, sẽ trả đủ như mọi khi, được không?
Phùng Tam gật đầu lia lịa :
- Sao lại không được? Tôi xâu hai con làm một.
- Muốn thế nào cũng được, miễn là nó đừng vuột mà thôi.
Phùng Tam lanh lẹ lấy lạt tre giắt ở thắt lưng xâu mép Lý ngư lại làm một. Đoạn y giơ lên đưa cho hai thanh niên :
- Cá béo lắm. Chắc ba vị vừa lòng hả.
Người kia cười đỡ lấy xâu cá :
- Béo hay chẳng béo cũng không sao. Miễn là có Lý ngư.
Đại hán đứng tuổi vỗ vai bảo ngư phủ cười ha hả :
- Hễ có cá nữa cứ như thường lệ? Đừng để mất công xách như hôm nay.
Phùng lão vâng dạ luôn miệng.
Ba đại hán nhìn Lam Y, Âu Dương Bích Nữ một lần nữa, kéo nhau đi thẳng.
Họ theo bờ đi ngược lên thượng lưu sông Lăng Lý.
Cha con Phùng ngư phủ cùng vội vã đổ hết nước trong thúng sơn. Phùng Tam nói :
- Quý vị bằng lòng vậy. Từ trước đến nay, ba người vừa rồi vẫn là khách hàng mua Lý ngư của tôi. Bữa nay, tôi mệt lười không muốn đem cá tới, chẳng ngờ gặp luôn họ qua đây...
Lão ngư phủ lừ mắt, ngắt lời Phùng Tam :
- A Tam dông dài nhiều lắm! Về nghỉ đi kẻo lại kêu mệt.
Nói đoạn, Phùng lão chào mọi người, vội vã kéo con đi về nhà phía bến sông.
Chờ họ đi được một quãng đường ngắn, Lam Y nói :
- Vụ bán Lý ngư có điều uẩn khúc. Chúng ta cần biết nơi cư ngụ của cha con họ Phùng để điều tra xem thế nào.
Thiết Xích Tử nói :
- Chắc họ về xóm chài ngay bên đường. Tôi theo họ mới được. Ba vị đẹp ngồn ngộn thế này, đi theo e lộ liễu.
Chu Đức Kiệt phản đối :
- Dễ thường hễ có vẻ người dễ coi một chút, thì không được việc nữa sao? Để tôi theo cha con ngư phủ, sẽ có cách dò xét. Trương tiên sinh và nhị vị hiền muội theo lối này xem ba đại há vừa rồi đi về đâu. Ta chờ nhau ở tửu quán kế bên sở Quan Thuế ngay đầu bến.
Lam Y nói :
- Được, hiền huynh cố gạn xem cha con ngư phủ nói gì.
Chu Đức Kiệt theo xa xa. Cha con Phùng Tam lẹ chân về bến rẽ tay hữu vào xóm chài thật. Hai người đi quanh co đến căn nhà tranh vánh có hàng rào gai bao bọc, đẩy cổng tre bước vào. Lão ngư phủ lúi húi mở khóa cửa trong khi Phùng Tam máng chiếc thúng sơn lên vách đất đầu nhà rồi vào theo sau.
Trong nhà vắng vẻ, Phùng Tam mở chốt cánh cửa sổ nhỏ ở hai bên trái nhà. Hai cha con bỏ nón, cởi áo treo lên mắc, vừa quay ra thì thấy một người đứng lù lù ở giữa cửa từ lúc nào, nên cả hai đều giật nảy mình, nhưng nhận xét ra ngay là một trong ba người đi với người có tuổi hỏi mua cá lúc nãy.
Chu Đức Kiệt tươi cười :
- Xin lỗi, đã đến bất ngờ nhé! Tôi có việc muốn nhờ lão ông và đại ca.
Thấy mọi người hỏi mình phương phi hào tuấn, lễ phép, cha con họ Phùng an tâm mời ngồi xuống bộ ghế tre lên nước bóng nhoáng.
Đức Kiệt nói :
- Người nhà đi vắng cả sao.
Phùng Tam nói :
- Chỉ có hai cha con tôi thôi. Gia mẫu mất cả rồi mà tôi thì chưa lập gia đình.
Lão ngư phủ hỏi :
- Quý danh là gì? Tìm chúng tôi có việc chi :
- Tôi họ Chu, không phải người xứ này. Lúc nãy, trên bờ sông không tiện nói, e kẻ qua người lại. Tôi muốn hỏi thật điều này, bán cá Lý ngư phát tài lắm nhỉ.
Cha con họ Phùng nghi ngờ, nhìn đăm đăm vào mặt Đức Kiệt cố tìm, nhận xem có thấy nét gì đáng nghi không.
Đức Kiệt điềm đạm chịu sức nhìn của bốn con mắt xoi mói đó.
Hồi lâu, lão ngư phủ nói :
- Phát tài hay không, đại ca đã trông thấy hồi nãy đó. Mười lượng bạc một con Lý ngư trái mùa cũng có người tranh giành mua nhau. Chính lão ông đi với đại ca hỏi mua chớ còn ai nữa.

Đức Kiệt mỉm cười, nét mặt thật thà rất dễ tin :
- Gia thúc và hai thiếu nữ là gia muội đấy. Trông bộ tịch thế này, chúng tôi làm gì có tiền mua. Trả giá mua hộ một vị Trại chủ cho bọn chúng tôi ở nhờ đó. Mười lượng bạc một con! Dễ kiếm quá. Không mấy chốc có vốn lớn.

Phùng Tam phì cười :
- Phải! Dễ kiếm lắm! Có lẽ Chu đại ca tưởng ngày nào cũng bắt được Lý ngư trái mùa và dễ bắt lắm phải không.
Đức Kiệt chậm rãi lắc đầu :
- Tôi không tưởng gì cả. Chỉ nghĩ rằng nếu bắt được thứ cá ấy tôn thì sẽ phát tài to.

- Dĩ nhiên rồi, làm thế nào bắt nổi cá mới được chứ :
- Trừ gia thúc ra, ba anh em tôi đều thạo môn bơi dài, lặn sâu. Bốn chúng tôi từ xa đến đây không ngoài mục đích kiếm việc làm hay buôn bán lặt vặt kiếm tiền. Nay chợt thấy lão bá và đại ca bán Lý ngư được giá, nên muốn hỏi thăm học đòi kiếm tiền. Hoặc giả nhị vị chung sức làm việc càng hay.

Lão ngư phủ bảo Đức Kiệt :
- Lý ngư đầy rẫy trong Kế Giang đầm, của trời có dành riêng gì cho một ai. Chu đại ca thử coi riêng xóm chài này có bao nhiêu người. Nếu dễ kiếm, họ đã đổ xô vào việc bắt Lý ngư kiếm lời, tội chi phải ra sông chài lưới suốt ngày khổ thân! Cả xóm này mới có một mình cha con tôi bắt thứ cá trái mùa quý hóa ấy thôi. A Tam không lặn giỏi, sành nghề, dài hơi ở lâu dưới nước được thì tôi cũng đành chịu. Có bát ăn là nhờ ở nó. Nhưng thiệt tình không dễ đâu.

Đức Kiệt vái cha con họ Phùng mà rằng :
- Chu mỗ rất phục tài của nhị vị. Không biết sức lặn của tôi có được bằng Phùng đại ca hay không, tôi muốn thử xem may ra theo nổi phần nào chăng. Chỉ e phạm vào quyền lợi của lão bá và đại ca thôi.

Phùng ngư phủ vuốt chòm râu lưa thưa trên cằm, cười ha hả :
- Mối lợi thật đấy, nhưng không khai thác nổi một mình! Phải không A Tam.

Phùng Tam nghiêm nét mặt :
- Chu đại ca à, gia phụ thiệt tình đấy. Như tôi chẳng hạn, bắt được hai Lý ngư, phải lặn tới đáy Kế Giang đầm, sâu tới hai trượng rưỡi, có chỗ ngót bốn trượng. Bắt xong hai con, thì mệt muốn đứt hơi rồi, giá có nữa cùng đành chịu không dám xuống lần thứ ba. Nhiều khi lặn tới hai lần mà chẳng được con nào vì Lý ngư chui hết vào khe đất ven đầm. Xét vậy đủ hiểu cha con tôi hoan nghênh sự hợp tác của đại ca thế nào.
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 1
 
Posts: 687
Joined: Wed Nov 23, 2011 5:39 pm
I am: Reader

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp

Postby Editor 1 » Thu Jul 17, 2014 10:13 pm

(Hồi 39 Tiếp)

...
Đức Kiệt thừa dịp nói giọng thông thạo :
- Thế mà tôi cứ lo rằng lỡ bắt được nhiều Lý như quá, không có chỗ tiêu thụ sẽ phải hạ giá thì không nên. Tôi nói tới nhiều quyền lợi là thế.
- Trời ơi! Lo chi chỗ tiêu thụ. Đấy nhé: Đại ca và nhị vị lệnh muội cùng tôi tổng cộng vỏn vẹn có bốn người.

Cứ nói đại là mỗi người bắt nổi hai con, vị chi là tám con. Với tám con Lý ngư ấy, đại ca chưa đủ tiếp tế cho một tửu lầu trả giá cao, đừng nói gì cả thành Trường Sa rộng lớn xa hoa nữa. Mà chẳng cần vào phủ thành, tôi có mối bán luôn ngoài này. Hồi nãy, sở dĩ tôi định đem cá vào thành là vì cần giữ cảm tình với một đại tửu lầu xưa nay vẫn tiêu thụ cá của tôi.

Được dịp, Chu Đức Kiệt hỏi :
- Mối ngoài bến là ba vị đại hán hồi nãy phải không.
Phùng Tam gật đầu :
- Phải rồi. Họ vẫn mua cá của tôi. Gặp thì họ tự cầm cá về, thường thường khi bắt cá xong xuôi, cha con tôi chèo ghe đem đến cho họ. Trả cao giá có phần hơn nội thành.
- Họ ở gần hay xa.
- Gần, xa có nói đại ca cũng không biết được. Khi nào hợp tác, đi cùng tôi mới hiểu.
Lão ngư phủ tươi cười :
- Chu đại ca sức vóc thế kia, chắc họ mến lắm. Thằng A Tam nhà tôi bị họ cợt là yếu đuối hoài.

Đức Kiệt ra bộ vui mừng :
- Nếu vậy, ta làm việc ngay kẻo mất thì giờ quý báu. Có cần mua ghe không? Chúng tôi có chút ít vốn liếng.
Phùng Tam thực thà, ngắt lời :
- Khỏi cần. Ghe nhà có sẵn rồi dư sức chở mười người. Vợt lưới để tôi lo cho, chỉ cần áo vải dầu để lặn, vận thường phục ngấm nước lạnh chết.
- Áo vải dầu phải mua ở đâu.
- Trong thành, gần chợ thiếu gì? Có đủ các cỡ. Xem cẩn thận kẻo có cái bị thủng. Thứ áo này người ta buôn từ Quảng Đông về.
- Bao giờ chúng ta có thể bắt đầu cuộc hợp tác được.

Phùng ngư phủ đứng dậy đi tới bàn thờ Ngũ Hồ lấy cuốn lịch, lật đi lật lại xem hồi lâu :
- Ngày mai đại cát cho việc hùn hạp, chắc không sửa soạn kịp. Qua bữa mai phải chờ bốn hôm nữa.
Đức Kiệt cả mừng, vội nói :
- Được, sửa soạn kịp, mai chúng ta nên cùng vào Kế Giang đầm cho biết chỗ và lấy ngày tốt. Sau đó ra quán “nhậu nhẹt” một bữa lấy may, rồi sẽ bắt đầu vào việc.

Phùng Tam nói :
- Dù không đáng kể, chúng ta cũng nên giữ kín sự hợp tác sanh nhai. Họp nhau chè chén ngoài tửu quán lộ liễu quá, để tôi mua thực vật về nhà tiện hơn.

Muốn cho cha con họ Phùng tin hơn, Chu Đức Kiệt nói :
- Nếu có dịp mướn được căn nhà nào gần đây, Phùng đại ca cứ tự tiện lấy hộ. Từ phủ thành ra đây mất công quá :
- Phải đó, tôi sẽ chú ý đến giúp việc ấy. Hiện thời hãy lưu thông bằng phương tiện xe ngựa bình dân, rẻ lắm. Có quan tiền một xuất đi.

Chu Đức Kiệt móc túi lấy hai mươi lượng bạc, trịnh trọng đưa cho Phùng lão :
- Nhờ lão bá giúp đỡ việc mướn nhà và làm bữa rượu mừng đoàn kết ngày mai. Giờ đây, tôi ra về tìm mua áo vải dầu. Gia thúc và gia muội còn chở cả ngoài quán.

Lão ngư phủ cầm bạc, thân mật :
- Sáng mai, đầu giờ Thìn, ra đấy nhé. Ta sẽ chở ghe thăm thú mấy chỗ, cần quen thuộc mặt sông mới thành ngư phủ được.

Chu Đức Kiệt từ tạ ra về.
Chàng ra thẳng tửu quán kế bên Ty quan thuế.

Lam Y, Âu Dương Bích Nữ cùng Thiết Xích Tử đang ngồi uống nước.
Chu Đức Kiệt bước vào thuật việc cha con Phùng ngư phủ cho ba người nghe.

Lam Y nói :
- Ngờ đâu công việc tiến triển mau lẹ như vậy, tôi có cảm tưởng theo đúng hướng đấy... Trương tiên sinh và huynh, tẩu có biết tại sao không.

Không ai bảo ai mà ba người cùng nói :
- Mũi chủy!
Nàng gật đầu :
- Phải rồi, mũi chủy mà ba tên mua Lý ngư giắt ở đai lưng y hệt mũi chủy gài phong thơ hăm dọa Hoàng Hoa phiêu cục. Ta có thể kết luận, bọn Lôi Chấn, Cửu quái là thủy tặc. Hay nói cho đúng, chúng là những tên mới đến đây họp với thủy tặc ở đây hoành hành.


Chu Đức Kiệt hỏi :
- Lúc nãy theo ba tên ấy thế nào.
Âu Dương Bích Nữ đáp :
- Đi được một quãng, chúng xuống xuồng tam bản neo bên bờ sông đi thẳng.
- Đụng độ với bọn thủy khấu, hiền muội nghĩ sao đây?
- Nghĩ gì? Bơi lội hả? Được lắm. Ai đã lên Tung Sơn Thiếu Lâm tự tất biết ở phía Nam Thái Thất sơn có Trấn Võ động, nơi Đạt Ma sư tổ ngồi tham thiền khi xưa trước khi hoàn thành chùa Thiếu Lâm tự. Ngay trước cửa động Trấn Võ có một cái hồ chính, Sư tổ đặt tên là Lộng Nguyệt, quanh năm suốt tháng nước trong vắt. Lộng Nguyệt hồ sâu bốn trượng. Môn đồ nào học “thủy công”, Chiêu Đức sư trưởng đều bắt lặn thử tới đáy hồ, thành công mới được hạ sơn cũng như phải qua lần “Mộc nhân, mộc mã”.
- Tiểu muội đã xuống tới đáy hồ đó lấy được cây Thiết trượng do Thiền sư phóng xuống. Còn hiền huynh và cô muội.

Lam Y nói :
- Gần trang trại nhà ở Bình Dương huyện. Sơn Đông có lạch Tả Giang, lòng Tả Giang sâu bao nhiêu không hiểu, nhưng Chu huynh và tiểu muội mỗi chuyến bơi, đã từng lặn thì từ địa phận Chu gia qua bên Lôi gia và trở về. Quãng đường bơi lặn khứ hồi ấy độ ba dặm.

Âu Dương Bích Nữ nói :
- Điêu luyện rồi còn gì? Chiêu Đức sư trưởng thường nói: “Lặn trên một dặm đường đáng liệt vào hạng Thánh Thủy rồi, đừng nói chi ba dặm”.
Nghe Tam hiệp nói chuyện Thủy Công, Thiết Xích Tử xua tay :
- Cho phép Trưởng mỗ ngồi trên ghe thôi. Tôi đại kỵ thủy! Lặn thì chắc chắn xuống sâu lắm, nhưng không bao giờ thèm lên nữa.

Chu Đức Kiệt nói :
- Hồi nãy tôi có cho cha con ngư phủ hay rằng “gia thúc” và gia muội cùng thạo Thủy công, có thể xuống đáy Kế Giang đầm bắt Lý ngư dễ dàng không thua chi chàng Lăng Lý Bạch Điều Trương Thuận ở Lương Sơn Bạc. Mai mốt Phùng Tam yêu cầu tiên sinh trổ tài thủy sư thì làm thế nào?
- Đại hiệp nói bậy thì chịu lấy, chớ tôi biết nói sao... À, hay là tôi sẽ bảo và rằng mới bị cảm hàn xong thì thôi chuyện chớ gì.

Tam hiệp nhìn nhau tức cười. Đức Kiệt gọi tiểu nhị tính tiền hàng, rồi bốn người mướn xe về thành. Vợ chồng Hoàng Hoa Chiếm còn chờ bữa trưa. Lam Y hỏi Trương Tam Nương cho xem lại mũi chủy gài phong thơ.

Trương Tam Nương lấy chủy ra, thắc mắc :
- Có việc gì liên can tới mũi chủy này vậy.
Lam Y cầm chủy nhìn qua cố nhận đích xác là không lầm lẫn, đoạn kể chuyện gặp ba đại hán trên bờ sông, và việc Chu Đức Kiệt liên lạc với cha con ngư phủ cho bốn người nhà Hoàng Hoa nghe.

Hoàng Hoa Chiếm suy nghĩ giây lát :
- Bây giờ đành nhờ Tam hiệp lợi dung cha con họ Phùng kiếm sào huyệt của bọn thủy tặc đã. Hoặc giả không thấy, ta sẽ nhử mồi chúng thuyền chở hàng, phục kích ngay trên sông.
Trương Tam Nương nói :
- Tìm được sào huyệt thủy tặc, mẻ lưới sẽ đầy đủ hơn.

Không thấy Hoàng Hoa Long, Thiết Xích Tử hỏi Trương Tam Nương :
- Trưởng điệt đâu rồi.
- Long nhi đi hàng cùng hai tiêu sư. Đi Bảo Kính, gần thôi, vừa đi vừa về ba ngày đường. Tạm thời đường gần ngu muội cũng phải cho các cháu đi theo mới an tâm. Thế nào cũng phải thanh toán xong vụ Lôi Chấn mới an trí làm ăn được. Chưa bắt được chúng thì lúc nào cũng nghi hoặc khó chịu lắm.

Trương Tam Nương đi kích thước Tam hiệp, bảo Hoàng Hoa Hổ ra phố mua mấy bộ ái vải dầu và y phục thường để Tam hiệp tiện trá hình lao động.
Hoàng Hoa Chiếm nói :
- Từ nhà ra bến không tiện đường, tôi muốn cho một giai nhân tâm phúc ra chờ thường trực ngoài bến sông, lỡ có việc gì cần thông báo về nhà, quý vị sai y tùy tiện.

Mọi người khen phải.

Sáng hôm sau, Tam hiệp và Thiết Xích Tử đem theo tên gia nhân Trần Đạt.
Vợ chồng Hoàng Hoa Chiếm đưa ra tận cổng, chúc may mắn thành công.

Tới bến, Thiết Xích Tử hỏi Trần Đạt :
- Người chờ ở tửu điếm cạnh Ty quan thuế này. Cẩn thận kẻo người ta để ý nhé.
- Thưa gia gia an tâm, con thường được theo hầu đại tiêu sư đi mọi nơi, nên biết cách phụng sự.

Bốn người kéo đến nhà Phùng ngư phủ. Cha con Phùng gia mừng rỡ đón vào. Phùng Tam hỏi :
- Quý vị điểm tâm chưa.
Đức Kiệt nói :
- Ăn sáng cả rồi. Nếu đại ca chưa ăn xin cứ tùy tiện.
- Chúng tôi quen ăn sớm rồi. Đi đi kẻo trễ. Hôm nay không cần đem theo các bộ áo dầu. Ta đi thăm địa thế, mai sẽ làm việc.

Trừ Thiết Xích Tử, Tam hiệp vận y phục chài lưới không thể nào giống hệt ngư phủ chính cống, nhất là Lam Y, Âu Dương Bích Nữ nước da trắng hồng khác hẳn phụ nữ dân chài, ngăm ngăm bánh mật vì đời sống trên sông nước. Thiệt ra hai thiếu nữ ấy giang hồ du hiệp luôn luôn bôn tầu dặm trường, nắng gió là thường đâu có cổng kín cao tường, tháng ngày quanh quẩn phòng khuê, nắng chẳng đến mặt, gió chẳng tới người. Ngoài ra, cả hai còn luyện tập thường ngày vậy mà nước da vẫn trắng trẻo mịn màng, phải chăng đó là nước da thiên phú hay công luyện khí huyết điều hòa, đầy đủ nên tốt da.

Người trong xóm thấy cha con họ Phùng đi với mấy tân hữu đều lấy làm lạ chăm chú nhìn. Tam hiệp có thản nhiên không chút ngượng nghịu.

Ra tới bến sông, sáu người còn đi một quãng nữa mới đến chỗ neo thuyền. Chiếc thuyền khá lớn, có hai máo chèo tiền hâu, Mui tre đan ở gần phía sau. Chu Đức Kiệt gỡ dây cột thuyền thành thạo như một ngư phủ lành nghề.

Lão ngư phủ khen :
- Chà! Thạo quá! Ai dám bảo là Chu đại ca mới vào nghề.
Đức Kiệt cười :
- Tuy trước đây không phải dân chài, nhưng tôi vẫn chèo thuyền nên biết qua loa.
Phùng Tam hỏi :
- Chu đại ca chèo mái tiền hay hậu.
- Để tôi đứng sau, đại ca thuộc đường hướng dẫn vẫn hơn.
Hai mái chèo nhặt khoan khua nước, con thuyền từ từ ngược dòng Lăng Lý.

Thiết Xích Tử gợi chuyện Lão ngư phủ. Hai người cũng suýt soát tuổi nhau, nên xưng hô bằng anh em.
- Trên sông này có cướp bao giờ không.
Họ Phùng đáp :
- Thủy cũng như bộ, chỗ nào mà không có tặc đạo? Đất rộng quá, thêm núi non, rừng rậm sông ngòi hiểm trở. Nhưng chúng ta lo gì bị cướp? Những tay thủy tặc thiệt họ đếm xỉa chi tới anh em chài lưới? Họ nhắm các thuyền hàng lớn, có giá trị mới ra tay hành động làm một “mẻ” ăn nhiều ngày chớ không thèm đánh vặt. Trên dòng Lăng Lý giang này cũng đã nhiều thuyền hàng nếm mùi thủy tặc.

- Vậy ư? Chúng hành động ngay ở đây.
Họ Phùng lắc đầu :
- Không. Thủy tặc dại gì mà đánh thuyền ngay ở đây! Họ hành động cách đây mười, mười lăm dặm, thượng lưu Lăng Lý giang.
- Chúng không “ăn hàng” ở hạ lưu sông xa với bến thuyền sao.
- Không bao giờ tôi thấy như vậy cả. Theo lời các thủy thủ của thuyền bị cướp thì bọn thủy tặc hành động ở thượng lưu cách đây trên mười dặm, giữa một vùng mà hai bên tả, hữu ngạn sông đều cây cối, lau sậy um tùm.

- Người xứ này gọi khu ấy là Hoang Địa, cũng có người gọi là Nghịch Địa.
- Lỗi huynh tới khu Hoang Địa bao giờ chưa?
- Tôi qua đó nhiều lần rồi. Từ ngày kiếm ăn được ở Kế Giang đầm nhờ tài sức A Tam tôi không đến khu đó nữa. Phòng bị vẫn hơn.

Giả đò suy nghĩ, Thiết Xích Tử hỏi :
- Không hiểu tục lệ Trường Sa thế nào, các nơi khác, tôi thường thấy Phiêu cục nhận bảo vệ hàng hóa đi mọi nơi bằng cả hai đường thủy lục. Chắc các thuyền hàng bị cướp nơi Hoang Địa không có tiêu sư hộ vệ.

Phùng Tam nghe thấy vừa chèo thuyền vừa nói :
- Trường Sa cũng như mọi nơi, nhiều Phiêu cục mở tiệm nhận hàng. Trước kia, thủy tặc còn cướp chiếc nọ chiếc kia, miễn là có hàng hóa đáng giá, từ ít lâu nay, chúng đánh toàn thuyền được hộ vệ. Các tiêu sư sợ xanh mặt. Theo lời các thủy thủ làm việc lâu tại những ghe thuyền bị nạn hình như bọn tặc đạo đó hung dữ lắm. Các tiêu sư bị thua đẩy xuống sông bơi trốn mới thoát khỏi tay chúng.

Lão ngư phủ nói :
- Những việc này đồn dậy cả bến sông. Bọn thủy thủ uống rượu trong các tửu điếm, nói chuyện công khai. Bởi thế, anh em ngư phủ nghe đồn mới rõ chuyện.
Chu Đức Kiệt nói :
- Đất Trường Sa không có tiêu sư giỏi, bị thua thủy tặc là phải lắm.

Lão ngư phủ phản đối :
- Sao lại không? Tôi ở đất này nhiều năm, rồi từ ngày chưa sanh A Tam nên biết nhiều. Tiêu sư nổi danh, được khách nhất Trường Sa là họ Hoàng Hoa. Họ ấy áp tải đường bộ nhiều hơn là đường thủy. Đoàn hàng nào qua đất Giang Tây vẫn quá giang ngay tại bến sông trước mặt mọi người. Phiêu kỳ cắm ở đầu đoàn đề tên Phiêu cục rõ ràng :
- Danh tiếng mà vẫn bị thủy tặc đánh ư, lão bá.

Lão ngư phủ lắc đầu :
- Không, họ Hoàng Hoa chưa bị lần nào cả. Tặc đạo thủy bộ đều kiêng nể Phiêu cục ấy. Gần đây đồn rằng bọn thủy tặc Hoang Địa sẽ không như trước, chúng quyết đánh cả đoàn áp tải Hoàng Hoa. Nhưng tin sao được các lời đồn đại? Phiêu cục Hoàng Hoa truyền tử ở đất Trường Sa rất danh tiếng.

Thiết Xích Tử hỏi :
- Bị thủy tặc quấy phá như thế, mà các thuyền hàng vẫn lưu thông ư?
- Không, nhiều người bỏ đường sông, tải hàng bằng đường bộ, chịu mất thì giờ vì đường vòng trái lại tương đối chắc chắn hơn :
- Hiện thời đã có mấy thuyền chủ chở thuyền đi nơi khác kiếm ăn. Họ sợ cháy thành vạ lây, thuyền bị đắm thì hết nghiệp.
- Quan quân không tuần tiễu trên sông hay sao?
- Có chứ! A kia kìa, ba chiếc thuyền xuôi dòng sông về bến. Quân thuyền tuần tiễu đấy.

Mọi người chú ý nhìn theo tay Lão ngư phủ chỉ. Quả nhiên, ba chiếc thuyền sơn đen sì lướt vùn vụt trên sông quân, lính võ trang nghiêm chỉnh, dàn cả hai bên mạn thuyền, viên võ tướng chỉ huy đơn đao, đứng ghếch chân lên đầu mũi thuyền, bên hiệu kỳ màu xanh đề chữ “Bàng”.

Toàn thể thiệt oai dũng kiêu hùng, quân tướng trang phục đồng đều, quần áo chẽn màu chàm tiện dụng cho việc bơi lội.
Phùng Tam và Chu Đức Kiệt buông lỏng tay chèo, sáu người cùng chăm chú nhìn theo ba chiến thuyền, lướt sóng, y hệt ba con kình ngư khổng lồ.

Lão ngư phủ nói :
- Lão huynh và quý vị coi, lực lượng quan quân thập phần mạnh mẽ. Thủy khấu dại gì lộ diện khi đoàn tiểu tuần đi qua? Chúng ẩn mình trong rừng cây chi chút hai bên bờ sông, và chỉ xuất hiện khi cần đánh một mục tiêu mà chúng đã dò biết từ trước. Muốn đẩy thủy khấu ra khỏi sào huyệt, quan quân ít nhất phải mở cuộc rảo thanh toàn diện cả hai bên bờ và dòng Lăng Lý dài hàng mấy ngàn dặm! Đánh nơi này, chúng quấy phá nơi khác lưu động vô chừng. Ngu dốt như bọn dân chài chúng ta cũng phải hiểu theo lẽ tự nhiên như vậy.

Thiết Xích Tử gật gù :
- Lão huynh suy luận xác đáng. Tức là các thương thuyền chỉ có thể trông cậy vào sự bảo vệ của tiêu sư. Tại sao họ không họp thành từng đoàn thường thuyền đi cho đông dưới sự bảo vệ của các tiêu sư kết hợp, khỏe mạnh biết ngần nào.

- Nếu tình trạng bị đánh nơi này kéo dài, có lẽ khách thương sẽ đi tới biện pháp ấy.
Tam hiệp lặng lẽ nghe Thiết Xích Tử gợi chuyện Phùng ngư phủ và ngắm phong cảnh giang đầu.
Không mấy chốc thuyền đã đi xa bến, Phùng Tam lái vào một lạch nhỏ bên tả ngạn. Y nói.
Kế Giang đầm kia rồi.

Mọi người nhìn theo. Quả nhiên, cánh bờ sông độ bốn chục trượng có một đầm nước khá rộng hình tròn, chung quanh cây lớn um tùm, lả lơi soi bóng trên mặt nước xanh rờn.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Kế Giang đầm ăn thông với dòng Lăng Lý, Lý ngư thoát hết ra sông chớ còn gì.

Phùng ngư phủ nói :
- Không khi nào, Lý ngư là giống cá hồ không ưa nước chảy xiết.
Vào tới đầm, Phùng Tam bơi thuyền vòng quanh, giảng giải chỗ này sâu bao nhiêu, nơi kia vừa vừa bao nhiêu.
Lam Y và Âu Dương Bích Nữ ra mạn thuyền vớt rước mát rượi.

Âu Dương Bích Nữ nói :
- Mặt nước giá thế này, đáy đầm rất lạnh lắm.
Phùng Tam gật đầu :
- Thiệt lạnh. Dù có áo dầu không ngấm nước, nhiều khi chịu không nổi sức lạnh.
Dứt lời, y buông tay chèo, ngồi xuống mũi thuyền.
Chu Đức Kiệt cũng buông chèo ngồi ghếch trên mũi tre đan.

Chàng kiếm cách gợi chuyện họ Phùng về việc bán cá :
- Vắng vẻ thế này mà Phùng đại ca có mối bán Lý ngư tại chỗ, thế này mới biết nhiều người ưa chuộng thứ cá đặc biệt, đó. Gần đây có làng mạc.

Phùng Tam trịnh trọng đáp :
- Không có làng mạc nào cả. Khu này tuy cây cao bóng cả như vậy, nhưng hãy còn lẫn lau sậy. Theo bờ sông độ hai dặm nữa mới hoàn toàn rừng rậm âm u...

A Tam nhìn bốn tân hữu đồng nghiệp ngập ngùng.
Lão ngư phủ đỡ lời con trai :
- Chúng ta đã hợp tác rất cần coi nhau như anh em một nhà, cởi mở hết tâm tình mới mong hùn hạp lâu dài. Công việc của ta không ngoài mục đích sanh nhai, bắt cá bán lấy tiền, khó nhọc, nguy hiểm mới kiếm nổi đồng lời.

Mối hàng không ai xa lạ, chính là ba người khách hôm qua đó. Ba tháng trước đây, họ mua cá lần đầu ngay ngoài đầu lạch kia kìa, và từ đó hẹn ngày nào có cá cũng dành riêng cho họ, bán ngoài bao nhiêu trả tiền bấy nhiêu. Thường nhựt, vào quãng giờ Tỵ, ba người bơi xuồng tam bản vào đây lấy cá. Bữa nào, A Tam mệt, không lặn cũng báo cho họ biết trước.

Chu Đức Kiệt hỏi :
- Hôm qua bất thường nên mới gặp họ giữa đường về bến.
- Không phải. Đáng lẽ cha con tôi vào chỗ của họ giao cá, nhưng A Tam muốn vào thành bán cá giữ mối bán hàng cho đến mùa, chẳng ngờ gặp ba người ấy gần bến. Họ trách tôi, quý vị cũng nghe thấy phải không.

Đức Kiệt gật đầu :
- Nhà họ ở mãi đâu?

Lão ngư phủ đáp :
- Làm gì có nhà! Họ thường chờ lấy cá ở gốc ba cây đa bên hữu ngạn.
- Nghĩa là ở trong rừng.
- Phải, mấp mé bến nước. Ba cây đa cổ thụ thiệt lớn, rễ chằng chịt ăn cả xuống bờ sông. Ngồi ở đó, họ trông thấy mặt sông, trái lại thuyền bè qua sông không thể trông thấy họ.

Thiết Xích Tử vờ ngạc nhiên :
- Sao kỳ vậy... Hay là... Hay là...

Lão ngư phủ nét mặt nghiêm trọng, hạ thấp giọng như sợ rừng cây nghe tiếng :
- Thủy khấu!... Phải cha con tôi cũng ngờ họ là thủy khấu. Nhưng ba người ấy làm gì có phương hại mình đâu. Mua cá trả tiền sòng phẳng, dễ dãi. Gặp mối bán hàng, thì bán kiếm lời, đỡ mất công vào tận trong phủ thành. Không thông đồng với họ cướp thuyền hàng, hay do thám tin tức cho họ thì thôi :
- Ờ! Lão huynh nói đúng, tôi đồng ý. Ngoài việc bán cá, ta không dính líu vào việc tư của họ để lương tâm cắn rứt là được rồi.
- Vả lại tôi phỏng đoán chớ có biết chắc ba người ấy là thủy khấu đâu? Bởi vậy, cha con tôi cần bộc lộ sự thật với quý vị để tránh hiểu lầm nhau sau này.

Tam hiệp, Thiết Xích Tử mừng thầm, do lòng ngay thẳng của cha con họ Phùng mà có lẽ đã tìm được đầu mối thủy khấu. Còn nghi ngờ chi nữa! Ba tên ấy chắc chắn là đồng bọn thủy tặc hoành hành nơi Hoang Địa. Chúng dùng tiền tài bịt mắt cha con ngư phủ, nhưng lừa sao nổi bốn hiệp khách giang hồ.

Chu Đức Kiệt hỏi Lão ngư phủ :
- Lão bá có biết tên họ ba người ấy không?
- Theo lời họ xưng hô với nhau, hình như cả ba là anh em ruột và họ Cảnh.
- Lão bá xưng hô với họ thế nào?
- Cứ gọi là Cảnh tiên sinh như thường...

Bỗng tiếng chèo bì bõm vọng tới, khiến sáu người nhìn ra phía lạch nước.
Phùng ngư phủ nói :
- Chúng tới kia kìa, quý vị cứ tự nhiên, nhận là cùng họ với tôi ở Quế Lâm lên nhé.
Ba đại hán hôm qua chèo thuyền tam bản vào Kế Giang đầm.
Người lớn tuổi hơn cả bắc loa gọi lớn :
- Phùng đại ca, hôm nay đông người thế? Được nhiều Lý ngư lắm hả.

Lát sau, ba người chèo đến nơi. Phùng Tam nói :
- Hôm qua tôi không được khỏe nên nghỉ lặn. Nhân tiện có bốn người đồng hương ở Quế Lâm lên muốn hợp tác bắt cá, tôi đưa vào đây thăm thú Kế Giang đầm.

Quay về phía Tam hiệp và Thiết Xích Tử, Phùng Tam giả đò giới thiệu :
- Đây là ba vị khách hàng chuyên mua cá của tôi.
Tam hiệp và Thiết Xích Tử, cúi đầu chào.
Ba đại hán chào lại, đăm đăm nhìn Lam Y, Âu Dương Bích Nữ.

Người trẻ tuổi nhất nói :
- Hình như bốn người hỏi mua cá hôm qua mà.
Phùng Tam chống chế :
- Ba vị tiên sinh nhầm đó. Người họ tôi mới lên đang thăm thú bến sông, thì gặp tôi đem cá trở về. Xa nhau lâu cơ hồ không nhận được mặt nữa, sau đó hỏi thăm tên họ mới biết là anh em đồng hương.

Lão ngư phủ cũng nói thêm :
- Vị bằng hữu và ba cháu chúng tôi lặn giỏi lắm, hơn cả A Tam tình nguyện ở lại đây hợp tác bắt Lý ngư mùa bán trong nội thành. Tôi rất mừng A Tam có người cộng tác đỡ mệt.
Ba đại hán nhìn nhau như thăm dò ý kiến. Cả ba cùng gật đầu, mỉm cười. Người trẻ tuổi chỉ hai người đứng hai bên mà rằng.
- Không phải bán cá đi đâu hết. Có bao nhiêu chúng tôi mua bấy nhiêu. Chắc Phùng đại ca đã nói chuyện cho bốn vị mới đến về anh em tôi. Đây là trưởng huynh tôi Cảnh Đắc Vưu. Đây là nhị huynh tôi Đắc Thường, còn tôi là Đắc Phu. Biết tên giao dịch mua bán xưng danh cho tiện.

Chu Đức Kiệt cũng chỉ ba người nhà :
- Đây là gia cửu Trường Sơn, hai em gái tôi Nhị Muội, Tam Muội, Tôi là Chu Nhất Lang, sanh quán tại Quế Lâm.
Cảnh Đắc Vưu hỏi :
- Bốn vị khỏe mạnh chắc thủy công khá lắm, phải không.

Chu Đức Kiệt đáp :
- Chúng tôi cũng ở bờ Lăng Lý giang nên học thủy công từ nhỏ. Dòng sông này bắt nguồn từ Kinh Nguyên huyện chảy qua xứ tôi mới về qua đây :
- Phùng đại ca đã chỉ chỗ giao cá cho chúng tôi chưa.
Chu Đức Kiệt giả đò ngớ ngẩn :
- Nghe nói ngày nào quý vị cũng ra đây lấy cá mà.

Cảnh Đắc Thường phì cười :
- Không có việc gì, rỗi rãi mới qua đây, giờ này không thấy chúng tôi tới thì cứ việc đem cá đến chỗ ba cây đa.
Phùng Tam nói :
- Tôi dẫn bốn người mới đến đó bây giờ. Ba vị trở về hay ra đi bến.
Ba anh em Cảnh gia nhìn nhau hỏi ý kiến, Cảnh Đắc Vưu đáp :
- Tôi ra bến chốc lát. Bữa nay không có Lý ngư, tôi trở lại đó không ích lợi gì cả. Anh em thăm thú cho biết chỗ, mai sẽ gặp nhau.

Nói đoạn, ba người trở mũi tam bản chèo trở ra.
Cảnh Đắc Phu, Đắc Thường nhìn chằm chặp Lam Y và Âu Dương Bích Nữ.

Chờ thuyền tam bản ra khỏi đầm, Chu Đức Kiệt hối Phùng Tam chèo đi.
Hai bên ngạn sông, lau sậy lần lần thưa thớt, nhường chỗ cho rừng cây rậm rạp.

Tam hiệp và Thiết Xích Tử vừa nói chuyện viển vông với cha con họ Phùng, vừa chú ý nhận xét cảnh vật trên sông.
Các thuyền chài lưới thưa dần. Mỗi mái chèo là đưa con thuyền tiến vào nơi vắng vẻ.
Lão ngư phủ nói :
- Từ đây trở đi không ai chài lưới nữa, chẳng như ở hạ lưu sông, dân chài đi xa bến có khi ở hẳn trên sông vài ngày, đầy cá mới về.

Lam Y nghĩ thầm:
“Dĩ nhiên, khúc sông dữ thế này, còn chài nào dám buông lưới. Đây đúng là cảnh giang đầu thủy khấu”.
Thuyền lướt nhẹ trên sông do mái chèo dẻo dai, mạnh mẽ của chú chài Chu Đức Kiệt. Độ trên hai dặm đường, mọi người bắt đầu trông thấy khóm cây um tùm, cành lá rườm rà ra mặt nước.
Phùng Tam nói :
- Tới nơi rồi, khóm đa kìa kìa.

Lát sau, Phùng Tam ghé thuyền vào chỗ rễ đa chằng chịt như những con trăn khổng lồ đang quằn quại quấn lấy nhau. Thuyền không vào được bờ vì vướng các rễ đa. Phùng Tam cột thuyền vào một rễ nhỏ. Không hiểu ba cây đa cổ thụ này có từ bao giờ, nhưng các rễ lớn không những đã ăn sâu xuống bờ nước, mà còn sần sùi tết lại thành một khối, nhờ đó Phùng Tam bước trên cái cầu thiên nhiên dị kỳ đó bảy, tám thước mới vào tới bờ.

Năm người lần lượt theo sau. Ba gốc đa cực kỳ lớn. Mỗi gốc vòng kính tới bốn, năm sải tay, khéo chụm vào nhau thành thử đứng giữa quãng trống có cảm tưởng như đứng trong một cái hang lớn, có thể chứa được vài chục người. Đi thuyền ngoài sông, người ta chỉ biết nơi đó có cây đa, lớn nhưng không ai để ý hay ngờ tới đến chỗ vào quá trong bờ sẽ thấy một địa điểm canh phòng cực tốt.

Từ mặt sông trông vào không được vì vướng bụi rậm và cây leo chằng chịt trên rễ đa che kín. Trái lại, người đứng trong bờ vẫn có thể kiểm soát trên mặt sông rất dễ dàng. Trông mặt đất nhẵn lì dưới nơi ba cây đa, bốn tay giang hồ hiệp khách hiểu ngay là người hoặc ở đây, hoặc qua lại khu này không ít.

Phùng Tam nói :
- Ba anh em Cảnh gia vẫn chờ trong cái hang cây này lấy cá. Khi cả ba người cùng chờ, khi một khi hai bất thường.
Trong khi cha con ngư phủ nói chuyện cùng Thiết Xích Tử, Tam hiệp đi dang ra xa tìm vết chân đi :
- Không khó, vết chân người qua lại trong rừng rất dễ thành đường mòn.

Tam hiệp trông thấy ngay. Đường mòn thiệt rõ, cây cỏ bị chà đạp vàng úa, khác hẳn hai bên xanh tốt không dấu chân người.
Không muốn ở lâu, hoặc đi xa hơn nữa, e cha con ngư phủ cho là mình tò mò. Tam hiệp trở về hang cây.
Chu Đức Kiệt nói :
- Nếu ở Kế Giang đầm có một nơi như đây để trú mưa, nắng cũng hay đấy nhỉ.

Lão ngư phủ chép miệng :
- Được như vậy thì còn chi bằng nữa! Tôi vẫn không hiểu vì lẽ gì anh em Cảnh gia ở đây đón cá. Lấy cá xong rồi họ đi đâu? Khám phá ra được cây này từ bao giờ! Kỳ dị quá! Nếu không vì bán cá kiếm lời, cha con tôi cũng đến chịu không dám giao dịch với họ, hay qua lại khu bí ẩn này.

Phùng Tam nói theo :
- Bán cá cho họ đã quen, không hiểu tại sao mỗi chuyến vào đây tôi vẫn cảm thấy rờn rợn thế nào. Nhiều khi anh em họ Cảnh, nhất là người thứ ba Cảnh Đắc Phu, lừ lừ nhìn tôi đến phát khiếp, lạnh cả gáy. Tuy vậy, họ vẫn trả tiền sòng phăng và hiền lành như thường.

Lam Y vẻ mặt nghiêm trọng :
- Thật thế đó. Thấy họ nhìn quá, chị em tôi cũng phát ngán, không biết có dám hàng ngày bơi thuyền vào tận đây trao cá cho họ không? Lỡ xảy ra chuyện bất ngờ thì chết mất.

Âu Dương Bích Nữ nói theo đà Lam Y theo câu chuyện thêm tự nhiên :
- Thôi xuống thuyền đi, đứng đây mãi sợ lắm.
Chu Đức Kiệt cười xòa :
- Nào đi! Nhát như cầy thế, này chắc ai dám tới đây bán cá.

Mọi người xuống thuyền về bến. Gia nhân Trần Đạt lảng vảng gần đó.
Thiết Xích Tử nghĩ thầm để y chờ đó cũng vô ích, bèn ra hiệu cho về.
Lam Y chú ý nhận xét thấy ba người họ Cảnh ngồi trong tửu điếm khác bên kia đường, đang ăn uống với một người trạc tứ tuần.

Nàng đưa mắt cho ba người nhà biết, đoạn thản nhiên theo cha con ngư phủ rẽ vào xóm chài, về nhà họ Phùng.
A Tam vác một cái tháp lớn ra tiệm rượu lấy các món ăn đã đặt sẵn về nhà cúng bái, rồi ngã ra chè chén.

Lam Y sắp đặt chương trình hành động, nên chỉ ăn qua loa mấy miếng :
- Tôi thấy khó chịu muốn nóng lạnh, xin kiếu nhé. Khó chịu từ lúc ở gốc ba cây đa bến nước. Ở đó có ma thiêng chăng.
Cha con ngư phủ tưởng thật định sửa soạn mền gối cho nàng tạm nằm nghỉ.

Âu Dương Bích Nữ biết ý :
- Để tôi đưa hiền tỉ về thành, lỡ đau nhiều còn tiện việc thuốc men.
Chu Đức Kiệt nói :
- Ngu huynh đưa cả hai hiền muội vào thành mới tiện, năm sáu dặm đường lỡ xảy chuyện gì thì sao? Cửu thúc ở lại uống rượu cũng được.
Thiết Xích Tử gật đầu.

- Ờ, các hiền điệt về trước đi.
Lão ngư phủ thật thà lấy vò dầu nóng đưa cho Âu Dương Bích Nữ :
- Cô nương thoa dầu cho lệnh tỉ, rồi hãy ra xe kẻo bị gió. Tiếc quá, bữa tiệc đang vui. A Tam ra gọi xe con.
Lam Y gạt đi :
- Bến xe liền ngay đây, chúng tôi đi được. Lão bá và Phùng đại ca tiếp rượu gia cửu là đủ rồi.
Trên đường vào thành, Chu Đức Kiệt hỏi Lam Y :
- Hiền muội tính chuyện hành động ngay.

Dò được địa điểm của anh em họ Cảnh rồi, chờ làm gì nữa mất công? Nhất quyết ba tên ấy là đồng bọn thủy khấu. Đường mòn ở gốc đa lớn dẫn đến sào huyệt chúng, chắc không sai. Ngu muội giả đau, cốt ý cho cha con họ Phùng tưởng thật để sáng mai khỏi mất thêm thì giờ vào Kế Giang đầm bắt cá với họ, nếu không kịp tổ chức cuộc thám hiểm tìm sào huyệt thủy tặc.

Vào tới Hoàng Hoa phiêu cục, Tam hiệp thuật vụ tìm thấy đường mòn ở gốc đa bên tả ngạn sông Lăng Lý cho vợ chồng Hoàng Hoa Chiếm.
Trương Tam Nương suy nghĩ giây lát :
- Tam hiệp lập chương trình hành động chưa.

Lam Y nói :
- Hôm nay chúng tôi về sớm cốt bàn luận để sáng mai kịp bắt tay vào việc. Cần phải bao vây, bắt cho hết, đánh một trận bất ngờ tất thành công. Trong những vụ cướp trước đây, thủy khấu hành động thế nào?
- Theo các lời chủ thuyền thì thủy khấu dùng đến bảy, tám chiếc tam bản đón ngay trên khúc sông vắng vẻ, bơi lẹ tới áp mạn thuyền hàng, hạ tiêu sư xong, khuân hết hàng hóa xuống thuyền của chúng, bắt thuyền đánh đi khỏi để tránh lộ liễu, rồi chúng mới tháo lui. Hành động thiệt lẹ làng.

Chu Đức Kiệt nói :
- Chắc ở phía trên địa điểm ba gốc đa còn có một đường nước thông ra bờ sông. Do đường nước bí mật ấy, thủy khấu bơi tam bản ra sông thi hành thủ đoạn, rồi kéo về cả đấy chúng chặt cành cây, bụi rậm lấp lớn ngã ấy đi. Quan thuyền tuần tiễu, hoặc thuyền bè nào khác bơi qua giữa sông còn ai ngờ tới đường nước ấy nữa? Việc đón thủy khấu trên sông không thể không nhờ quan quân được. Đành rằng chúng ta tự lực vào đánh sào huyệt thủy tặc, nhưng đốt pháo hiệu để quan quân ập tới bao vây, đón bắt. Như vậy ta rảnh tay sau trận đánh.

Hoàng Hoa Chiếm gật đầu khen phải :
- Tôi có đi lại giao dịch mật thiết với Trung Quân, vậy tôi vào dinh ngay yêu cầu tiếp tay vụ này.

Lam Y nói :
- Sáng mai, đầu giờ Thìn vào gốc đa, trước hết bắt anh em Cảnh gia, sau đó theo đường mòn tiến sâu vào rừng... Dù sao, vụ đánh thủy tặc đây còn ở trong vòng dự đoán. Hoàng Hoa tiên sinh nên dè dặt khi giao tiếp với quan Trung Quân, sau này họ không trách cứ được ra. Ngoài ra, nên bỏ qua cả việc cha con ngư phủ bán Lý ngư cho ba anh em họ Cảnh. Hai người này không có chủ đích gì cả, ngoài sự bán cá kiếm lời. Chắc Trung Quân không nỡ từ chối.

Âu Dương Bích Nữ mỉm cười :
- Giúp tam quan Trung Quân sẽ đứng đầu lập công bắt thủy khấu, lẽ nào người chối từ? Ba tên Cảnh gia thường đi lại bến sông chắc không ngoài mục đích do thám sự di chuyển thương thuyền. Quan quân tất sẽ điều tra bắt nội cho bọn cho tin tức chúng nữa. Hoàng Hoa tiên sinh nên thận trọng giao ước trưởng với Trung Quân, tránh mọi việc bắt oan những kẻ vô tình ngoài bến.

Hoàng Hoa Chiếm nói :
- Tôi theo lời Tam hiệp lo liệu châu đáo.

Nói đoạn tiêu sư gọi Hoàng Hoa Long, bảo sửa soạn cùng vào dinh Trung Quân, trong khi Trương Tam Nương dọn bữa mời ba anh em Chu Đức Kiệt.
Gần chiều hôm ấy, Thiết Xích Tử mới chuệnh choạng về nhà.

Trương Tam Nương hỏi :
- Hiền huynh không quá chén lộ chuyện cho cha con ngư phủ biết chớ :
- Đời nào có chuyện ấy? Càng uống ngu huynh càng tỉnh, hiền muội khỏi lo.

Sáng sớm hôm sau, Tam hiệp, Thiết Xích Tử, vợ chồng Hoàng Hoa và Hoa Long đai nịt gọn ghẽ đem theo bốn trái hỏa pháo do quan Trung Quân Tần Phúc trao cho, ra bến sông xuống thuyền nhà.
Vừa hay lúc ấy, Hoàng Hoa Hổ cùng hai tiêu sư phụ từ bên ngạn sông phía Giang Tây về tới nơi.

Hoa Hổ ngạc nhiên :
- Song thân đi đâu thế này.
Trương Tam Nương không trả lời, bảo Hoa Hổ đi theo và dặn dò hai tiêu sư phụ về thẳng Phiêu cục xem việc nhà.

Anh em Hoa Long, Hoa Hổ chèo ngược thượng lưu Lăng Lý giang rất lẹ. Trương Tam Nương bảo hai con cho thuyền lướt bên hữu ngạn phòng khi gặp bọn Cảnh gia. Hai tay chèo cứng, thuyền lướt như bay trên dòng nước lác đác ngư chài buông lưới. Vừng thái dương ban sớm chưa đủ sức nóng đánh tan màu sương mờ phủ trên sông mát lạnh heo may. Thuyền vẫn lướt bên hữu ngạn vào khúc sông thuộc phần Hoang Địa, Hoàng Hoa Long hỏi.

Tới chỗ vắng rồi, rẽ qua tả ngạn chớ.
Lam Y đáp :
- Không đại ca cứ chèo thẳng, chừng nào qua địa điểm ba cây đa lớn, đi một khúc nữa sẽ xuôi dòng sang tả ngạn đổ bộ luôn mới lợi thế.

Lát sau Âu Dương Bích Nữ chỉ phía trước :
- Ba cây đa kia rồi! Không hiểu giờ này ba tên họ Cảnh đã tới chưa? Nếu chúng đến rồi đổ bộ thẳng vào gốc đa không nên, e chúng phóng mũi chủy ám hại.

Lam Y suy tính mau lẹ :
- Hồi nãy tôi tính cho thuyền xuôi dòng đỡ phải chèo để tránh tiếng khua nước, đổ bộ êm lẹ vào gốc đa, nhưng tẩu tẩu nói phải, lỡ bọn Cảnh gia đến hang cây sớm, chúng trông thấy ta, trái lại ta không trông thấy chúng là điều bất lợi. Vậy lúc này sang tả ngạn thì vừa. Đổ bộ trước một quãng, len rừng vào đánh úp.
Hoàng Hoa Long đổi tay chèo, lái thuyền sang tả ngạn, chèo nhè nhẹ lên một khúc cách gốc đa chừng hai trăm thước, tìm nơi dễ dàng ghé thuyền vào bờ.

Mọi người nhảy lên đất. Anh em Hoàng Hoa lên sau cùng sau khi tháo bơi chèo đặt nằm vào đáy thuyền, Hoa Hổ liệng cây Lê Hoa thương của chàng cho Trương Tam Nương bắt. Hoa Long kéo ghếch mũi thuyền lên bờ, đoạn cùng Hoa Hổ khiêng bỏ vào rừng cây. Thường nhật, Hoàng Hoa Chiếm và con trai lớn sở trường dùng Phương Thiên Hoa Kích cũng như trường khí dùng trong rừng không tiện, nên bữa nay chỉ riêng mình Hoa Hổ cầm Lê Hoa thương vì chàng bất chợt đi áp tải hàng hóa trở về không kịp đổi khí giới, còn ba người kia đều đem theo đoản kích và đoản thương.

Giấu thuyền xong xuôi, tám người bắt đầu tiến, len lỏi qua rừng cây chi chít. Chu Đức Kiệt đi đầu mở đường, chàng không dám chặt cành rừng cho dễ đi, e tiếng động vang đến gốc đa, Hoàng Hoa Chiếm đoạn hậu.
Chim kêu vượn hót ríu rít từ phía trong vọng ra. Đoàn người tiến thong thả, nhẹ nhàng về phía ba cây cổ thụ.

Hồi lâu độ chừng tới nơi, Chu Đức Kiệt ra hiệu ngừng cả lại, đoạn tiến thêm mươi bước nữa ngồi xuống thấp nhìn qua kẽ lá. Quãng rừng trống trước mặt không có ai. Chiếc thuyền tam bản úp sấp bên gốc đa. Trong hang cây không có bóng người.

Đức Kiệt nghe ngóng cẩn thận, rồi lẹ chân trở bước bảo mọi người :
- Ba tên Cảnh gia chưa tới. Chờ đây bắt chúng hay theo đường mòn tiến vào?
Lam Y nói :
- Chờ đây hơn. Không mất thì giờ là bao nhiêu mà chắc chắn loại trừ được ba tên, rảnh tay hơn.

Ai nấy đều khen phải. Tám người ra khỏi khu rậm tiến vào gốc ba cây đa lớn.
Âu Dương Bích Nữ nói :
- Để ba anh em tôi khởi đầu bắt ba tên họ Cảnh trước. Tôi ghét bộ mặt lấm la lấm lét của chúng lắm. Chu huynh cáng đáng tên Cảnh Đắc Vưu, Lam Y cô muội bắt tên thứ nhì Đắc Thường. Mặc tôi tên thứ ba Đắc Phu. Tên này hay nhìn ngó trân tráo nhất. Các vị lên cây cao núp mình cho dễ xem, mặc bọn tôi ẩn trong bụi cây. Lẹ lên, chúng đến nơi bây giờ đó.

Bốn người, gia đình Hoàng Hoa và Thiết Xích Tử chen mấy cây cao, cành lá um tùm gần đấy, phi thân lên cành núp, trong khi Tam hiệp cũng ẩn vào bụi cây gần chỗ con đường mòn.
Lát sau, quả nhiên có tiếng chân người đi tới thiệt. Họ vừa đi vừa nói chuyện, nói lớn, yên trí rằng không có ai trong chốn hoang lâm.
Lúc chúng ở khúc quanh ló ra chỉ có hai người Cảnh Đắc Phu và một tên lạ mặt.
Đắc Phu nói :
- Chúng đem Lý ngư đến tận đây, đầu mục cứ việc nhận, trả tiền đàng hoàng, chờ chúng đi khỏi hãy đem cá về trại, bữa nay chắc có nhiều cá đấy, đầu mục sẽ có dịp thưởng thức tài sắc hai cô chài lưới xinh đẹp bội phần. Tôi muốn mời họ về làm áp trại phu nhân quá!... Hà... Hà...

Nghe vậy, Âu Dương Bích Nữ nổi giận muốn xé tan xác tên tặc đạo ra làm hai. Chu Đức Kiệt và Lam Y nhìn nàng, nháy mắt ra hiệu. Lam Y chỉ tên đầu mục, đoạn chỉ vào ngực mình ra ý dành phần tên đó. Âu Dương Bích Nữ lắc đầu không chịu.

Cảnh Đắc Phu và đầu mục lúc đó đi ngang ngoài bụi rậm, nơi Tam hiệp đang núp.
Chờ chúng qua hẳn độ chục thước, Âu Dương Bích Nữ lẹ làng như vượn, nhảy vụt ra, tay tả túm đai lưng tên đầu mục kéo văng lại phía sau lăn lông lốc vào bụi rậm. Cảnh Đắc Phu giật mình quay lại chưa nhận được tình hình ra sao, thì đã bị Âu Dương Bích Nữ tay tả túm ngực áo, tay hữu bám vai áo kéo giật xuống vai mình độn mạnh.

Đó là thế Thuận Nghịch Di Sơn. Cảnh Đắc Phu bị hất tung người lên khỏi mặt đất, hai chân chơi vơi chỉ thiên, quật lưng đạch một tiếng xuống đấy, nằm thẳng cẳng ngất lịm.
Âu Dương Bích Nữ còn nương tay, quật cho đủ đau bắt sống. Nếu nàng dùng tay hữu kéo giật xuống, thì Đắc Phu sẽ bị đâm đầu xuống đất gãy cổ chết ngay.

Trong khi ấy, Lam Y và Chu Đức Kiệt đang ngồi gò hai tay tên đầu mục lại. Âu Dương Bích Nữ tháo đai lưng họ Cảnh trói gò y lại, cắt vạt áo nhét đầy miệng xách đến bên chiếc tam bản bỏ cạnh gốc đa.
Anh em Chu gia kéo tên đầu mục vào trong hốc đá.


Mọi người cùng từ trên cây nhảy xuống theo vào.
Tên đầu mục sợ hãi, mặt tái mét, run lẩy bẩy, giương mắt láo liên nhìn từ người nọ đến người kia.

Lam Y rút kiếm kề vào cổ y, nạt :
- Mi muốn sống thì nói thiệt, muốn rụng thủ cấp cứ việc khai mau.

Kiếm sắc long lanh chói mắt, kiếm khí giá băng lạnh người, tên đầu mục nhắm mắt lại, rên rỉ :
- Trăm lạy các vị đại vương con xin nói thật.
- Hai tên họ Cảnh kia đâu?
- Dạ. Thất, bát đại vương ở lại trại, hôm nay đại tiệc ạ.
- Phải chăng, bọn bây vẫn đón cướp thương thuyền.
- Dạ, thưa phải.
- Bây có bao nhiều tên đầu đảng, khai mau! Cửu quái ở đâu?
- Đệ nhất đại vương là Lôi Thông, Nhị Tam là Lôi Quyền, Lôi Chấn. Tứ, Ngũ, Lục là Lư Xích, Lư Hoàng, Lư Thanh. Thất, Bát các vị đã biết, còn Đệ cửu bị bắt nằm ngoài kia. Đó là Cửu quái.

- Chúng lập căn cứ này từ bao giờ.
- Thưa tất cả cùng mới đến chưa được hai tháng ạ.
Lam Y quắc mặt nạt :
- Tên này nói sai. Lôi Chấn ở đây từ trước và đã từng bị trúng thương.

Lam Y liếc nhìn lưỡi kiếm lạnh giá lên má tên đầu mục. Nàng lẹ tay, lưỡi kiếm bên như nước đảo bên nọ, lật bên kia, êm ru khiến tên đầu mục đứng chết cứng không dám cử động, e chỉ sợ sơ suất một sợi tóc cũng đủ đứt da chảy máu.

Y run rẩy :
- Thưa nữ đại vương, con mới đến đây nên không biết trước kia Đệ tam đại vương Lôi Chấn đã ở Hoang Địa.
- Người từ đâu đến đây?
- Con theo Cửu quái đại vương từ miền duyên hải Sán Đầu về hoạt động tại đây được trên hai tháng. Căn cứ trong rừng này đã có sẵn do hai đại vương Nhan Sùng Hoán, Huỳnh Công Quyền thiết lập.
- Hai tên Huỳnh, Nhan còn ở đây không?
- Còn khi Cửu quái đại vương đến đây không hiểu có gì xích mích ba hôm sau, hai bên xung đột, Nhan Sùng Hoán, Huỳnh Công Quyền yếu thế bị hạ sát ngay tại chỗ. Hai tử thi được đem chôn trong rừng sâu.

Từ đó mọi người tôn Lôi Thông lên ghế nhất đại vương, và phân ngôi thứ như con đã nói.
Lam Y không hỏi thêm nữa. Nàng hiểu Cửu quái là bọn thủy khấu ngoài duyên hải Sán Đầu do Lôi Chấn dẫn về hoành hành nơi Hoang Địa, thuộc Trường Sa phủ.

Chúng đàn áp Nhan Sùng Hoán và Huỳnh Công Quyền, đoạt căn cứ cho đến nay, Lôi Chấn cậy thế mạnh, biên thơ hăm dọa Hoàng Hoa phiêu cục, báo thù vụ Hoàng Hoa Hổ đâm trúng vai y năm xưa.

Chu Đức Kiệt hỏi đầu mục :
- Từ đây vào trại bọn mi bao xa?
- Thưa độ bốn dặm.
- Đi đường nào?
- Đại vương cứ theo đường mòn này sẽ tới nơi.

Chu Đức Kiệt cắt vạt áo nhét đầy miệng đầu mục.
Lúc đó, Lam Y đã lấy cuộn dây ngoài thuyền tam bản đem vào trói gò tứ chi tên giặc lại. Nàng bảo Chu Đức Kiệt :
- Treo tên này và Cảnh Đắc Phu lên cành cây, lỡ cha con Lão ngư phủ đến khỏi vô tình cắt dây cứu chúng.
- Được lắm, nhưng hiền muội phải lấy dây trói tên Đắc Phu lại kẻo nó rớt xuống thì uổng một tên đại đạo bị bắt sống.
- Tẩu tẩu trói tên kia rồi. Y đã tỉnh.

Nói đoạn, Lam Y xách tên đầu mục ra ngoài hàng cây.
Chu Đức Kiệt tiến đến bên Cảnh Đắc Phu, bảo Âu Dương Bích Nữ đứng gần đó cầm mũi chủy lấy ở túi áo tên đạo tặc.
- Để ngu huynh treo va lên cành đa.
Cảnh Đắc Phu gườm gườm nhìn Tam hiệp. Mắt y đỏ ngầu, căm hờn tột bậc muốn ăn gan uống mật kẻ thù đang lởn vởn trước mắt.

Chu Đức Kiệt cầm mối dây, xách Cảnh Đắc Phu lên khỏi mặt đất :
- Ngươi muốn biết chúng ta là ai hả? Sơn Đông Chu gia Tam hiệp đây. Coi kìa, người vừa nhảy lên cành đa treo tên đầu mục là Lam Y nữ hiệp. Bọn tặc đạo chúng bây chắc đã nghe danh người đó? Còn năm vị là tiêu sư ở Hoàng Hoa phiêu cục, mà bọn thủy khấu các ngươi đang nhằm đánh thương thuyền áp tải trên sông Lăng Lý. Nội nhật, toàn bọn thủy khấu Hoang Địa, sẽ sa lưới quan quân.

Dứt lời, chàng nhằm cành đa cao vót, nơi Lam Y vừa treo tên đầu mục, xách họ Cảnh phi thân lên, buộc lủng lẳng kế bên. Đoạn chàng đáp xuống đất, bảo mọi người :
- Nào đi, mời quí vị. Bốn dặm đường trong rừng cây xam chớ không gần đâu.

Thiết Xích Tử đi trước mở đường. Tam hiệp đoạn hậu. Theo đường mòn, đoàn người chia thành ba toán đi cách nhau độ mươi thước. Toán đầu Hoàng Hoa Chiếm, Thiết Xích Tử. Toán nhì, Trương Tam Nương và hai con Hoa Long, Hoa Hổ. Toán thứ ba là Tam hiệp.

Trên cây, những bầy thú thấy người đi vào thì nhớn nhác nhìn theo kêu choe chóe. Con thì đu từ cành nọ qua cành kia lanh lẹ như một hiệp khách phi thiểm tẩu bích đại tài. Còn thì cầm cành nhỏ rung lên rào rào, hoặc gãi đầu, gãi tai nhảy choi choi trên cành cây.
Lam Y nói :
- Bầy hầu này thiệt phiền, đáng ghét quá! Ta đi đến đâu, chúng làm rầm rĩ lên đến đấy. Nếu bọn thủy khấu cho người canh phòng từng chặng. Chẳng cần báo động, chúng cũng biết có người lạ đang tiến vào rừng.

Âu Dương Bích Nữ hưởng ứng :
- Cô muội nói trúng ý. Một phát tên từ bụi rậm hay ngọn cây phóng tới thì có trời cũng...
Nàng chưa nói hết câu, bỗng từ cành cây um tùm cách chỗ mọi người đi độ hai mươi bước, bật lên một tiếng “tách” khô khan, tiếng dây cung bật mạnh.

Lam Y hét :
- Ám tiễn! Nằm xuống...
Không ai bảo ai mà cả tám người cùng lẹ như chớp thụp cả xuống lần đi mấy vòng tránh tên.
Mũi tên bí mật nhằm toán đi đầu.

Tiểu Lữ Bố Hoàng Hoa Chiếm lăn thêm đi hai vòng nữa vừa kịp rút tên bắn luôn hai phát Liên Châu tiễn tuyệt đẹp, nhằm cành cây lá um tùm vừa bật ra tiếng dây cung.
Một người từ sau đám lá ấy nhào xuống cỏ đánh huỵch một tiếng.

Đồng thời một phát tên nữa từ cành cây khác gần đấy bay vút ra nhằm Âu Dương Bích Nữ. Mũi tên chưa tới nơi thì đã bị làn đao Thất Tinh sáng lòe của Chu Đức Kiệt gạt bắn đi.

Hoàng Hoa Chiếm nhảy chồm tới phóng luôn phát tên vào chòm lá ấy. Một tiếng hộc lên vang dội, tiếp theo là một người rớt nhào xuống. Tức thì, Tam hiệp chạy lẹ tới mấy gốc cây lớn gần đó, phi thân lên cành xem xét. Thiết Xích Tử và ba mẹ con Trương Tam Nương cũng hành động theo.

Riêng mình Hoàng Hoa Chiếm đứng lại đưa mắt nhìn khắp nơi sẵn sàng phản ứng. Mọi người tìm kiếm hồi lâu không thấy gì mới nhảy cả xuống đất, đến chỗ hai người vừa trúng tên xem.

Tên thứ nhất bị hai phát gài trúng bụng, hết thở. Tên thứ nhì bị mũi tên xiên ngang sườn còn thở, máu loang đẫm cả áo.

Âu Dương Bích Nữ lượm lấy hai cây cung, lựa một cây tốt đeo lên vai và lấy hai ống tên dồn làm một :
- Tiếc quá, không đem theo cung tên. Trông Hoàng Hoa tiên sinh bắn lối Liên Châu Nhị Độ tuyệt đẹp.
Chu Đức Kiệt nói :
- Chúng tôi nhớ đến chuyện trang môn xạ kích tại Trương gia trang.
Trương Tam Nương cười tủm tỉm :
- Chà! Chuyện từ mấy chục năm trước rồi mà! Chưa có Hoa Long, Hoa Hổ. Và chúng tôi còn nhỏ dại, Âu Dương muội thì chưa chào đời.

Hoàng Hoa Chiếm hỏi :
- Tam hiệp ưa môn xạ tiễn.
Thiết Xích Tử rút bầu rượu ra tu một bụm, đoạn nói :
- Ngu huynh chưa nói cho hiền đệ biết ư? Họ Âu Dương toàn là tay thần tiễn, mà Chu gia thì phóng Liễu Diệp đao như chớp cả đấy. Chúng ta không nên tiến theo đường mòn lộ liễu quá. Đi lẫn vào cây lá thì hơn.

Trương Tam Nương phản đối :
- Tinh trí là hơn cả. Len lỏi vào bụi rậm lỡ bị độc xà thì sao? Trong rừng thiếu gì giống thú nhỏ nguy hiểm ấy.
Lam Y nói :
- Theo đường mòn, nhưng tới nơi nào có loài hầu nên chú ý. Thế nào cũng còn chặng canh phòng chớ chẳng không. Quý vị tiến đi! Chia thành ba nhóm như vừa rồi lợi hơn.

Tám người lại bắt đầu tiến. Lần này, ai nấy đều chú ý đề phòng. Mỗi khi gặp khúc đường nào đáng ngờ, đoàn người lần vào bụi rậm nghe ngóng động tĩnh, chắc chắn không có phục binh mới đi nữa. Tới một quãng rẽ sang phía tả, tiếng hầu lại ríu ít, chí chóe gần đâu đó trong rừng cây. Tam hiệp đi sau cùng ngừng bước nhận xét, thì toán tiên phong Hoàng Hoa Chiếm, Thiết Xích Tử cũng vừa khoát tay ra hiệu, bảo mọi người lần vào mé bụi rậm. Tám người dồn vào sau một khóm xiên lớn kiểm soát cả hai khúc đường mòn. Ngay nơi rẽ, phía trước mặt có tới trên mười gốc trám lớn rải rác.

Tiếng hầu vọng ra từ hai cây trám đâu đấy.
Lam Y nói nhỏ :
- Hơn mười gốc trám mà chỉ hai cây có bầy hầu, lạ quá.
Dứt lời, nàng lần sau các bụi cây, tiến hẳn tới khúc quẹo.
Mọi người theo sau. Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ đi sát hai bên Lam Y. Tam hiệp núp sau khóm cây găng, quan sát từng cây trám một.

Bỗng Lam Y chỉ tay về hướng cây trám thứ năm lớn hơn cả :
- Giống trám làm gì có mớ rễ dài như rễ đa buông thõng gần thân cây thế kia.
Trương Tam Nương đứng sau lưng nàng nói :
- Coi mớ rễ ấy giả tạo quá, nói là chiếc thang dây thì đúng hơn.
Âu Dương Bích Nữ gật đầu :
- Thang dây thiệt đó. Có vết chằng ngang kia kìa. Chúng dựng chòi ở chẽ cây.
Lam Y nói :
- Để tôi ra dụ xem, nếu có chòi tất có người. Thấy một mình tôi, chúng phải xuống chớ không bắn.

Hoàng Hoa Long cản :
- Nếu vậy. Bất tất phải Nữ hiệp hành động, tôi ra chúng cũng lộ diện uy hiếp.
- Cũng được. Nhưng đại ca thấy chúng xuống đủ rồi, thì khoát tay tả ra hiệu, nhảy lánh ra xa để bọn tôi xử trí.
Nàng nhìn vợ chồng Hoàng Hoa như muốn hỏi ý kiến. Hai người gật đầu đồng ý, Lam Y lùi bước, bảo Hoàng Hoa Chiếm :
- Tiên sinh cũng có tên đứng lên đây, ngang hàng với gia tẩu, lỡ cần bắn thì tiện hơn.

Hoàng Hoa Chiếm gật đầu, đứng vào chỗ của Lam Y, kế bên Âu Dương Bích Nữ. Hai người tìm chỗ trống, sẵn sàng phát tên. Hoàng Hoa Long cầm đoản kích toan ra khỏi bụi rậm, thì Thiết Xích Tử đã tháo thiết xích cầm tay bảo :
- Hiền điệt mặc ta.
Dứt lời, Thiết Xích Tử đi trở lại chỗ cũ rồi mới vòng ra đường mòn, vừa đi vừa mở nút bầu rượu tu ừng ực mấy hơi, đoạn chùi mép nói một mình :
- Chà! Khát khô cả cổ. Khu rừng quái ác này không có lấy một tửu điếm.

Bầy hầu ở hai cây trám hàng đầu, thấy người lạ đi qua đường, chí chóe xô ra nhìn.
Thiết Xích Tử cố ý đi loạng choạng sang mé các cây trám.
Quả nhiên, cành lá thứ năm rung chuyển.
Một tiếng tách khô khan bật lên.

Thiết Xích Tử thừa sức nhìn thấy mũi tên bay bút tới cắm phập xuống đất cách vài thước ngay trước mặt.
Ba người trang phục y hệt hai tên đầu mục bị trúng thương ở chặng thứ nhất, nối nhau từ trên cây tuột thang dây xuống đất.

Chúng đeo đoản đao, rút cung tên chìa về phía Thiết Xích Tử.
Một đứa quát :
- Lão kia đi đâu? Vào đây bằng lối nào.
Thiết Xích Tử giả đò giật mình, đờ người ra nhìn, đoạn tiến về phía đó.
Tên nữa quát :
- Ngừng tiến ngay và trả lời kẻo ta bắn lủng tim ra bây giờ.

Thiết Xích Tử gật gù nhìn ba tên đầu mục :
- Ô hay! Đường này đâu phải cấm địa, ai có chân khắc đi, sao cấm đường ta?
- Lão này gàn bướng! Do thám gì trong này! Nói mau.
- Các người hay chửa! Thấy bờ thì lên, thấy đường thì đi, đói meo bụng đây. Ai hảo tâm, vui lòng chỉ lối tửu điếm, ta cảm ơn vô cùng! Ồ, nhưng các người sao lại ở trên cây? Làm gì trong rừng vậy.

Nói đoạn, Thiết Xích Tử nghiêng mình dòm lên chòi lá dựng ở chẽ cây.
Từ chòm lá trám, một tiếng quát vang lên :
- Không nói nhiều, bắt trói tên lão hủ này giải về trại mau.

Từ trong bụi găng, mọi người thấy một tên diện mạo dữ tợn, râu quai nón lưng đeo cung tên, tay cầm đoản đao, tuột thang dây xuống đất.

Lam Y nói :
- Chúng có bốn người thôi. Thằng này đầu bọn.
Âu Dương Bích Nữ bảo Hoàng Hoa Chiếm :
- Tiên sinh nhằm tên thứ nhì, tôi tên thứ nhất, bắn rớt cung chúng nhé.

Hoàng Hoa Chiếm gật đầu.
Hai cây cung do hai tay thiện xạ hữu danh giương tròn như vàng nguyệt đầu tháng.
“Tách!...”

Hai mũi tên cùng phát một lúc chớp nhoáng, trúng đích đánh văng hai cây cung do bọn thủy tặc đang cầm lăm lăm chĩa vào Thiết Xích Tử.

Lẹ làng, Âu Dương Bích Nữ phát luôn mũi tên thứ nhì cắt đứt mối khăn đầu rìu buộc ngược trên trán tên thứ ba.
Không để mất thì giờ, Thiết Xích Tử chồm tới gần tên râu quai nón, vung tay một cái. Thiết Xích Tử vút ra như làn tử điện.

Choang! Thanh đoản đao buột khỏi tay tên nọ văng ra xa, khiến y đau buốt, ôm ban tay nhắn nhó lùi lại mấy bước.
Cơ sự chỉ xảy ra trong chớp mắt. Bốn thủy khấu chưa kịp hành động thì đã bị tám vị nam nữ hào kiệt bổ vây chung quanh. Thiết Xích Tử trừng mắt, dữ dội.
- Bây biết điều hạ khí giới kẻo mất đầu.

Tam hiệp mặc mọi người bắt trói bọn tặc đạo tra hỏi, rủ nhau nhảy lên chòi lá lục xét.
Chòi lợp lá gồi, lót ván đủ rộng cho mấy người nằm. Ngoài mấy bầu nước, rượu và mấy thứ thực vật, mền bông, không có gì khác cả. Chu Đức Kiệt nói :
- Bốn tên này có phước hơn đồng bọn của chúng. Nằm đây chờ quan quân tới lấy đi còn êm ấm hơn bị treo lên cành cây hay bị tên gài vào người.

Tam hiệp xuống cây. Bọn đầu mục đã bị trói gò tứ chi lại.
Hoàng Hoa Chiếm hỏi :
- Trả chúng về chòi chứ?
Lam Y nói :
- Tiên sinh tra hỏi chưa? Nếu rồi thì xin cứ việc.
- Rồi.

Gia đình Hoàng Hoa Chiếm bèn xách bọn đầu mục nhảy lên cây liệng vào chòi lá trong khi Thiết Xích Tử nói chuyện với Tam hiệp.
Từ đây vào đến sào huyệt chúng chỉ còn hơn dặm đường và không còn chặng canh phòng nào nữa.

Chu Đức Kiệt nói :
- Biết đâu chúng không trí trá như tên đầu mục bị treo ngoài cây đa! Tên ấy có đả động đến việc canh phòng trên cây đâu! Nhưng không sao việc đề phòng là bổn phận của chúng ta. Còn điều này nữa. Mỗi khi “ăn hàng” trên sông cũng làm tiệc sẵn để về sào huyệt nhậu nhẹt. Bữa tiệc hôm nay cùng một tính chất.
- Nghĩa là hiện thời bọn Cửa quái không ở sào huyệt.
- Đúng vậy, nhưng không biết chúng đi vào giờ nào. Mong rằng chúng đi rồi.

Chu Đức Kiệt nói :
- Nếu vậy Cửu quái sẽ đụng độ với quan quân.
- Và ta có thể đón đường đánh tập hậu khi chúng tháo lui về sào huyệt.
- Cứ tiến xem sao, không liệu trước được.

Đoàn anh hùng, nữ kiệt tiếp tục tiến theo đường mòn. Đến lúc mặt trời đứng bóng thì vào ới một khu gò cao, cây cối bị phát quanh, quanh đãng. Trên gò, nhiều mái tranh rộng rãi. Chung quanh gò đất có hào nước khá rộng. Bờ hào bên trong là bức tường dựng bằng cây, đầu vót nhọn.
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 1
 
Posts: 687
Joined: Wed Nov 23, 2011 5:39 pm
I am: Reader

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp

Postby Editor 1 » Thu Jul 17, 2014 10:29 pm

( Hồi 39 tiếp-bis)

Ba bốn tên thủy đạo đứng canh phòng nơi cổng ra vào đóng kín. Ở bờ hào gần cổng, cột mươi chiếc thuyền vừa độc mộc, vừa tam bản, lớn nhỏ đủ cỡ. Điếu kiều bắc qua hào vào đến chân gò. Một lạch nước rộng độ hơn trượng ăn thông với hào chảy vuột vào rừng cây phía hữu.

Tám người bỏ đường mòn đi len vào các khóm cây tiến tới khu chính giữa đối diện với cổng trại, cách điếu kiều độ năm trượng.
Trên cổng trại có vọng canh. Bọn lâu la vác giáo đi đi, lại lại từ vọng canh tản ra hai bên bức rào cây kiên cố.
Lam Y nói :
- Bọn thủy khấu này khôn khéo thật, quý vị trông cách thức lập sào huyệt của chúng đủ hiểu. Không nhờ cha con ngư phủ, bọn ta vào sao được nơi đây.

Trương Tam Nương đáp :
- Chúng có óc kiến thiết cực hay mới lập nổi nơi căn cứ gọn gàng tiện lợi như vậy. Tỉ dụ với khu doanh trại kia, chúng khai thác các nguồn lợi lâm sản trong vòng năm năn có thể giàu có rồi, không cần phải hành nghề lục lâm đại đạo.
- Tiếc rằng chúng dùng trí óc tinh khôn ấy không hợp chỗ lắm.
Hoàng Hoa Long đứng bên Chu Đức Kiệt nói :
- Không ngờ lại có nước vào tận trong này.
Đức Kiệt lắc đầu :
- Đó là cả một chương trình trùng tu, không thiên nhiên đâu. Trước hết chúng đào hào cải biến ngọn đồi thấp ấy thành đảo. Để có nước và đường ăn thông ra sông Lăng Lý, chúng đào luôn con lạch lấy nước sông vào. Muốn tránh sự dòm ngó của mọi người qua lại trên sông, chúng dùng cây cối lấp miệng lạch tiếp giáp với sông là xong chuyện. Khu này hoang vắng, tả hữu ngạn đều là rừng hoang, thuyền bè qua lại thường đi ở giữa sông phòng sự bất trắc, không ai bơi thuyền sát bờ nên không thể nào thấy rõ được. Tâm lý lắm. Mỗi chuyến “ăn hàng”, chúng chở thẳng về đây vào miệng lạch lại như cũ tiện lợi vô cùng. Thường ngày muốn ra sông thám thính chẳng hạn, cũng không khó khăn. Dùng tam bản nhỏ hay độc mộc ra tới đầu lạch, kéo thuyền lên bờ lạch rồi thả ra Lăng Lý giang.
Hoàng Hoa Long nói :
- Nếu vậy từ chỗ ba cây đa lớn đến đầu lạch chắc không xa mấy?
- Xa chớ! Tính theo phương hướng thấy ngay. Con đường mòn dẫn từ gốc đa vào tới đây vằn vèo và có một khúc rẽ thước thợ, nơi bốn đầu mục canh phòng trên chòi lá đó. Khúc rẽ ấy đổi hẳn hướng đi. Chúng ta phải qua một đoạn trên năm dặm đường len lỏi mới vào tới đây. Con lạch kia theo hình thế rẽ quạt ngược với hướng của ta đi.
- Vậy từ gốc đa sang tới đầu lạch không khác gì chiếc quạt mở rộng mà chốt quạt là gò đất kia. Hai nơi có thể cách nhau mươi hoặc mười lăm dặm, đúng với khúc sông thường xảy ra những vụ cướp thương thuyền. Đại ca nghĩ phải không?
Hoàng Hoa Long gật đầu :
- Đại hiệp dẫn giải rõ ràng, hợp lý.
Thiết Xích Tử hỏi :
- Hành động thôi chớ! Vào lối nào.
Âu Dương Bích Nữ đáp :
- Lối nào thì cũng có lâu la canh phòng, chỉ bằng vào ngay cổng trước. Chúng chịu mở cổng càng hay, trái lại cứ tấn công bừa vào. Căn cứ vào những nóc nhà trên gò kia, bọn tặc đạo không đông quá hai trăm kể cả đầu lãnh lẫn lâu la. Chưa biết chừng không đủ số người ấy ở nhà vì chúng còn bận đi “ăn hàng” ngoài sông.
Lam Y nói :
- Đồng ý với tẩu tẩu. Quý vị ai có ý kiến gì hay hơn không.
Mọi người đều ưng thuận.
Chu Đức Kiệt nói :
- Ta trở ra đầu đường mòn kia hãy tiến tới có vẻ tự nhiên hơn.
Tức thì, đoàn người trở bước và đi ra đường mòn dẫn thẳng tới điếu kiều.
Mấy tên lâu la thấy người lạ tới, liền quát hỏi :
- Bọn người nào kia! Đứng lại.
Chu Đức Kiệt tiến lên mấy bước :
- Chúng tôi là đoàn liệp hộ ở bến sông do đệ cửu đại vương nhắn về đây có việc.
Bọn lâu la nghi ngờ :
- Đệ cửu đại vương tên gì? Có nhắn gì không?
- Tên Cảnh Đắc Phu. Đại vương đi với một đầu mục nữa đón chúng tôi ở ngoài gốc đa. Người dặn rằng sẽ đem cá Lý ngư về và muốn biết các vị đại vương đã khởi sự ra sông chưa mà để người chờ mãi.
- Dọc đường có gặp gì không?
- Có, các đại ca đầu mục canh phòng chỉ đường cho chúng tôi vào tới đây.
Một tên trang phục ra kiểu địa đầu mục lên tiếng :
- Không nói lôi thôi! Các người vào được tới đây tất biết khẩu hiệu. Hãy nói ta nghe.
Lam Y nữ hiệp nói nhỏ với mọi người :
- Chúng không báo cho đầu lãnh và gạn hỏi mãi thế này tức là Cửu quái không có nhà. Tiến thôi.
Tám người chưa tiến được ba bước đầu mục trưởng đã quát :
- Đứng lại kẻo ta bắn.
Từ trên vọng lâu và mặt rào cây, có tới hơn hai mươi cung thủ nhô lên chĩa cung tên vào hướng tám người.
Lam Y nói nhỏ :
- Hoàng Hoa tiên sinh, và tẩu tẩu bắn đi.
Tức thì, lẹ như chớp, hai người dùng lối “Tam Hóa Liên Châu” phát luôn sáu mũi tên trúng vai sáu lâu la, trong đó có cả tên trưởng đầu mục.
Bọn trúng thương té nhào ra phía trong. Mười tám tên còn lại bắn trả đũa. Nhưng Lam Y, Chu Đức Kiệt, Thiết Xích Tử và Trương Tam Nương và Hoa Long, Hoa Hổ đã vung tròn khí giới gạt tên chạy ùa vào, nhảy qua rào.
Âu Dương Bích Nữ, Hoàng Hoa Chiếm bắn mấy loạt liên châu. Không định sát hại nhiều nên ha người chỉ nhằm vai đối phương. Bọn cung thủ bị thương hết, không sót một tên nào. Tiếng đồng la báo động gõ vang trong trại giặc.
Bốn tên cản ngoài cổng thấy tám người hung mãnh quá, không dám giao đấu, vội chạy vào trại đóng cổng, nhưng Trương Tam Nương, Hoa Long, Hoa Hổ phóng ba bước đuổi kịp, đạp cổng kéo ồ vào trại. Đồng thời, Lam Y, Chu Đức Kiệt phi thân lên vọng lầu.
Thiết Xích Tử nhìn qua mấy chiếc thuyền neo ở bờ hào không thấy có người, bèn cùng Hoàng Hoa Chiếm ùa vào cổng trại theo Trương Tam Nương.
Âu Dương Bích Nữ chạy tạt sang bên, phi thân lên đầu cây nhọn, đứng chênh vênh như con phượng hoàng. Bên trong có sàn gỗ rất chắc chắn. Bốn lâu la xông tới hươ giáo đâm.
Âu Dương Bích Nữ quát :
- Bọn bây còn chờ gì nữa, hàng đi cho rồi.
Muốn làm đối phương hoảng, nàng múa tròn Trảm lư trường kiếm một vòng. Bốn ngọn giáo địch bị tiện cụt văng xuống đất.
Nàng thét :
- Coi ta lấy thủ cấp.
Bọn lâu la hoảng hốt bỏ chạy, rùng rùng kéo xuống bậc thang.
Lam Y, Chu Đức Kiệt từ trong vọng lâu chạy ra.
Đức Kiệt nói :
- Mấy tên canh phòng chạy hết rồi, ta xuống giúp mấy người ở dưới đi.
Tam hiệp trở vào vọng lâu nhằm đám lâu la đang reo hò bổ vây năm người ở gần cổng trại, nhảy bừa xuống như ba hung thần, dùng bảo đao, báu kiếm lia vùn vụt mấy vòng tiện đứt đôi binh khí đối phương rớt loảng xoảng.
Bọn lâu la dù hung hăng và đông, địch sao nổi tám vị anh hùng kiệt liệt ấy. Tuy vậy chúng cố bám.
Hoa Long, Hoa Hổ tức mình đâm cho mươi tên vào bắp đùi, máu chảy lênh láng, rên xiết, lăn ra mặt đấy, chúng mới hoảng sợ toan bỏ chạy. Nhưng tám người đã bổ vây chung quanh.

Hoàng Hoa Chiếm nói lớn :
- Bọn bây khôn hồn, liệng khí giới đầu hàng, cưỡng lời thì đừng có trách anh em ta không nhân từ, nghe.
Bọn lâu la sợ hãi len lét nhìn nhau liệng khí giới xuống sân.
Hoàng Hoa Chiếm hỏi :
- Tên nào làm đầu mục trưởng ra đây.

Một tên khỏe mạnh trạc ba mươi tuổi tiến lên thưa :
- Đầu mục trưởng thủ trại bị trúng tên nằm trong nhà. Con là phụ.
- Ngươi tên chi?
- Tiền Bái Cước ạ.
- Bọn Cửu quái đầu lãnh đi đâu? Và từ bao giờ?
- Thưa... đi ra sông từ cuối giờ Tỵ. Đi được độ hơn khắc canh thì quý vị tới đây.

Hoàng Hoa Chiếm bảo hai con :
- Điệu mấy tên đi lấy dây về đây.
Tức thì, Hoa Long, Hoa Hổ, điệu Tiền Bái Cước cùng mấy tên khác vào kho hàng lấy dây ra trói bọn lâu la lại. Riêng Tiền Bái Cước được tự do hướng dẫn mọi người đi xem trại.
Toàn khu thiệt ngăn nắp, Bốn cổng ra vào đều có vọng lâu tiện việc canh phòng. Trại lâu la, kho lương thực, đại sảnh, hậu phòng, võ sảnh đây vào đấy, gọn gàng sạch sẽ. Trong bếp thực vật ngổn ngang.

Chu Đức Kiệt hỏi Tiền Bái Cước :
- Bọn ngươi làm gì mà ăn tiệc hôm nay vậy?
- Thưa, mỗi chuyến “ra sông” đệ nhất đại vương Lôi Thông đều có thói quen ăn tiệc lúc trở về.
- Chúng đi bao nhiêu chiếc thuyền? Bao nhiêu người?
- Hôm nay có mười lăm thuyền, tám đầu lãnh và sáu chục quân.

Lam Y ngạc nhiên :
- Sáu chục quân? Mười lăm thuyền cỡ nhỏ chở vừa đủ số người ấy, cướp được hàng hóa, chở bằng gì?
- Thưa, dùng toàn thuyền cỡ trung bình. Trong số sáu chục người, chỉ có ba hay bốn chục theo các đại vương ra sông, còn thì núp cả trên bờ, nơi đầu lạch nước tiếp xúc Lăng Lý giang.
- Hai tên Nhan Sùng Hoán, Huỳnh Công Quyền bị Cửu quái hạ sát chôn ở đâu.

Tiền Bái Cước giật mình không hiểu tại sao bọn lạ mặt này biết nhiều chuyện thế? Y chỉ tay ra hướng rừng phía Nam :
- Chôn ở ngoài rừng kia.
Thấy trong trại, không có gì đáng chú ý, mặc cho quan quân sau này tùy nghi sử dụng. Chu Đức Kiệt bàn với mọi người việc xuống thuyền rượt theo tặc khấu sa sông.

Ai nấy đều đồng ý.

Lam Y nói riêng với Thiết Xích Tử :
- Không thể bỏ trống trại giặc được, lỡ xảy ra nhiều điều bất trắc. Vậy nhờ tiên sinh lãnh trọng trách ở lại đây. Nếu xảy ra việc gì lớn, xin đốt pháo hiệu.

Thiết Xích Tử cười vang :
- Nữ hiệp bàn trúng ý tôi. Trước hết theo giặc ra sông, trận đánh cần “thủ công” nhiều hơn không thích hợp với bản chất sợ nước của tôi. Sau nữa, tuy lãnh trách nhiệm coi trại, Trương mỗ này cũng không ngồi rỗi. Rượu thịt ê hề thế kia ai dùng? Tôi sẽ châu đáo, Nữ hiệp an tâm.

Hoàng Hoa Chiếm đưa hai quả pháo hiệu cho Thiết Xích Tử :
- Đại huynh liệu mà uống nhé, kẻo bị thuốc mê.
- Khỏi lo! Khỏi lo! Mặc ngu huynh, đi đi cho kịp. Bọn thủy khấu này ngày tận số nên lựa đúng ngày quan quân bao vây, hai đầu sông cướp. Chẳng chóng thì chầy, nhưng kẻ gian không khi nào thoát khỏi tử lộ.
Mọi người ra khỏi trại xuống thuyền tam bản, Tam hiệp xuống riêng một thuyền đem theo Tiền Bái Cước đi trước, Hoàng Hoa Chiếm và Hoa hổ chung một thuyền, bơi sau. Trương Tam Nương, Hoa Long chung thuyền đi giữa.

Âu Dương Bích Nữ chỉ mặt Tiền Bái Cước :
- Từ đây ra đến đầu lạch có nơi nào canh phòng nữa không?
- Thưa canh phòng ngay ngoài đầu lạch. Suốt dọc lạch không có chặng nào hết.
- Ngươi dối trá sẽ mất thủ cấp đó.
- Con không dám nói sai.
Lạch nước rộng tới hơn một trượng. Hai bên cây cối chằng chịt. Ba con thuyền len lỏi dưới chòm cây tiến lẹ. Mái chèo khua nước bì bõm.

Độ hơn sáu dặm đường, Chu Đức Kiệt hỏi Tiền Bái Cước :
- Chừng nào sắp tới đầu lạch, phải nói nghe.
- Dạ, còn một khúc nữa, đến chỗ cây đa lớn bên tả lạch thì chỉ cách đầu lạch độ trăm thước.
Nghe vậy, nhưng Tam hiệp không tin, để ý hai bên rừng, cây cối bụi rậm chặt phá thưa hẳn đi.

Âu Dương Bích Nữ ghé tai Chu Đức Kiệt nói thầm :
- Hiền huynh lên bờ trước, coi chừng sắp tới đầu lạch. Đáng nghi lắm.
Chu Đức Kiệt gật đầu đưa mái chèo cho Lam Y, đoạn nhảy lên bờ bên tả ngạn.
Giữa lúc đó, Tiền Bái Cước mắt le mày lét, chờ Chu Đức Kiệt nhảy lên bờ rồi, y liền nhảy xuống nước bơi hai, ba sải vào bờ hữu ngạn.
Âu Dương Bích Nữ giương cung bắn, nhưng Lam Y ngăn lại :
- Tẩu tẩu chờ y lên bờ hẳn đã.

Âu Dương Bích Nữ hiểu ngay là nếu bắn Tiền Bái Cước ở dưới nước xác y sẽ trôi theo dòng ra ngoài đầu lạch vì lúc ấy nước đang rút ra sông.

Tiền Bái Cước leo vội lên bờ tưởng thoát thân, chạy ra phía ngoài báo đồng bọn. Dè đâu, chưa chạy được ba thước, thì Âu Dương Bích Nữ đã gài luôn cho một phát tên xiên qua bắp vế. Y kêu dội lên một tiếng té lăn ra đó quằn quại, không chỗi dậy được nữa.
Thuyền của Trương Tam Nương và Hoa Hổ tiến tới.
Lam Y vẫy Hoa Hổ sang thuyền mình, trao mái chèo mà rằng :
- Đại ca chèo cầm chừng thôi. Chúng tôi lên bờ xem tình hình thế nào. Sắp tới đầu lạch mà khúc kia quẹo, trông không suốt.

Dứt lời, Lam Y cùng Âu Dương Bích Nữ nhảy lên bờ bên hữu, tiến lẹ ra phía ngoài.
Quả nhiên, tới khúc quẹo bên tay tả, Tam hiệp ở hai bên bờ trông thấy ngay hai chiếc tam bản neo cả bên tả ngạn.
Gần đó, trên một chẽ cây lớn, có chiếc chòi canh không người.

Những cành lá che lấp đầu lạch, đã được kéo hết lên bờ bên tả và ngay gần đồng cành lá ấy, hơn mười tên thủy tặc đang đứng sau bụ cây mải miết nhìn ra sông.
Lam Y, Âu Dương Bích Nữ thấy hữu ngạn không có gì, bèn phi thân qua lạch sang tả ngạn. Nơi Chu Đức Kiệt núp sau gốc cây chờ.

Ngoài Lăng Lý giang có tiếng gươm đao chí chát.
Đức Kiệt nói :
- Quét lẹ bọn này đi, rồi ra sông, chắc chúng đang đánh thương thuyền. Tam hiệp liền chạy bừa tới chỗ lũ lâu la đang đứng nhìn ra ngoài sông. Bọn chúng nghe tiếng lá khô lạo xạo dưới chân của ba người đều giật mình quay lại.
Tức khắc, chúng rút đao, hò nhau vây đánh, nhưng đâu phải là địch thủ của ba người ấy, nên chỉ trong chốc lát, mấy làn đao, kiếm hoa lên loang loáng, toàn bọn mười ba tên giặc đã trúng tử thương, tên la ngổn ngang trên mặt đất.

Ba thuyền sau lướt nhẹ đến nơi.

Lam Y nói lớn :
- Chúng đang sát phạt ngoài sông. Các vị ra trước đi, chúng tôi theo ngay. Có thuyền đây rồi.
Nàng cầm tay Âu Dương Bích Nữ xuống một tam bản neo bên bờ, nhường chiếc kia cho Chu Đức Kiệt.
Hai thuyền bơi lẹ ra đầu lạch. Những cành lá rà xuống gần mặt nước cũng đủ che khuất con lạch. Tam hiệp rẽ lá, bơi thuyền vùn vụt theo đoàn thuyền của Hoàng Hoa.
Ngay giữa dòng Lăng Lý, hai chiếc thương thuyền lớn đang bị các thuyền thủy tặc bao vây. Thủy tặc áp mạn, bọn đầu lãnh Cửu quái đang sát phạt với ba tiêu sư trấn thương thuyền.
Ba người này yếu thế lùi dần ra phía mũi thuyền, ý muốn nhảy xuống nước, nhưng bị theo riết và hai mặt thọ địch khó thoát.

Lam Y hô lớn gọi Hoàng Hoa Chiếm :
- Có lẽ quân thuyền chặn ở hai đầu, tiên sinh nổ pháo hiệu cho họ biết đường lối.
Hoàng Hoa Chiếm đốt sẵn bùi nhùi, tức khắc châm ngòi hai pháo hiệu liệng lên trên không. Hai tiếng nổ liên tiếp đinh tai vang động khắp vùng. Bọn thủy khấu đang đắc ý sát phạt nhau đều giật mình nhớn nhác, tưởng quan quân tới. Nhưng chúng nhận định ra ngay năm chiếc tam bản từ phía lạch nước bơi ra, lèo tèo chiếc một người, chiếc hai người.

Chúng không hiểu tại sao bọn bảy người này lại ở trong lạch bơi ra được. Căn cứ bí mật trong rừng bị đánh chăng.
Không lẽ nào như vậy được. Chúng vừa rời căn cứ không bao lâu, và cũng vừa mới áp mạn đánh thương thuyền.
Năm con thuyền do những cánh tay mạnh mẽ chèo đang lướt lẹ tới.

Đại đầu lãnh Đệ nhất quái Lôi Thông cầm cương thoa hô lệnh :
- Lư Xích, Lư Hoàng. Hai hiền đệ cùng quân nhà cứ việc áp đảo hạ bọn tiêu sư, đoạt thương thuyền. Mọi người khác theo ta.

Dứt lời, Lôi thông nhảy phắt về thuyền tam bản của y cập bến thương thuyền, lanh lẹ dị thường. Lôi Chấn, Lôi Quyền, Lư Thanh, Cảnh Đắc Vưu, Cảnh Đắc Thường nhảy theo cả xống, mỗi người một thuyền có đầu mục cầm chèo. Sáu chiếc khấu thuyền chia làm hai, bơi vùn vụt đến đón năm chiếc đang tới. Bọn tặc khấu vận toàn thủy phục dễ bơi lặn, sử dụng hoặc cương thoa hoặc giáo sắt.

Lôi Chấn nhận ra Hoàng Hoa Hổ, la lớn :
- A, bọn Hoàng Hoa phiêu cục! Chúng cứu cánh cho đồng bọn.
Cùng lúc ấy, anh em Cảnh Đắc Vưu, cũng nhận ra Tam hiệp.
Cảnh Đắc Thường la lớn :
- Có cả ba anh em tên đánh Lý ngư! Được lắm! Bây sẽ chết vì miệng cá nghe? Còn hai tặc nữ kia, bộ muốn làm áp trại phu nhân sao.
Lam Y lặng lẽ lái thuyền đâm thẳng vào thuyền Cảnh Đắc Vưu.

Muốn nạt y, Âu Dương Bích Nữ giương cung bất chợt bắn một phát tên cắm ngay vào sân thuyền sát bên bàn chân hữu Cảnh Đắc Vưu. Tên thủy khấu giật mình vội co chân lại, thì một mũi tên khác đã vút tới cắt đứt mối khăn đầu rìu buộc ngược đầu y. Chiếc khăn tung ra, rớt xuống nước cùng với mũi tên. Tóc Cảnh Đắc Vưu xõa trùm xuống gáy.

Âu Dương Bích Nữ cười lớn :
- Cảnh Đắc Vưu! Ta tha chết cho ngươi hai lần, thấy không? Đáng lẽ ngươi bị thủng mắt rồi đó.

Đắc Vưu quắc mắt thét :
- Nữ tặc, có giỏi thủy chiến với ta trăm hiệp này.
Âu Dương Bích Nữ rút tên gài lên dây cung, giương tròn nhằm mặt Đắc Vưu:
“Tách”.
Tiếng bật dây khô khan, Đắc Vưu vội né sang bên.

Cùng lúc ấy, Lam Y nữ hiệp nhảy vút sang thuyền địch, nhằm ngực họ Cảnh thúc một mũi trường kiếm.
Thiệt ra, Âu Dương Bích Nữ chỉ bật dây cung không, bắt buộc Đắc Vưu phải tránh né. Vốn đã thuộc lối hành động của nhau, Lam Y nhìn Âu Dương Bích Nữ thấy nàng nháy mắt thì hiểu ngay, nhảy sang thuyền thủy khấu áp đảo.
Mũi Thái Dương kiếm xẹt như chớp nhoáng đâm thẳng vào ngực Đắc Vưu. Biết lợi hại, tên này nhảy lùi lại cuối thuyền né khỏi, và đâm trả một dáo.

Nói về Hoàng Hoa Hổ và Đệ tam quái Lôi Chấn gặp nhau.

Cựu thù gặp nhau, Lôi Chấn hô đầu mục tiến thuyền sang phía đối thủ chỉ mặt Hoa Hổ mắng :
- Hai năm nay ta đi vắng, và mong chờ giây phút này báo thù.
Hoa Hổ chèo mạnh hướng thuyền về phía Lôi Chấn rồi buông chèo gác lên thuyền, cầm thương ra đầu mũi :
- Lôi Chấn! Chuyến này ta nhằm bụng nghe.
- Ngươi quên rằng đây là thủy chiến sao? Tử địa của ngươi đó.

Hai thuyền gần giao mũi.
Một bên tiêu sư, một bên thủy khấu, cả hai đều đứng ở mũi thuyền hầm hè giao đấu. Hoa Hổ cầm Lê Hoa thương lăm lăm hạ đối phương. Lôi Chấn cầm giáo sắt định báo thù mũi thương năm xưa. Thương giáo va nhau chan chát. Lôi Chấn cậy mình lợi thế hơn vì có người lái, đánh dứ không sợ thuyền quay. Hoa Hổ biết vậy, chống đỡ chờ hai mạn thuyền giáp nhau mới liên tiếp trả đòn.

Nói về đại đầu lãnh Lôi Thông khi nghe thấy Lôi Chấn gọi đích danh bọn tiêu sư Hoàng Hoa, bèn đứng lên mũi thuyền hô lớn :
- Tên nào là Hoàng Hoa Chiếm hãy ra đây coi mặt nào.
Tức thì, Hoa Long lái thuyền tới phía ấy :
- Đứng ra mũi thuyền, Hoàng Hoa Chiếm hỏi :
- Ngươi tên chi? Ta không thèm hạ vô danh tiểu tốt.

Lôi Thông cười ha hả :
- Đệ nhất quái Lôi Thông đây.
Hai mũi thuyền giao nhau, Lôi Thông đâm thẳng ngọn cương thoa vào mặt địch thủ. Ngồi thụp xuống né, Hoàng Hoa Chiếm điểm mũi kích vào bụng đối phương. Thấy phụ thân dùng đoản kích ngắn quá, Hoa Long lựa tay chèo ghì mạn thuyền liền nhau cho tiện giao chiến. Thoa qua, kích lại, đâm quật tơi bời không ai chịu nhường ai. Hai con thuyền cùng tròng trành, nhờ hai tay chèo rất vững nên giữ được thăng bằng. Tên đầu mục chuyên lái thuyền cho Lôi Thông muốn làm lệch cán cân trận đấu dành phần lợi về cho chủ tướng, bèn nhè lúc Hoa Long mải theo dõi trận chiến, buông mái chèo rút ngọn giáo của y gài ở cuối thuyền đâm vào bụng đối thủ. Hoa Long lanh mắt thấy kịp, vội buông tay chèo né mình bắt được cán giáo giật mạnh.

Tên đầu mục yếu sức hơn buột tay dáo, Hoa Long trở giáo đâm lại khiến y hoảng sợ bổ chào xuống nước. Thừa thế, Hoa Long phóng luôn ngọn giáo xiên suốt lưng qua ngực. Tên đầu mục chìm lỉm, máu loang đỏ cả mặt nước.

Mất thăng bằng, Lôi Thông vừa đánh kịch liệt, lắm lúc con thuyền nghiêng ngả muốn lập úp. Hoa Long thừa thế chèo mạnh, húc bừa mũi thuyền vào mạn thuyền địch.
Lôi Thông vận dụng toàn lực đánh thục mạng, ngọn cương thoa vùn vụt không hề sơ hở. Không kém, Hoàng Hoa Chiếm sử dụng đoản kích thiệt tài tình, dương đông kích tây biến ảo lạ thường. Tiêu sư biết Lôi Thông vừa chiến đấu vừa dùng cặp chân điều khiển sự thăng bằng của con thuyền, nên luôn luôn nhè chưa y lia kích bắt buộc Lôi Thông phải nhảy lên tránh đón.

Hoàng Hoa Long hiểu dụng ý của phụ thân, nhè giữa lúc Lôi Thông nhảy khỏi mặt sàn thuyền, liền ra sức chèo húc lật úp thuyền địch, khiến Lôi Thông rớt “tùm” xuống nước.
Hoàng Hoa Chiếm vụt theo mấy ngọn kích, nhưng Lôi Thông đã lặn biến mất tăm.
Cha con Hoàng Hoa chú ý nhìn xem họ Lôi có nhoi lên mặt nước không. Giữa lúc ấy, bỗng con thuyền bị dội hẳn lên muốn lật.

Hoàng Hoa Chiếm nói lớn :
- Lôi tặc đó, đâm mau, con.
Hai cha con cùng lùa thương, kích xuống gầm thuyền.
Lôi Thông buông tay đội thuyền để tránh khí giới địch đâm xuống.
Chừng nào ở trên ngừng tay, y lại nhô mạnh lên đội hẳn mũi thuyền địch lên cao.

Hoàng Hoa Long nói :
- Phụ thân giữ thuyền, để con xuống đánh với y một trận.
- Không để cha xuống kẻo nó tưởng ta e sợ.
Dứt lời, tiêu sư cầm dọc đoản kích, nhảy vọt ra xa nhào đầu xuống nước.

Lúc đó, Lôi Thông nhô lên mặt nước thở thấy vậy, liền lặn theo ngay. Hoàng Hoa Chiếm bơi vòng, chợt nhận ra địch thủ đang lẹ làng lướt tới, bèn cầm kích đón đánh. Dưới nước, Lôi Thông quả thập phần lợi hại, sức lực tăng gấp bội phần y quầy ngang, đảo dọc lanh lẹ, dữ dội như kình ngư đảo thủy, Hoàng Hoa Chiếm rán sức chống đỡ...

Trong bọn thủy khấu Cửu quái có năm tên “thủy công” cao siêu hơn cả là Lôi Thông, Lôi Quyền, Cảnh Đắc Vưu, Đắc thường và Lư thanh.
Khi Lam Y nhảy sang thuyền Cảnh Đắc Vưu, nàng chú ý ngay đến tên đầu mục cầm chèo, nên sau khi đưa luôn mấy lát kiếm lợi hại bắt buộc tên này phải lùi ra đầu mũi thuyền, thì nàng bất chợt quay phắt lại phóng một ngọn cước trúng ngực tên đầu mục cầm chèo, khiến y kêu lên một tiếng nhào xuống nước chìm nghỉm. Âu Dương Bích Nữ thấy thế quân bình trên thuyền ấy, yên trí hơn chú ý nhìn quanh thì vừa lúc Cảnh Đắc Thường cầm cương thoa đứng mũi thuyền lướt tới.

- Oan trái gặp nhau, hôm nay ta quyết bắt ái nương về trại làm lễ hợp cẩn. Từ ngày diện kiến cùng ái nương, tình ta mong nhớ khôn nguây.

Nàng điên tiết vì lời khinh bạc ấy, nhưng cố điềm tĩnh học theo Lam Y lấy thế quân bình. Nghĩa là lẹ như chớp, Âu Dương Bích Nữ phát luôn một phát tên trúng vai hữu tên đầu mục cầm chèo thuyền. Tên này đau quá buông chèo té úp sấp mặt xuống sàn, rên rỉ, la ó không ngớt miệng.
Bất chợt mất thăng bằng vì mái chèo còn thả buông mạn thuyền của Cảnh Đắc Thường bị dòng nước cuốn quay đi một vòng. Cảnh Đắc Thường vội vàng đảo lại phía sau, một tay cầm cương thoa phòng bị tên bắn, một tay gác mái chèo lên thành thuyền.

Âu Dương Bích Nữ đeo cung chèo mạnh mấy mái, lướt thuyền đến cặp với thuyền địch :
- Bản cô nương không thèm hạ cẩu tặc bằng cung tên đâu. Mau ra đây chịu chết.
Dứt lời, nàng rút Trảm Lư kiếm sáng ngời đón đánh. Cảnh Đắc Thường cũng tiến ra mũi thuyền, đâm luôn một thoa vào mặt thiếu nữ, nhưng ngọn thoa bị thanh trường kiếm gạt bắn trở lại thật mạnh, khiến Cảnh Đắc Thường hai tay tê dại, không ngờ địch thủ xinh đẹp nhường kia mà dũng lực phi thường.

Biết rằng đấu trên thuyền không lại, họ Cảnh bèn tính kế áp dụng thủy chiến mới mong bắt nổi người đẹp. Y bèn nhảy lùi lại, tay tả vớ lấy bơi chèo, trổ nghề bơi lạng thuyền ra xa. Âu Dương Bích Nữ cũng vội vàng cầm chèo toan bơi đuổi, nhưng quay được hướng mũi thuyền thì Cảnh Đắc Thường đã lao thuyền y vùn vụt tới :
- Ái nương! Hãy chịu khó cùng ta thủy chiến, ta hứa sẽ đem ái nương về trại vui vầy cảm xúc.

“Rầm...”
Mũi thuyền họ Cảnh đâm mạnh trúng mạn thuyền Âu Dương Bích Nữ, khiến chiếc tam bản này bề ngang lật nhào.

Nhưng Cảnh Đắc Thường đã tính sai, không hiểu đang đụng độ với một môn đồ cấp bậc siêu Thiếu Lâm tự.

Như con phượng hoàng đảo dực, Âu Dương Bích Nữ dùng thế Phong Phi Lạc Nhạn nhảy vút sang thuyền địch như bay, miệng quát :
- Thủy tặc hãy giữ lấy thủ cấp.
Sợ hãi, Cảnh Đắc Thường vội buông tay chèo đưa cương thoa dọc theo người phòng bị, thì một làn kiếm Trảm Lư hoa lên lẹ như chớp giật phũ phàng tựa cuồng phong rít lên như lụa xe, lạnh giá tựa như tuyết băng...

Soạt!... Tiếng soạt ghê gớm, lạnh lùng ấy tiện đứt ba thứ cùng một lúc: cương thoa, thủ cấp Cảnh Đắc Thường và cánh tay hữu tên thủy khấu, cánh tay ấy đã cầm dốc cây cương thoa che suốt từ đỉnh đầu họ Cảnh đến chân. Thủ cấp và cánh tay văng xuống nước, thân tên giặc vật ra mạn thuyền. Âu Dương Bích Nữ đưa chân hất xác địch xuống sông, huyết nhuộm đỏ lòm mặt nước. Tên thủy đầu mục chèo thuyền bị trúng tên hồi nãy đang rên rỉ, ngồi lom khom ở mạn thuyền sợ hãi quá, tưởng Nữ tướng trao kiếm chém nốt, vậy toàn thân chìm lỉm. Thủy tặc xuống thăm Thủy tề.

Âu Dương Bích Nữ tay kiếm tay chèo mũi thuyền về phía Lam Y.

Cảnh Đắc Vưu né kịp mũi Thái Dương kiếm thứ nhất thì mũi kiếm thứ nhì đã đâm vụt vào mặt y. Đắc Vưu tọa tấn nhường mũi kiếm đó trượt qua đỉnh đầu. Hồi bộ xuống cuối thuyền, Đắc Vưu dùng tận lực bình sinh đâm luôn một giáo sắt nhằm bụng đối phương theo thế Độc Xà Nhập Động mạnh lẹ nguy hiểm. Ung dung, lẹ làng, Lam Y né sang mạn thuyền đưa tay tả bắt trúng cán dao giật mạnh về phía sau. Bị giật bất ngờ, Cảnh Đắc Vưu, lực lưỡng nhường ấy, mất thăng bằng, chúi người về phía địch thủ để hứng ngay lưỡi kiếm Lý Ngư Ngô Thủy phạt đứt thủ cấp xuống sông tủm một tiếng. Đồng thời, Lam Y cất chân tả đạp bạt các không đầu của Cảnh Đắc Vưu xuống nước. Trên thuyền không vấy một giọt máu.

Nữ hiệp tra kiếm vào vỏ quan sát trận thế vừa lúc Âu Dương Bích Nữ hạ Cảnh Đắc Thường. Nàng trở mũi thuyền đón thuyền Âu Dương Bích Nữ.
Cả hai chèo song thuyền lẹ về phía Trương Tam Nương đang mỗi người một thuyền, ác chiến dữ dội cùng Đệ lục quái Lư Thanh.

Tên này đang hoang mang vì anh em họ Cảnh bị tử trận, gạt đỡ ngọn thương lợi hại của Trương Tam Nương còn chưa kịp, nay thấy hai nữ tướng hảo thủ bơi thuyền tới áp đảo, y đâm hoảng liều mạnh lao ngọn giáo vào địch thủ.

Trương Tam Nương gạt cây giáo đó văng xuống sông.
Thừa dịp, Lư Thanh nhào xuống nước lặn trốn mất.
Lam Y gọi, chỉ tay về phía Hoàng Hoa Hổ đang tử chiến dưới nước với Lôi Chấn :
- Đại nương đến quan sát trận của Hoa Hổ, chúng tôi trở lại thương thuyền.

Trong khi ấy, Âu Dương Bích Nữ nhìn quanh thấy Hoàng Hoa Long đang áp trận thủy chiến Hoàng Hoa Chiếm và Lôi Thông, nhưng không thấy Chu Đức Kiệt và một tên thủy khấu nữa đâu cả. Hai chiếc tam bản của hai người thì bị cuốn trôi đi xa. Nàng hoảng hốt nhìn quanh tìm kiếm.

Lam Y mỉm cười :
- Tẩu tẩu khỏi lo! Chu huynh lặn quanh đâu đây đó thôi. Chắc chắn Chu huynh sẽ đem địch thủ lên khỏi mặt nước. Này coi kìa.
Âu Dương Bích Nữ nhìn theo tay Lam Y chỉ. Quả nhiên, Chu Đức Kiệt đao không tuốt khỏi vò, vừa nổi lên mặt sông, một tay lôi tên thủy khấu lực lưỡng Lôi Quyền, một tay bơi hướng về thuyền hai người.

Âu Dương Bích Nữ vội lướt tam bản tới đón.
Chu Đức Kiệt liệng Lôi Quyền ướt sũng lên thuyền.

Âu Dương Bích Nữ cầm tay Chu Đức Kiệt lấy trớn kéo vút lên cuối thuyền như con kình ngư vuột mình lên mặt nước.

Nàng ngạc nhiên thấy y phục người yêu không ngấm nước. Chàng rùng mình giũ mấy giọt nước đọng trên vai áo và trên tóc.
Chu Đức Kiệt âu yếm nhìn hai người :
- Nhị vị hiền muội mau cứu thương thuyền. Kìa, hai người bị chúng đánh rớt xuống sông. Lẹ lên! Nhường chiếc tam bản này cho ngu huynh.

Âu Dương Bích Nữ vội nhảy sang thuyền Lam Y, chèo lẹ ra giữa dòng Lăng Lý, tiến thẳng đến hai chiếc thương thuyền đang bị đệ tứ, đệ ngũ quái Lư Xích, Lư Hoàng, và bọn thủy tặc áp đánh tơi bời.

Lam Y ghé tam bản cho Âu Dương Bích Nữ nhảy lên thương thuyền thứ nhất, còn tự mình nhảy lên chiếc thứ nhì. Giữa lúc ấy tiếng reo hò vang động từ hai đầu sông vọng tới. Hai chục chiếc thuyền lớn nhỏ theo tiếng pháo lệnh kéo đến khúc sông đang xảy ra trận thủy chiến.

Nhắc lại Chu Đức Kiệt khi mới khởi chiến.
Đệ nhị quái Lôi Quyền, một trong mấy tay “thủy công” kiệt liệt nổi tiếng bến Sán Đầu, phóng thuyền đến thẳng thuyền họ Chu.

Lôi Quyền cầm ngang cương thoa, quát :
- Thằng giặc mỹ mạo này ở đâu đây can thiệp vào công việc của anh em ta? Không sợ tánh mạng trong bụng cá hay sao.
Chu Đức Kiệt khoan chèo mắng lại :
- Cái giống tặc khấu chúng bây tên nào cũng như tên nào, chết đến cổ còn phách lối! Sào huyệt trong rừng bị chiếm rồi, biết điều khoanh tay chịu trói, may ra toàn mạng.

Đoán chừng đối phương không giỏi thủy công bằng mình, Lôi Quyền lẳng lặng chèo thuyền lao bừa vào thuyền địch. Chu Đức Kiệt biết vậy, cũng không tránh mặc cho hai thuyền đâm rầm vào nhau gần bể. Chàng buông chèo nhảy sang thuyền họ Lôi.

Lôi Quyền thừa thế đâm mạnh một mũi cương thoa nhằm bụng địch thủ.
Đức Kiệt né sang bên, thuận chân đá trúng tay hữu Lôi Quyền, khiến ngọn cương thoa của y rớt xuống đáy thuyền.
Lôi Quyền vội cúi lượm, nhưng Đức Kiệt đã tiến tới đấm luôn trái Thôi Sơn vào mang y.
Họ Lôi đưa tay gạt trái đấm nặng nền của Chu gia toàn thân bị rung chuyển. Cấp quá, Lôi Quyền rút luôn mũi chủy gài ở đai lưng, bất ngờ đâm tréo vào mặt đối phương.

Đức Kiệt té xuống sàn thuyền đưa chân hữu chận chăn tả đá vào khuỷu chân địch.

Không còn thế gỡ nào hơn cho khỏi bị gãy chân, Lôi Quyền ngửa người nhào thẳng xuống sông. Không tha, Chu Đức Kiệt phóng mình xuống nước quyết bắt sống.
Lôi Quyền đương bơi thấy địch thủ theo mình, bèn quát :
- Theo ta xuống nước thì ngươi tới ngày tận số rồi.

Y ngậm ngang mũi chủy, bơi thiệt lẹ đến đánh Chu Đức Kiệt, thủy ba cuồn cuộn.
Chu Đức Kiệt nhào đầu lặn, quơ tay bắt trúng chân đối phương lôi ruột xuống nước chìm lỉm mới buông tay.
Ngay từ nhỏ, Đức Kiệt vốn đã là tay thiện nghệ thủy công, song lần này bơi lặn, chàng có cảm tưởng như vẫy vùng dễ dàng hơn mọi khi rất nhiều vì sức ép của nước bỗng nhiên nhẹ hẳn.

Lôi Quyền cầm chủy nhằm đối thủ đâm trí mạng, Đức Kiệt lánh, né nhẹ nhàng, uyển chuyển như giao long khiến Lôi Quyền kinh ngạc, không ngờ địch thủ lợi hại thủy, bộ như nhau.
Tuy vậy, họ Lôi sử dụng toàn lực quyết thắng. Y vẫy vùng tựa kình ngư, đâm ngang, chém dọc, đánh toàn đòn trí tử. Đức Kiệt né lánh một hồi bắt buộc họ Lôi phải theo theo mình cho mệt. Hồi lâu, hai người cùng nhô lên mặt nước thở mạnh lấy hơi rồi lại lặn luôn.

Lôi Quyền xuống trước, lướt tới đâm mũi chủy nhằm ngực địch thủ. Đức Kiệt không lánh nữa, bắt túng cổ tay họ Lôi, vặn mạnh. Đau quá, Lôi Quyền rời tay. Mũi chủy lắng xuống lòng sông. Thừa thế, Đức Kiệt lặn xuống sâu nữa, lôi địch thủ theo. Xuống thêm năm thước nước nữa, Lôi Quyền cố vùng vẫy nhưng không thoát bàn tay chắc như kềm sắt của họ Chu. Ước lượng đã đủ sâu, Đức Kiệt buông tay ra. Lôi Quyền ngoái lại, xỉa luôn tay song chỉ vào mặt địch. Đức Kiệt bắt luôn tay đó, đồng thời chặt tay Cương đao vào cổ đối phương. Trúng đòn, Lôi Quyền đau quá, há miệng toan kêu, nhưng bị nước lùa vào miệng, mũi sặc sụa ngất lịm.

Họ Chu luôn tay vào đai lưng y lôi lên khỏi mặt nước, nhìn quanh, đoạn bơi thuyền liền về hướng thuyền Âu Dương Bích Nữ.
Chờ hai nữ kiệt bơi thuyền đi khỏi tiếp tay các thương thuyền, Chu Đức Kiệt nhìn về phía tay tả thấy Hoàng Hoa Long đang chăm chú nhìn xuống nước cách đó chừng hai mươi sải tay.
Chàng bèn hướng thuyền về phía ấy :
- Tìm gì thế đại ca? Lịnh phụ thân đâu.
Hoa Long đáp :
- Gia phụ đấu với tên Đệ nhất quái Lôi Thông. Cả hai cùng thủy chiến, nhô lên mặt nước hai lần rồi mà chuyến này chưa thấy lên. Lâu quá! Đại hiệp giữ hộ thuyền này, tôi lặn xem tình hình thế nào.
Đức Kiệt ngăn lại :
- Nếu vậy để tôi lặn tiếp tay. Quân thuyền tới kia kìa. Trao tên thủy khấu này cho họ.
Đức Kiệt lái cho hai mạn thuyền giáp nhau, liệng dây sang thuyền Hoa Long. Chàng bước ra mũi thuyền toan lao mình xuống nước, thì giữa lúc ấy Hoàng Hoa Chiếm nhô lên khỏi mặt nước, tay tả cầm cung, bơi về thuyền nhà. Chu Đức Kiệt và Hoa Long bèn chèo tới cầm tay đón lên thuyền. Hoàng Hoa tiêu sư thở hổn hển, liệng cây cung xuống sàn, rút đoản kích gài ở đai lưng, tháo bao tên liệng cả xuống bên cây cung, rồi cởi áo sũng những nước. Hoa Long e phụ thân bị lạnh, cởi áo ngoài khoác vào cha.
Lúc đó, các chiến thuyền quan quân đã tới vây bắt toàn thể bọn thủy đầu mục, anh em Lư Xích, Lư Hoàng. Lôi Chấn cũng bị Hoàng Hoa Hổ bắt sống trao cho bên quan quân cùng với Lôi Quyền.
Viên tướng chỉ huy các chiến thuyền là Tần Mạnh Đạt đưa mấy thứ y phục khô cho Hoa Hổ thay. Tần Mạnh Đạt xin lỗi tới trễ không được dự chiến vì phải neo thuyền ở xa. Nếu đỗ gần quá, tất bọn thủy khấu nghi ngờ không dám hành động.
Hoàng Hoa Chiếm giới thiệu Họ Tần với các vị anh hùng.
Tần Mạnh Đạt lễ phép :
- Thưa quí vị mấy tên bị chết và mấy tên trốn thoát.
Hoàng Hoa Chiếm nói :
- Hai tên trốn thoát trong đó có tên đầu đảng là Lôi Thông. Hai tên tử trận. Tổng cộng mới có tám thủy khấu.
Trương Tam Nương nói :
- Còn tên Đệ cửu quái bị bắt sống treo đằng ba cây đa lớn cùng với một đầu mục, tướng quân phái người đến lấy ngay.

Tần Mạnh Đạt liền hạ lệnh hai chiến thuyền hộ tống các thương thuyền về bến, chở luôn cả hai tiêu sư áp tải và các thủy thủ bị thương. Một chiếc thuyền khác đổ bộ gốc ba cây đa, lấy hai thủy tặc treo trên cành cây xuống. Mấy chiếc thuyền lớn đâu cả ngoài đầu lạch, còn bao nhiêu chiến thuyền nhỏ thì kéo cả vào trong lạch vào trại giặc.
Mạnh Đạt mời các vị hào kiệt lên chiến thuyền nghỉ ngơi.

Đoàn thuyền vừa đi được một quãng, bỗng có tiếng pháo hiệu nổ trong rừng. Tần tướng quân ngạc nhiên :
- Sao lại có pháo lệnh trong rừng thế này.
Mọi người nhìn nhau không hiểu. Tần Mạnh Đạt hô quân chèo gấp, không bao lâu vào tới trại. Hai cánh cổng vẫn mở rộng. Thiết Xích Tử ngất ngưởng ngồi trên nóc vọng lâu :
- Mời quí vị vào trại! Bắt Trương mỗ chờ lâu quá.

Hoàng Hoa Chiếm hỏi :
- Đại huynh đốt lệnh pháo làm chi vậy? Chúng tôi tưởng trại bị lực lượng nào tấn công?
Thiết Xích Tử nhảy từ vọng lầu xuống cười ha hả :
- Bị tấn công thì việc chi phải đốt pháo hiệu? Chiều rồi, nếu không nổ pháo, mọi người đâu có về lẹ được như vậy.
Tần Mạnh Đạt thấy các anh hùng mỗi người một khí sắc, hào sảng, hồn nhiên nên kính trọng vô cùng. Chàng chia quân, phần giữ chiến thuyền, phần chiếm đóng trại giặc, trói gian đồng bọn thủy khấu vào một nơi, canh phòng nghiêm ngặt.
Hoàng Hoa Chiếm phái Hoa Long, Hoa Hổ dẫn mấy tên quân ra chỗ cây trám giải bốn tên giặc bị trói trên chòi về trại.
Tần Mạnh Đạt hạ lệnh giải đồng bọn thủy khấu xuống thuyền, phái viên chỉ huy phó Vương Mẫn cùng hai phần ba quân lính ở lại tạm chiếm đóng trại giặc đến sáng mai.

Tám vị hào kiệt lên riêng một chiến thuyền đi trước.
Chu Đức Kiệt hỏi Hoàng Hoa Chiếm :
- Có lẽ gì chuyến lặn thứ ba quá lâu đến nỗi Hoa Long ở trên thuyền phải lo ngại vậy tiên sinh.

Tên đầu đảng Lôi Thông thủy công khá lắm. Nó hiểu tôi không quen nước bằng nó nên chuyến ấy xuống sâu. Tôi buộc lòng phải theo, cũng may còn đeo cung tên, tôi liền giắt đoản kích vào đai lưng bắn một phát tên trúng vai nó. Lôi Thông bỏ trận bơi đi. Lúc đó y còn khỏe lắm. Tôi muốn đuổi theo nhưng cần thở đành nhô lên mặt nước.

Lam Y nói :
- Tên đại đầu lãnh ấy không bơi xa được hơn nữa đâu. Nó sẽ lên bờ, rừng cây chi chít biết đâu mà tìm.
Lúc đó Hoàng Hoa Long chợt nhớ đến việc Chu Đức Kiệt bắt tên Lôi Quyền ở dưới nước lên mà võ phục khô nguyên, bèn hỏi :
- Chu đại hiệp cũng lặn xuống sông bắt thủy khấu, y phục không ngắm nước, đầu tóc cũng vậy, thiệt dị kỳ.
Lúc đó Lam Y đã nói Âu Dương Bích Nữ nghe vụ bắt được hai viên Tỵ Thủy, Tỵ Hỏa châu trong cuộc đánh Xích Hoa viện bên Sơn Phu hồi trước và nay mới thấy sự hiệu nghiệm của viên bảo chây ấy vì Đức Kiệt đeo viên Tỵ Thủy.

Lam Y ý tứ đưa mắt nhìn Chu Đức Kiệt đoạn lẹ miệng đáp :
- Khi trước tập thủy công tại Bình Dương, gia huynh may mắn gặp được một ngư phủ lão luyện có phép lạ thư phù cho khỏi thấm nước, không ngờ còn hiệu nghiệm đến bây giờ.
- Hồi nãy y phục có động nước nhưng giũ hết đi ngay.
Đức Kiệt hiểu Lam Y không muốn nói chàng có Tỵ Thủy châu quý báu nên im lặng mỉm cười.
Mọi người nửa tin, nửa ngờ. Sự thật rành rành trước mắt biết nói thế nào.

Hoàng Hoa Long nói :
- Vị ngư phủ đại tài ấy còn ở Bình Dương không Nữ hiệp.
Lam Y lắc đầu :
- Đi đâu từ lâu rồi. Chính tôi cũng không được may mắn như gia huynh.
Anh em Hoàng Hoa Long, Hoa Hổ suýt xoa tiếc rẻ khiến Lam Y bấm Âu Dương Bích Nữ tức cười thầm. Qua nơi giấu chiếc thuyền nhà, Hoàng Hoa Chiếm bảo quan quân ghé vào bờ để Hoa Long, Hoa Hổ lên bờ khiêng bỏ xuống nước, cột dây kéo sau chiếc thuyền về bến.

Lúc đó, trên thuyền còn đông người xúm xít, túm năm tụm ba chờ đón đoàn chiến thuyền trở về. Họ được nghe các thủy thủ hai chiếc thương thuyền bị cướp hụt kể lại trận trên sông do các vị anh hùng hào kiệt lạ mặt cấp cứu. Trong bọn có cả cha con ngư phủ Phùng Tam. Các chiến thuyền chở bọn thủy khấu bị bắt ghé bờ trước. Quan quân đi hai bên áp tải nghiêm ngặt.
Tần tướng quân từ biệt các vị hào kiệt, kéo quân giải bọn giặc về thành trước. Tam hiệp và gia đình Hoàng Hoa tiêu sư đủng đỉnh đi sau.

Khi ấy, trời đã hoàng hôn nên còn chuyến xe sau cùng vắng khách vào thành. Hoa Long thuê cả chuyến và bảo chờ.
Cha con họ Phùng nhận ra bốn người quen thuộc, nên rất đỗi ngạc nhiên.

Phùng Tam bảo cha :
- Hay là ta nhìn lầm? Lẽ nào bốn người cộng sự với ta mà đàng hoàng như thế được.
Phùng ngư phủ nói :
- Lầm lẫn sao được? Con không thấy người em thứ ba họ Cảnh bị trói giải trong đám thủy tặc vừa qua đây ư? Thiệt hú vía, thì ra các vụ cướp trên sông từ trước đến nay đều do bọn chúng cả.

Chu Đức Kiệt hích tay Thiết Xích Tử :
- Kìa cha con họ Phùng đang nhìn bọn ta.
- Để tôi gọi họ, hỏi thăm chơi. Nhờ hai người ấy ta mới bắt trọn ổ bọn thủy khấu.

Nói đoạn, Thiết Xích Tử vẫy tay gọi hai ngư phủ. Cha con Phùng Tam đến vái chào, bỡ ngỡ rụt rè. Thiết Xích Tử vỗ vai lão ngư phủ thân mật :
- Đừng buồn nhé. Chúng tôi có bày vẽ chuyện đánh cá Lý ngư mới tìm ra dấu tích bọn thủy tặc. Từ nay khúc sông này được bình an, khỏi sợ cướp quấy nhiễu.
- Việc đã đành, cha con tôi chỉ lo bị liên can với bọn họ Cảnh mua cá thôi.
- Khỏi lo, chúng tôi sẽ để ý. An tâm làm ăn như thường.
Chu Đức Kiệt hỏi Phùng Tam :
- Sáng nay đại ca có đánh cá không?
Phùng Tam đáp :
- Thưa có bắt được hai con.
- Có vào khu ba cây đa không?
- Không ạ. Lúc ở Kế Giang đầm trở ra thì vừa gặp đoàn chiến thuyền chắn lối. Tất cả chỉ có sáu chiếc, mà sao vừa rồi trở về bến đông đến thế.
- Chắc quan quân kéo đi từ đêm chặn khúc sông trên, thủy tặc mới không nghi ngờ chứ.

Lão ngư phủ hỏi :
- Họ Cảnh những ba người, sao tôi không thấy có tên thứ ba bị bắt.
Đức Kiệt mỉm cười, chỉ Lam Y và Âu Dương Bích Nữ :
- Hỏi gia muội sẽ biết.
Âu Dương Bích Nữ nói :
- Chúng hỗn xược nên chôn thây bụng cá rồi còn đâu.

Lam Y nói :
- Nếu sáng nay tiên sinh vào khu ba gốc đa cũng không khỏi giật mình vì thấy Cảnh Đắc Phu bị bắt treo trên cây. Nơi ấy là chỗ dòm ngó thương thuyền của bọn thủy khấu đó. Có đường dẫn đến trại của chúng cách mặt sông năm sáu dặm. Từ nay tiên sinh nên thận trọng trong việc bán cá, giao dịch, tham mối hàng gần nhưng bị liên can thông đồng với giặc tội nặng lắm đó. Chớ khinh thường có ngày vạ tới sau lưng đa.
Cha con Phùng ngư phủ sợ hãi toát mồ hôi, khẩn khoản yêu cầu nhờ các vị hào kiệt nói giúp với quan trên trong vụ này.
Lam Y nói :
- Chuyến này, tiên sinh khá an tâm, nhưng phải cẩn thận về mai hậu.

Hai người cảm tạ lui bước, hú vía. Tám hào kiệt lên xe về thành.
Trong lúc đi đường, Thiết Xích Tử bảo Hoàng Hoa Chiếm nên chú ý đến việc cha con ngư phủ, kẻo họ bị nghi ngờ bắt oan.

Hôm sau, Hoàng Hoa Chiếm sai gia nhân Trần Đạt đi hỏi thăm mới biết hai thương thuyền bị thủy khấu chặn đánh hôm qua do Phiêu cục của tiêu sư Dương Tấn Huy lãnh áp.

Hai tiêu sư phụ bị thủy tặc Lư Xích, Lư Hoàng đâm té xuống sông, một người mất tích...
Còn Tấn Huy đang rán sức chống chọi thì được Lam Y, Âu Dương Bích Nữ tới giải cứu kịp...

Mọi người đang bàn chuyện bàn tán, tiêu sư Dương Tấn Huy đến thăm, tạ ơn về việc các hào kiệt giúp chiều hôm qua.

Hoàng Hoa Chiếm nói với Tấn Huy :
- Chúng tôi cũng chỉ là những người được giúp đỡ thôi. Có công khám phá ra sào huyệt thủy tặc và làm lệch cán cân trận chiến là giang hồ Tam hiệp đây.
Hoàng Hoa Chiếm giới thiệu từng người một.

Dương Tấn Huy kính cẩn nói với Tam hiệp :
- Nghe đại danh từ lâu, nay mới được diện kiến, hân hạnh cho Dương mỗ biết nhường nào.
Chu Đức Kiệt nói mấy lời khiêm nhường.
Khi họ Dương ra về thì vừa lúc phủ quan Trường Sa Hoàng Kính Tuấn phái sau nha cầm thiệp đến Hoàng Hoa phiêu cục, mời Tam hiệp và gia đình Hoàng Hoa tới phủ nha dùng cơm chiều.

Đúng giờ, Hoàng tri phủ có nhã ý phái công hiệu, tới rước quý khách.
Chủ khách thi lễ xong xuôi, Hoàng tri phủ nói :
- Tần tướng quân phúc trình, tôi mới hay là Tam hiệp và Thiết Xích Tử Trương tiên sinh qua đất Trường Sa. Hồi còn ở Kinh Đô, tôi có được biết vụ đương kim Thiên tử phái khâm sai Tôn Gia Trọng xuống Tô Châu sắc phong quí vị. Vậy nhân đây tôi có lời mừng. Với sự khám phá bọn thủy tặc và trận thủy chiến trên Lăng Lý giang, quý vị đại hiệp đã ghi cho đất Trường Sa một kỷ niệm thật sâu sắc.
Lam Y nữ hiệp hỏi :
- Đại quan có dự tính phá bỏ khu trại cũ của tặc khấu không?
- Không. Theo lời phúc trình cửa Tần tướng quân, căn trại ấy có một địa thế rất lợi cho sự căn phòng trên Lăng Lý giang. Bởi vậy tôi dự tính mở mang thêm, chuyển nơi ấy thành ra đồn quân tiếp phòng, nhân dịp dùng công lực quân đội khai khẩn khu rừng, đào rộng lạch nước để chiến thuyền lớn có thể xuất nhập dễ dàng. Quí vị nghĩ có nên không.
Mọi người đều khen là ý kiến hay.

Chu Đức Kiệt nói :
- Đại nhân thực hành chương trình khai khẩn ấy tức là bọn tặc đạo hết hy vọng lập căn cứ trong rừng sâu và khai thác nguồn lâm sản dồi dào. Thiệt là một công đôi việc. Chắc phải trích trong Ngân khố ra một số tiền lớn mới thực hành nổi chương trình đó.

Hoàng tri phủ lắc đầu :
- Không với số vàng bạc, châu báu tịch thu được của bọn thủy khấu Cửu quái, tài chính rất đầy đủ cho sự thi hành công cuộc ấy. Dù sao, tôi cũng phải chờ sự ưng thuận của thượng cấp về cách sử dụng số bạc lớn thâu được trại giặc mới khởi công.

Tiệc tan, trong khu dùng trà, Hoàng tri phủ nói riêng với Tam hiệp :
- Hiện thời, tôi có một việc thiệt quan trọng muốn hỏi ý kiến và nhờ ba vị, vậy sáng mai có thể tái kiến tại bổn nha được không?
Đồng ý với Lam Y và Âu Dương Bích Nữ, Chu Đức Kiệt đáp :
- Đại nhân có việc sai bảo, lẽ nào anh em tôi chối từ.

Phủ quan nói mấy lời cảm ơn. Mọi người từ tạ ra về. Họ Hoàng hối công kiệu đưa mọi người về nhà thiệt châu đáo.
Sáng hôm sau, y hẹn, Tam hiệp tới phủ đường. Hoàng tri phủ mừng rỡ, mời vào hậu sảnh.

Chu Đức Kiệt nói :
- Đại nhân có điều chi thắc mắc?
Hoàng Kính Tuân chậm rãi :
- Nguyên khu được lệnh triều đình bổ nhiệm Trường Sa, tôi có đem theo người biểu đệ là Hoàng Trọng Hà. Trọng Hà biết võ nghệ và từ trước đến nay vẫn giúp tôi về Ban Mật vụ mỗi khi bổ nhiệm nơi nào. Y hành động khôn khéo, đắc lực. Khi mới tới đây, tôi đọc các hồ sơ cũ, thấy có khoản nói về bọn cường khấu ở Thập Vạn Đại Sơn, nên tôi vẫn có ý muốn tiễu trừ. Bọn cường tặc này quấy nhiễu dân gian, khách thương qua lại vùng đó rất nhiều, lộng hành riêng một giang sơn, không coi ai ra cái gì cả. Tới Trường Sa được ít ngày, tôi phái biểu đệ Trọng Hà đi dò xét tình hình thế giặc Thập Vạn Đại Sơn ngay. Xưa nay, y hành động rất thận trọng, không dè chuyện này mất tích đi biệt không về. Lo ngại tôi phái thêm phó tướng Tôn Vương đi tìm Trọng Hà. Họ Tôn cũng mất tích nốt. Bởi vậy, tôi yêu cầu ba vị đại hiệp giúp tôi, thám thính Thập Vạn Đại Sơn, may ra thấy tung tích hai người đó chăng? Chẳng hay ba vị có thì giờ không? Ngoài quí vị không ai hành động nổi.

Tam hiệp bàn riêng giây lát, Lam Y nói :
- Thời gian không phải là một vấn đề, đại nhân cho phép chúng tôi hỏi mấy điều.
Hoàng Kính Tuân niềm nở :
- Xin quí vị đại hiệp cứ dạy. Tôi sẵn sàng trả lời tất cả những điều hiểu biết.

Lam Y hỏi :
- Hình như Thập Vạn Đại Sơn là một nơi thiên hiểm ở giữa vùng biên thùy Lưỡng Quảng, tại sao đại nhân nhọc công tra cứu làm gì.
Hoàng Kính Tuân lắc đầu :
- Nữ hiệp nói đúng có một phần thôi. Thập Vạn Đại Sơn là cả một dãy núi lớn khởi xuất từ biên giới Lưỡng Quảng chạy dài qua Nam Nguyên huyện và Cẩn Châu ăn sâu vào lãnh thổ Hải Nam. Dãy núi đó cực kỳ hiểm tuấn, mà ngọn Đại Sơn thuộc phần đất Cẩn Châu. Đại Sơn lớn hơn cả các ngọn núi khác của Thập Vạn và cũng là nơi do cường khấu chiếm đóng.

- Vậy phần tiễu trừ thuộc sự thủ phủ Trường Sa.
Hoàng Kính Tuân gật đầu :
- Nữ hiệp nói đúng. Thuộc bổn phận của chính tôi. Chừng nào bọn cường khấu còn chiếm đóng Đại Sơn quấy nhiễu khu vực ấy, tôi còn mất ăn mất ngủ, cho nên dự tính trước nhất của tôi khi mới đến Trường Sa là do thám thính tình thế và tính việc chinh phạt.

Chu Đức Kiệt nói :
- Đường trường thiên lao vạn hiểm, chắc đâu lệnh biểu đệ Hoàng Trọng Hà và Phí tướng Tôn Vương đã tới Thập Vạn Đại Sơn? Họ có thể gặp nguy trong cuộc hành trình.

Hoàng tri phủ đáp :
- Nếu chỉ một mình Trọng Hà bị mất tích thì tôi còn nghi ngờ, nhưng Tôn Vương cũng bặt tăm hơi, nên tôi tin rằng cả hai cùng bị bọn cường khấu Thập Vạn Đại Sơn bắt được, vì nơi đó là mục tiêu nhiệm vụ của hai người ấy.
- Đại nhân có biết đại đầu lãnh Thập Vạn Đại Sơn là ai không?

Hoàng tri phủ lắc đầu :
- Không, nhưng biết rằng chúng khá mạnh, địa thế thiên hiểm bất lợi cho cuộc hành quân. Chắc đại hiệp biết là ai?
- Đại Vương nơi sơn trại ấy là Tháp Tháp Thiên Vương Hầu Văn Lượng, thân phụ của Bát Sơn Hổ Hầu Văn Báo, một trong Ngũ hổ tướng của Thuận Vương.
- A! Ra thế đó! Hầu Văn Báo bị tử trận dưới ngọn phủ của Mã Thành Báo, đệ nhị công tử của Mã nguyên soái, phải không?
- Chính vậy. Hai tướng ấy đồng tài, đồng sức, Thành Báo, thắng là do sự ngẫu nhiên.

Hoàng tri phủ khẩn khoản :
- Ba vị đại hiệp tính sao?
- Chúng tôi nhận lời giúp đại nhân thám hiểm Thập Vạn Đại Sơn tìm lệnh biểu đệ và phó tướng. Nhưng cũng cần nói để đại nhân biết rằng Vĩnh Lạc hoàng đế triệu anh em tôi lai Kinh vào dịp tân xuân. Yêu cầu đại nhân phái người đi theo tin tức về Trường Sa. Từ Cẩn Châu chúng tôi sẽ về thẳng Tô Châu, đỡ phải đi đường vòng thêm mất thì giờ.

Hoàng tri phủ mừng rỡ :
- Tam hiệp nhận lời giúp đỡ là quý, lẽ nào tôi dám làm lỡ việc tiến Kinh.

Lam Y nữ hiệp giảng giải :
- Nếu không mắc việc lai Kinh, chúng tôi có thể hành động rộng rãi hơn nữa như giúp đại nhân tiến quân phá Thập Vạn Sơn trại chẳng hạn, Đại nhân thông cảm ở điểm này cho.
- Tôi hiểu lắm. Dù sao tôi cũng sẽ rán sức trong việc trừ đảng khấu cho khỏi phụ Quân ân. Bao giờ ba vị lên đường?
- Ngày mốt khởi hành sớm. Đại nhân liệu sửa soạn phái người theo :
- Cuối giờ Mão ngày mốt, tôi sẽ cho người thân tín là Trương Nghĩa sang Hoàng Hoa phiêu cục cho quý vị.

Tam hiệp từ tạ ra về.
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 1
 
Posts: 687
Joined: Wed Nov 23, 2011 5:39 pm
I am: Reader

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp

Postby Editor 1 » Fri Jul 18, 2014 2:15 am

Hồi Thứ 40

Cứu người lành hiệp khách thám hiểm Vạn Đại Sơn
Thăm thiền sư, hào kiệt nhàn du Thiếu Lâm tự


Chu Đức Kiệt đem việc Hoàng tri phủ yêu cầu kể cho Hoàng Hoa và Thiết Xích Tử nghe.
Hoàng Hoa Chiếm hỏi :
- Từ hôm tới Trường Sa, ba vị hoàn toàn bận về việc trừ thủy khấu, chưa kịp thăm thú mọi nơi, sao đã vội đi?
Lam Y đáp :
- Hôm nay còn rộng thì giờ từ trưa đến tối và suốt ngày mai, phủ thành có đặc điểm gì tiên sinh cho biết?
Trương Tam Nương nói :
- Để chúng tôi hướng dẫn Tam hiệp đến Lạc Tiên lầu xem một bức kỳ họa. Ta sửa soạn đi ngay đi. Uống rượu trên lầu đó luôn thể.

Hoàng Hoa Chiếm nhắc :
- Hiền thê nên sai gia nhân đến đó giữ trước một thồi, chắc chắn có chỗ thì hơn.

Âu Dương Nữ cười khanh khách :
- Uống rượu ngắm bức danh họa, thiệt kỳ thú! Nhưng du họa sư nào vậy?
Thiết Xích Tử nói :
- Đến nơi nhìn bút ký quý vị sẽ nhận ra họa sư là nhân vật thời nào. Mỗi khi qua đất Trường Sa, không bao giờ tôi bỏ lỡ dịp lên Lạc Tiên lầu uống rượu.
Vợ chồng Hoàng Hoa sửa soạn, giao việc phiêu cuộc cho Hoa Long, Hoa Hổ, cùng Tam hiệp và Thiết Xích Tử thanh thản đến Lạc Tiên lầu.

Trường Sa phủ là một thị thành rộng lớn không kém gì Kim Lăng. Duy về phương diện kiến trúc, phủ thành này cổ kính hơn nhiều bởi lẽ thị trấn thuộc phần trung tâm của Trung Hoa cận cổ. Nội thành chia ra thành hai khu thượng hạ. Thượng khu tức là trái đồi thấp, còn hạ khu là bình địa. Từ hạ khu qua thượng khu, khách bộ hành, kiệu phu có đường thẳng xâu thành bực thang đá. Trái lại, xe cộ thì dùng đường vòng thoai thoải dốc. Hai khu liền nhau, nhà cửa như bát úp, buôn bán, kẻ qua người lại sầm uất lạ thường, chỉ khác ở chỗ trên đường phố thỉnh thoảng du khách lại có dịp lên mấy bậc đá, leo dốc lần lần mà không hay.

Lạc Tiên lầu vẫn có từ lâu của nhà họ Tống truyền từ đời nọ đến đời kia và được sửa đi, sửa lại kiến trúc hợp thời. Lầu ở chênh chếch về hướng bắc thượng khu, ngay giữa hoa viên đầu kỳ hoa dị thảo, liễu rủ, tòng che với những nhịp cầu đá chênh vênh qua hồ sen nhận tạo, và những ngọn giả sơn khúc khuỷu uốn éo phần ngoạn mục. Lạc Tiên lầu cao ba tầng ngay tầng thứ nhất, chủ nhân dựng thêm một đài cao ngót trượng, nơi có bức kỳ họa nổi danh.

Tao nhân mặc khách, hiệp sĩ giang hồ, ai qua Trường Sa cũng tới lầu Lạc Tiên uống rượu, hoa tiên phóng bút đề thơ. Đó cũng là nơi gặp gỡ thơ mộng của cặp uyên ương cùng nhau chuốc chén tương quỳnh, hoặc các vương tôn công tử tụ họp để ngắm giai nhân thướt tha với giải xiêm y muôn màu ngàn sắc.

Sáu người đủng đỉnh đi khắp hoa viên thưởng ngoạn. Tam hiệp không ngớt lời khen, ca ngợi hảo cảnh, Lam Y nói :
- Đi nhiều biết rộng là thế. Mỗi nơi, mỗi lạ, mỗi đẹp, cảnh sắc thiệt đáng yêu.
Hoàng Hoa Chiếm nói :
- Chủ nhân hiện thời là Tống Phúc Bình, nguyên một dòng họ truyền từ thời Tống Mạt, qua Nguyên nay tới Minh, mỗi thời mỗi cải cách dù trải bao thế sự thăng trầm.

Sáu người lên lầu. Tới thượng lầu, mỗi người trạc ngoại tứ tuần, tầm thước phúc hậu, cốt cách hào sảnh, tiến tới niềm nở đón chào :
- Hoàng Hoa tiêu sư bữa nay rộng thì giờ thế? Người đã dành thồi chưa?
Hoàng Hoa Chiếm tươi cười đáp lời và giới thiệu đôi bên :
- Đây là Tam hiệp từ Giang Nam qua Trường Sa, và đây là Tống Phúc Bình tiên sinh chủ nhân Lạc Tiên lầu, vị này là gia huynh trưởng.

Hoàng Hoa Chiếm chưa dứt lời thì, Tống Phúc Bình đã cầm tay Thiết Xích Tử mà rằng :
- Ủa! Trương tiên sinh mà tôi không nhận ra, lỗi biết chừng nào! Ngờ đâu hôm nay tiên sinh đổi trang phục, coi lạ hẳn.
Thiết Xích Tử cười hà hà nói với Tam hiệp :
- Trước kia, mỗi khi Trương mỗ này lên lầu, Tống chủ nhân cứ tưởng là Lý Thiết Quài hiện về đây rủ Hà Tiên Cô vào núi.
Trương Tam Nương nói :
- Đi đâu cũng lôi thôi lếch thếch như hiền huynh, ai mà không lầm.

Trông Thiết Xích Tử ngất ngưởng trong bộ y phục mới, nguyên nếp, đại bào súng sính, Tam hiệp nhìn nhau bưng miệng cười.

Tống Phúc Bình thân dẫn mọi người đến thồi riêng.
Trước khi từ tạ xuống lầu, họ Tống mới nói với Hoàng Hoa Chiếm và Trương Tam Nương :
- Vụ bắt thủy khấu vừa rồi thiệt là kỳ công của Hoàng Hoa phiêu cuộc, lời đồn vang dậy khắp phủ thành.
Trương Tam Nương chỉ Tam hiệp :
- Nhờ võ công của ba đại hiệp mới thành tựu, vợ chồng tôi chỉ phụ tá thôi.

Trước lời chúc tụng nồng nhiệt của họ Tống, Tam hiệp nói mấy câu khiêm nhường Chỉ chiếc đài trong cùng lầu xây toàn bằng hồng thạch vân trắng có sáu bực cao, Lam Y hỏi Trương Tam Nương :
- Bức danh họa để trên đài kia, phải không Đại Nương?
- Dạ nơi hai người đang đứng xem. Mời quý vị lên coi!

Sáu người cùng lên hồng thạch đài. Phía trong cùng, lồng vào khung bằng hồng thạch là một bức tường sơn trắng phẳng lì. Lâu ngày màu trắng đã vàng như màu giấy lụa mà các họa sư vẫn dùng vẽ Thủy Mặc. Ngay chính giữa bức tường ấy là Hà Tiên Cô xách lẵng hoa, lớn bằng người thật.

Tam hiệp cùng ngạc nhiên vì nét họa cực kỳ linh động đến nỗi ai cũng có cảm tưởng như người trong tranh hiện nổi hẳn lên, và đang bước ra khỏi bức tường. Trong góc tả ở trên phiến tường ấy chỉ đề vỏn vẹn có ba chữ “Vương Liêu Nhân”.

Chu Đức Kiệt hỏi :
- Trong “Họa Tùng Biên” có đoạn nói tới Vương Liêu Nhân thời Tống Độ Tông, người đất Hán Dương là một họa sư hữu danh chuyên về môn nhân họa. Sao lại có nét bút của họ Vương trên phiến tường này tại Trường Sa? Hoàng Hoa tiên sinh diễn giải được không?
Hoàng Hoa Chiếm đáp :
- Tôi biết chuyện qua lời của chủ nhân Tống Phúc Bình là một thân hữu. Họ Tống thiệt ra sanh quán tại Hán Dương, Đàm Vân Thôn ở chân Hữu Kỳ Sơn, sau đó mới thiên về Trường Sa là nơi quê ngoại và định cư từ đó tới nay.

Hồi ấy, tổ phụ Phúc Bình là Tống Đức Lương ngụ tại Đạm Vân thôn. Cùng thôn có Vương Liêu Nhân. Đồng niên tuế, hai người rất thâm giao, thường rủ nhau vào núi Hữu Kỳ đánh cờ, uống rượu. Về sau, Tống Đức Lương xuống Trường Sa hưởng gia tài khá lớn bên ngoại và ở luôn đó buôn bán kinh doanh. Đức Lương lập một ngôi tửu quán. Nhờ ở đức tính cần mẫn, hoạt động, Họ Tống phát đạt rất mau lẹ, chẳng bao lâu tửu quán đã thành đại tửu lầu trong vòng mười năm trời. Đức Lương lập gia đình và thưởng cho người lên Hán Dương rước Vương Liêu Nhân về Trường Sa chơi.

Trương Tam Nương ngắt lời chồng :
- Phu quân mời Tam hiệp về thồi uống rượu kể chuyện, chớ đứng đây ư?
Sáu người xuống đài, tửu bảo bưng các món ăn đã đặt lên từ trước.
Sau tuần rượu, Âu Dương Nữ hỏi Hoàng Hoa Chiếm :
- Câu chuyện về sau thế nào, tiên sinh kể cho nghe đi.
- Xin vâng
- “Họ Vương vô gia đình nên có khi ở Trường Sa khá lâu mới trở về Đạm Vân thôn trên Hán Dương.
Trước kia, Vương Liêu Nhân có tài nhưng không được mấy ai chú ý tới vì cư ngụ tại chân núi Hữu Kỳ thì hầu như kẻ yếm thế lấy bàn cờ ly rượu qua ngày Bức họa đầu tiên của Vương Liêu Nhân tại Trường Sa là “Bát Tiên đồ” thân tặng Tống Đức Lương, hiện nay còn treo trong tư thất của Tống Phúc Bình.

Tống Đức Lương trưng bày bức họa ấy ngay giữa phòng khách lớn, nơi quan khách ra vào. Ngờ đâu cử chỉ ấy đã đưa Vương Liêu Nhân lên đài danh vọng. Tuy họa “Bát Tiên đồ”, Vương Liêu Nhân vẫn không đắc ý và thường nói:
“Tiểu đệ họa người như họa tượng, không có “thần”. Xé bỏ đi... họa bức khác. Đại huynh treo làm chi thêm chướng mắt như kẻ qua, người lại”.
Không đồng ý, Tống Đức Lương đáp:
“Hiền đệ khó tánh quá. Bức họa linh động nhường ấy, còn muốn hơn thế nào nữa? Họa là bổn phận của hiền đệ. Trưng bày là việc của ngu huynh. Thế nào cũng kết quả tốt. Định họa người đi lại được như thật chăng”.

Vương Liêu Nhân bướng bỉnh:
“Chớ không ư? Thế nào cũng có bữa, tiểu đệ họa nổi Hà Tiên Cô biết đi cho mà coi”.

Họ Vương rất ưa các tiên nữ và nhất là Hà Tiên Cô. Trưng bày cũng có mà họa xong xé đi cũng có Quan khách qua lại Lạc Tiên lầu đông đảo. Ai nấy đều trầm trồ khen ngợi các bức họa “Vương Liêu Nhân” do Tống Đức Lương trưng bày Từ đó, họa phẩm bán chạy vô cùng, giá cả đều do họ Tống định đoạt. Có nhiều nơi mời Vương Liêu Nhân về tận phủ tân trang để họa, nhưng họ Vương từ chối không đi, giao phí hết việc giao dịch tài chính mặc Tống Đức Lương. Tống Đức Lương thường khuyên bạn: “Tiền bạc, danh vọng lớn rồi, hiền đệ nên nghĩ đến việc lập gia đình, sanh con nối dõi tông đường chớ”.

Vương Liêu Nhân chối nguầy nguậy:
“Không! Chúng ta chung sống với nhau thế này không đủ sao? Không con thì cháu. Các con của Đại huynh vẫn mến tiểu đệ như cha ruột chúng. Việc chi phải đi đâu? Hoặc giả đại huynh muốn như vậy”.

Tống Đức Lương sửng sốt:
“Đâu có chuyện ấy! Ngu huynh tỏ bày điều hơn lẽ phải đó thôi. Chúng ta tình bạn nhưng còn thân hơn cốt nhục, lẽ nào ngu huynh muốn xa hiền đệ”.
Vương Liêu Nhân cười:
“Vậy, yêu cầu đại huynh từ nay đừng nhắc tới việc lập gia đình với tiểu đệ nữa nhé!”

Họ Vương ở hẳn Trường Sa với Tống Đức Lương.
Việc kinh doanh phát đạt vô cùng, Tống Đức Lương sửa sang mở rộng Lạc Tiên lầu thành đệ nhất tửu lầu phủ Trường Sa. Vương Liêu Nhân cũng nổi tiếng như cồn, họa bức tranh nào là bán luôn bức đó, mọi người đều ưa thích, chỉ riêng họ Vương là không ưa tác phẩm của mình. Chàng gọi là bức họa không “thần”.

Nhiều khi chàng bỏ cả mấy tháng trời không cầm tới bút, đi lang thang khắp đây đó, đến khi trở về làm việc lia lịa mới tìm thấy một đề tài gì mới lạ.
Tống Đức Lương biết tánh bạn nên cũng mặc Vương Liêu Nhân đi chán thì về. Họ Tống chuyên trông coi việc bán tranh, nhiều lúc thiếu họa phẩm, không đủ cung cấp cho số đông khách hàng từ khắp nơi trong nước lặn lội dặm trường đến Trường Sa tìm mua. Tình bằng hữu giữa hai người ngày càng mật thiết.

Thời gian qua...

Vương, Tống đều lớn tuổi. Tống Đức Lương trao việc kinh doanh cho con cái lúc đó đã phương trưởng, cùng Vương Liêu Nhân du lịch khắp đó đây.

Năm ấy, Vương Liêu Nhân sáu mươi bảy tuổi. Một hôm hai bằng hữu thảnh thơi ngồi uống rượu, bỗng Liêu Nhân nói với Tống Đức Lương:
“Đại huynh sai gia nhân mài một châu mực, lẹ lên, tiểu đệ cảm thấy lúc này có thể họa một bức thiệt thọ ‘Nhập thần’.”

Tống Đức Lương chiều ý bạn sửa soạn đầy đủ các dụng cụ hội họa để trên án, giấy lụa căng sẵn trên mặt tường.
Liêu Nhân ngà ngà say, chập choạng đứng dậy hối gia nhân bê chậu mực, phóng bút vẽ luôn trên tường sơn trắng hình Hà Tiên Cô xách lẵng bông lớn bằng người thật.
Vẽ xong, họ Vương liệng bút, trở lại thồi tiệc hỏi Tống Đức Lương:
“Đại huynh coi thử, nhập thần chưa? Nhân vật trên tường đã hệt người sống chưa? Nói đi, tiểu đệ không dám nhìn nữa”.
Tống Đức Lương nhìn vào tường, thì lạ thay! Hà Tiên Cô linh động thật, cầm lẵng bông như muốn bước ra khỏi mặt tường, thân hình uyển chuyển. Họ Tống giật mình la: “Trời ơi, tuyệt hảo! Hà Tiên Cô muốn bước ra khỏi tường! Lạ quá!... Vương hiền đệ coi kìa”.
Vương Liêu Nhân vội phắt dậy nhìn lên tường. Quả nhiên, Đức Lương nói đúng, bức họa hoàn toàn linh động. Ngọn bút điêu luyện của chàng đã cho nét họa trên tường một linh hồn. Liêu Nhân sung sướng ngắm nghía hồi lâu, gật đầu đắc ý lảo đảo ngồi xuống kỷ, vỗ vai bạn rằng: “Hà Tiên Cô đã về Lạc Tiên lầu! Đại huynh liệu giữ gìn nàng...” Dứt lời, Liêu Nhân ngả xuống vai bạn thiêm thiếp ngủ.
Tống Đức Lương tưởng họ Vương quá chén, hối gia nhân vực về phòng chẳng dè Liêu Nhân đã quy tiên lúc nào không rõ.

Họ Tống thương xót vô cùng, ma chay cho bạn đầy đủ.
Sau đó, Đức Lương gọi thợ khéo đúc bức tượng thành khuôn lấy hẳn phiến tường có hình Hà Tiên Cô dùng toàn bằng hồng thạch vân trắng xây đài, hồng phiến họa đó vào, di chúc cho con cháu đời đời gìn giữ tôn thờ.

Công việc ấy đã xong, một năm sau, đúng ngày giỗ Vương Liêu Nhân thì Tống Đức Lương cũng mất.
Người nối nghiệp an táng Đức Lương ngay bên mộ phần họa sư họ Vương.
Truyền đời nọ qua đời kia, con cháu họ Vương vẫn giữ được nếp cũ. Lạc Tiên lầu ngày càng canh tân và hồng thạch đài cũng trơ trơ cùng tuế nguyệt.

Riêng phần Hà Tiên Cô, nợ trần hầu chưa dứt, nên tuy hữu linh hồn động mà mãi vẫn không thoát ra khỏi hồng đài...”.
Hoàng Hoa Chiếm kể xong câu chuyện danh họa Vương Liêu Nhân ai nấy đều bùi ngùi tưởng tới cố nhân.
Lam Y nói :
- Thiên hạ mênh mông, thế sự thăng trầm, con người kiếp phù du sẽ trở về với gió bụi, duy chỉ có công quả đặc biệt, mới được lưu lại ngàn thu...

Âu Dương Nữ gật đầu :
- Kẻ duyên nghiên bút, người nợ cung kiếm, phải chăng hai món đó đều là kỳ khí của khách giang hồ văn, võ để lưu cái dở hoặc cái hay lại hậu thế.
Bữa rượu thanh thả kéo dài đến tận chiều mới tàn.

Thiết Xích Tử nói :
- Tôi định nhân dịp này mời Tam hiệp về đất Võ Dương cho gia đệ Trương Tam Vân được diện kiến, dè đâu lại vội đi Cẩn Châu giúp phủ quan Hoàng Kinh Tân.

Chu Đức Kiệt đáp :
- Thiệt ra không đến nỗi vội vàng như chúng tôi đã nói với phủ quan đâu. Có thế, họ mới không hoàn toàn ỷ lại vào sự giúp đỡ, sửa soạn binh tướng thiệt đầy đủ chinh phạt sơn khấu.

Lam Y nói :
- Đáng lẽ không thấy hai nhân viên trở về, phủ quan phải lập tức cất quân, lẽ nào chần chờ đến nay, mấy người đó thịt nát xương tan rồi còn gì.

Âu Dương Nữ hỏi :
- Hay là Trương tiên sinh cùng đi với chúng tôi xem tình hình Hoàng Trọng Hà, Tôn Vương ở Thập Vạn Đại Sơn thế nào. Sau đó ta sẽ ngược dòng qua Võ Đang, Tung Sơn, rồi về thẳng Giang Nam. Hình như tiên sinh có ý đi cùng gia phụ qua thăm Bắc Kinh.

Thiết Xích Tử hoan nghênh :
- Cũng được. Nếu Tam hiệp rảnh rang, lúc này Trương mỗ cũng không có việc gì chuẩn đích.

° ° ° ° °

Nói về Thác Tháp Thiên Vương Hầu Văn Lượng chiếm cứ ngọn Đại Sơn hùng vĩ, thiên hiểm từ lâu. Trước kia, quan quân đã có lần đến bao vây song bị đánh tan.

Đến khi em Thuận Vương là Chu Vĩnh An được bổ nhiệm Trường Sa, chiêu dụ được Hầu Văn Lượng về làm bè cánh cho Kim Lăng, con Hầu Văn Lượng là Hầu Văn Báo, về nhập Ngũ Hổ dưới trướng Thuận Vương, thì Thác Tháp Thiên Vương họ Hầu được thảnh thơi nghênh ngang riêng một sơn hà. Trên sơn trại, xây dựng thành quách kiên cố, đặt cơ quan phòng ngừa gian tế, Hầu Văn Lượng còn có hai nam, nữ đầu lãnh cộng sự rất đắc lực.

Một người là Tiết Cẩn Hoa, nữ đầu lãnh, tuổi ngót tứ tuần, tánh tình ác nghiệt nên giới hắc đạo lâm đặt cho tước hiệu là Mẫu Đại Trùng. Tiết Cẩn Hoa cao lớn, sức khỏe đặc biệt, quen dùng cặp song đao nặng nề ít người bì kịp. Trước kia, Mẫu Đại Trùng thường hoạt động trong vùng Quý Châu.

Một hôm Hầu Văn Lượng có việc vào đất ấy, tình cờ gặp Mẫu Đại Trùng. Thấy họ Tiết bản lãnh khá, kinh nghiệm nhiều về ngành lãnh đạo, Hầu Văn Lượng bèn rủ về Đại Sơn làm đầu lãnh. Chán cảnh hành động một mình, Tiết Cẩn Hoa nhận xét có thể trông cậy được ở họ Hầu bèn ưng thuận về Đại Sơn.
Lúc ấy, Hầu Văn Báo còn dùng dằng chưa chịu đi gia nhập Ngũ Hổ Kim Lăng vì Thác Tháp Thiên Vương chưa có người phụ việc.

Khi Văn Báo đi Lạc Tiên lầu rồi, Hầu Văn Lượng còn chiêu nạp thêm một người nữa vốn là đạo sĩ, đồ đệ của Chương Dương, đồng môn với Đới Vĩnh Khang chủ nhân Xích Hoa viện mà trước kia đã bị Lam Y nữ hiệp và Chu Đức Kiệt hỏa thiêu bên Sơn Phu hắc điếm, Hứa Khải Liêm, trước làm đồng đạo ở Quan Âm am trong cửa Tây thuộc Côn Minh, tỉnh Vân Nam.

Họ Hứa lớn lên tính tình phóng khoáng không chịu được cảnh am thừa dưa muối, thèm khát mùi trần tục, nên bỏ am trốn đi, đội lốt đạo sĩ vào đời. Ngày thời lang thang khắp chốn, miệng vờ vĩnh tụng niệm kỳ thực dò xét các nhà giàu hoặc nơi nào có gái đẹp, chờ đến đêm giở thủ đoạn phi thiềm tẩu bích vào cướp của hiếp tróc. Bị truy nã tại nhiều nơi, Hứa Khải Liêm lại bị quan sở tại truy tìm về các hành động của y vì có người bị hiếp nhận được mặt tên đạo sĩ đại đạo ấy.

Trước sự truy nã gắt gao, Hứa Khải Liêm đành bỏ lốt đạo sĩ, khăn gói lên đường vào đất Hồ Nam định lần mò ra miền duyên hải Quảng Đông. Nhưng khi qua Cẩn Châu, nghe tiếng Thác Tháp Thiên Vương trên Đại sơn, y liền lần mò đến xin đầu bôn.

Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, sau khi thử thách thấy bản lãnh Hứa Khải Liêm rất đáng kể, Hầu Văn Lượng ưng thuận chịu dung nạp y. Khải Liêm muốn trở lại lốt đạo sĩ cho tiện việc lợi dụng những người hiền lành quá tin tưởng, mỗi khi y vào thành Cẩn Châu. Hầu Văn Lượng không chịu, buộc y phải vận thường phục và ở lại sơn trại, nếu không sẽ không dung nạp y nữa.

Không có cách nào hơn, vả lại cuộc sống trên sơn trại cũng rất đầy đủ duy chỉ thiếu có “sắc” nên Khải Liêm cố nén tâm ở lại.
Sau khi quen thuộc với lối sống tặc khấu trên núi, họ Hứa thông đồng với một số đầu mục bắt phụ nữ, thỏa thú tính. Hành động này của y được đồng bọn giữ kín, Hầu Văn Lượng không hay biết chi cả, Hầu Văn Lượng biết thì Hứa Khải Liêm không chắc ở nổi trên Đại Sơn.

Thiệt ra không phải Hầu Văn Lượng ghét nữ sắc, nhưng việc không xâm phạm tới đàn bà, con gái các nơi lân cận là huấn lệnh của Thuận Vương bắt Sơn trại phải giữ uy tín, phòng sau này khởi sự.

Ngày tháng qua, hôm nhận được lệnh Kim Lăng sửa soạn đề binh, Hầu Văn Lượng khấp khởi mừng thầm sẽ có dịp chọc trời khuấy nước một trời cho thế gian biết mặt Hoàng Sào. Dè đâu từ tính toán đến hành động là một bước dài, cuộc khởi loạn im bặt. Hầu Văn Lượng nóng ruột bội phần, toan phái bộ hạ thân tín về Kim Lăng xem xét tình hình, bỗng một tên quân hầu cận của Hầu Văn Báo lẻn vào báo hung tin, các anh hùng hào kiệt và võ tướng của triều đình đã đột nhập Vương phủ đánh tan tướng Kim Lăng, Bạt Sơn Hổ tử trận.
Hầu Văn Lượng đau đớn gầm thét suốt cả ngày như hổ dữ, khiến bọn bộ hạ ai nấy xanh mặt. Gầm thét, tức giận cho hả lòng thôi, chớ có binh cô tướng quả, y làm chi nổi?

Trước kia, dựa vào thế lực Thuận Vương, được Chu Vĩnh An trấn thủ Trường Sa che chở, nay trở lại tình thế lục lâm cường đạo, có thể bất chợt bị quan quân triều đình tiến đánh, chinh phạt. Hầu Văn Lượng biết vậy nên hạ lệnh cho hai đầu lãnh Tiết Cẩn Hoa, Hứa Khải Liêm phải điều khiển lâu ngày canh phòng cẩn mật, e bị đánh bất ngờ.

Hoàng Trọng Hà được phủ quan Trường Sa, phái xuống Thập Vạn Đại Sơn do thám không hiểu tình hình, vừa lảng vảng tới gần núi thì bị phục binh ùa ra bắt đem về Sơn trại tra tấn. Không chịu nổi cực hình, trước Hoàng Trọng Hà còn chối sau đành thú thật. Hầu Văn Lượng không dám giết họ Hoàng truyền giam vào sơn lao giữ làm con tin.

Mười mấy hôm sau, phó tướng Tôn Vương giả làm tiều phu đi qua chân Đại Sơn cũng bị bắt nốt, giam riêng.
Trong vòng hai tháng trời, bắt luôn được hai thám tử của bộ đội Trường Sa, Hầu Văn Lượng hạ lệnh canh tuần gắt gao, luyện tập lâu la phòng có ngày phải thọ địch.

Tuy Hầu Văn Lượng không còn phong độ như khi trước dưới thời Thuận Vương, nhưng nhờ thế Đại Sơn thiên hiểm, tiếng cường sơn thảo khắp nơi Thập Vạn cũng vẫn làm thất đởm tất cả những ai qua lại trong vùng.

Một hôm, Hầu Văn Lượng đang ngồi cùng Mẫu Đại Trùng Tiết Cẩn Hoa và Hứa Khải Liêm uống rượu giải sầu, bàn tán tình hình hiện tại thì chợt có lâu La phi mã lên đại trại báo :
- Thưa Đại Vương, có hai người xin lên núi yết kiến.
Hầu Văn Lượng cau mặt :
- Ai vậy? Nam hay nữ?
- Thưa, hai người đàn bà cả.

Hầu Văn Lượng nhìn Tiết, Hứa hai người như muốn phân trần, thì Tiết Cẩn Hoa đã nói :
- Kỳ quá nhỉ? Sơn trại ta giao dịch với ai đâu? Gian tế chăng?
Hầu Văn Lượng hỏi lâu la :
- Hai người phụ nữ đó người thế nào, có nói từ đâu tới không?
- Thưa, một lão phụ trạc ngoại thất thập, nhưng còn khỏe mạnh lắm và một thiếu nữ xinh đẹp. Lão phụ nói là từ Giang Tây tới.
- Cho vào.

Tên lâu la vâng dạ lui ra, hồi lâu một bọn hơn mười tên áp giải lão phụ và thiếu nữ vào tới đại sảnh.
Hầu Văn Lượng nhận thấy lão phụ tóc bạc phơ như cước, vóc dáng khỏe mạnh, đi lại cực kỳ lanh lẹ, duy có nét mặt ám ngắt độc ác lạ thường. Còn thiếu nữ thì khá kiều diễm tuy không điểm phấn tô son.
Hai người đeo hành lý. Hai tên lâu la đi sau cùng vác cây trượng đốt sắt và thanh kiếm.

Vừa vào tới thềm, lão phụ đã cất tiếng oang oang :
- Lạ thay cho sơn trại này, mụ phải nói, phải van, phân trần cả giờ, khô cả cổ, lâu la mới chịu vào báo rằng mụ xin yết kiến. Đại vương liệu trừng phạt tên đầu mục canh phòng hôm nay đi kẻo có ngày lỡ việc đó.

Hầu Văn Lượng nhìn hai người từ đầu xuống chân :
- Tên hai người là gì? Đến đây có mục đích gì?
Như bực mình về câu nói của Hầu Văn Lượng, lão phụ cười gằn :
- Hừ! Ngoài sơn trại đã căn vặn một thôi, một hồi rồi, nay tới lần Đại vương bắt cung khai nữa?

Họ Hầu khó chịu :
- Ít nhất mụ phải xưng danh và bày tỏ muốn gặp ta có mục đích gì chớ?
Lão phụ nói xẵng :
- Tôi là Bạch Mẫu Ngô Công Tần thị và đây là Hoa cô nương Đới Ngọc Hoàn. Từ Kim Lăng chạy vào Giang Tây và nay tới đây xin ở nhờ.

Hầu Văn Lượng giật mình nhìn hai người:
“Trước kia, mỗi lần viết thơ về Thập Vạn Đại Sơn thăm cha, Hầu Văn Báo thường hay kể các nhân vật Kim Lăng và có mấy lần nói tới Tần thị và Đới Ngọc Hoàn, bởi vậy Hầu Văn Lượng mới sửng sốt khi nghe đến hai tên quen thuộc này”.

Họ Hầu yên trí là toàn thể mọi người kẻ tử trận, người bị bắt, chớ không hay là có người thoát, nên chưa hết nghi ngờ :
- Tại Kim Lăng có ai trốn thoát đâu? Sao mụ tới đây được? Nói cho thiệt!

Tần thị cười ha hả, tiếng lanh lảnh như quạ cái rợn người :
- Thế thì Đại vương không được báo cáo rõ ràng rồi. Riêng trong các tướng trên mặt trận, chúng tôi trốn thoát sau khi thấy cơ sự bất thành còn những người khác không hiểu sống chết thế nào. Lịnh lang Bạt Sơn Hổ bị tử trận trước nhất sau khi đã tranh đấu một trận nảy lửa cùng địch tướng.

Biết lão bà nói thật, Hầu Văn Lượng vội cùng hai đầu lãnh Tiết, Hứa xuống thềm vái chào rước vào sảnh mời ngồi :
- Lão mẫu đừng trách tôi. Từ ngày hay tin Kim Lăng bị thất bại, Sơn trại phải hết sức dè dặt để tránh mọi tai vạ bất ngờ.
Dứt lời, Hầu Văn Lượng giới thiệu hai đầu lãnh Tiết, Hứa.

Chào hỏi xong xuôi, Hầu Văn Lượng thân rót rượu mời Tần thị và Đới Ngọc Hoàn.
- Cơ sự ở Kim Lăng xảy ra như thế nào, lão mẫu kể rành mạch cho tôi nghe với. Tôi vẫn thắc mắc không an tâm.
Tần thị và Đới Ngọc Hoàn thay phiên nhau kể lại trận chiến trong Vương phủ thật tỉ mỉ rõ ràng cho Hầu Văn Lượng nghe. Đoạn nói tiếp :
- Cầm đầu trận đánh bất ngờ ấy là bọn anh em Lam Y nữ hiệp, làm sao có dịp xé xác chúng ta mới hả giận.
- Chính hai tên ấy đã hạ sát Phi Không ở Kim Cương tự bên Dương Châu và Đới Vĩnh Khang bên Sơn Phu.

Họ Đới là phụ thân điệt nữ Đới Ngọc Hoàn đây. Chúng hạ sát cả vợ chồng Vĩnh Khang. Đêm đó, con tôi là Lã Ứng Đãng cũng không thoát nổi. Đới Ngọc Hoàn bị gãy chân, tôi bế chạy thoát.

Hầu Văn Lượng mặt đỏ bừng bừng đập bàn :
- Bọn Lam Y ghê gớm thật! Thù này không trả không xong.
Hứa Khải Liêm nghe Tần thị nhắc đến Đới Vĩnh Khang liền hỏi :
- Họ Đới là sư huynh của tôi, khi đến thọ giáo vân Nam, tôi còn nhỏ tuổi. Thấm thoắt, mấy chục năm rồi.
Ngọc Hoàn khoanh tay nói Hứa Khải Liêm :
- Thế ra Hứa thúc phụ mà điệt nữ không biết, đáng tội quá.

Tần thị hỏi Hầu Văn Lượng :
- Sơn trại lớn thế này sao hiền điệt không chiêu nạp thêm các đầu lãnh cho thêm phần được mạnh mẽ có hơn không?
- Trước khi Kim Lăng chưa thất bại, nơi này đâu có cần nhiều đầu lãnh mà chỉ cần chứa thảo đồn lương. Mỗi khi thêm được người nào thì gởi cả về Kim Lăng cho Thuận Vương sử dụng.
- Nay tới lúc cần người thì gấp quá, tôi không dám rời khỏi sơn trại, e quan quân tới chinh phạt bất thần.

Lão mẫu và Đới điệt nữ ở lại Sơn trại chứ.
Tần thị gật đầu :
- Dĩ nhiên rồi. Từ Kim Lăng chạy qua Giang Tây ẩn náu ít lâu, chợt nhớ ra đã có lần Bạt Sơn Hổ nói chuyện Thập Vạn Đại Sơn nên chúng tôi mới rủ nhau về đây lấy chỗ dung thân.

Hầu Văn Lượng nói :
- Lão mẫu tới đúng lúc, thành phần sơn trại mạnh thêm.
- Tuy vậy hiền điệt vẫn cần tuyển dụng thêm vài người đích đáng nữa, và ta phải đặt thêm “tai mắt” ngoài sơn trại mới được.
- Hiện thời mới bắt được hai tên gian tế do thám sơn trại, còn giam trong lao.

Tần thị hỏi :
- Chúng do thám cho ai?
- Theo lời cung, cả hai đều thuộc thủ phủ Trường Sa.
Tần thị thất sắc :
- Sơn trại này bắt đầu bị dòm ngó rồi còn gì? Đã có biện pháp gì chưa?
- Tình hình Kim Lăng biến chuyển mau lẹ quá, sơn trại thiếu người nên không kịp thay đổi cho hợp thời, lão mẫu và Đới cô nương đến vừa đúng lúc.

Tần thị cười khẩy :
- Tôi e cũng không làm được việc gì có lợi cho Trại chủ. Ở địa vị ấy tôi củng cố sơn trại từ lâu rồi. Tiếc quá! Một nơi thiên hiểm hiếm có như Thập Vạn Đại Sơn, để lỡ cơ hội kiến thiết xây dựng nơi này thành một căn cứ bất khả xâm phạm là một điểm đáng trách.

Hầu Văn Lượng phản đối :
- Tôi muốn nói về việc thiết lập các địa điểm đầu “Tai mắt” cho sơn trại, mà trước kia hoàn toàn không cần tới. Riêng phần đại trại không có gì đáng chê trách. Khi vào tới đây, tất lão mẫu đã để ý tới ba cửa ải được xây dựng dựa vào thế hiểm tuấn của Đại Sơn? Được trấn giữ chu đáo, dù thiên binh vạn mã cũng khó vào nổi độc đạo ấy. Hậu trại là cả một dãy Thập Vạn chưa từng biết dấu chân người. Trong trường hợp khó khăn chẳng hạn, chúng ta có thể đi sâu vào dãy núi ấy dẫn tới biên giới Lưỡng Quảng. Trước kia, tôi đã mạo hiểm đi thử nên mới thiết lập sơn trại nơi đây. Nếu không mệt mỏi, mời lão mẫu và Đới cô nương thăm thú sơn trại tức thì.

Tần thị nói :
- Đến nương nhờ chủ tất cũng phải nghĩ đến vấn đề an ninh chung, không thể bỏ phí một ngày qua. Nào, ta đi quan sát ngay. Chờ đợi nóng ruột chịu không nổi.
Mẫu Đại Trùng Tiết Cẩn Hoa nói :
- Mời lão mẫu và cô nương cất hành lý về tư phòng đã. Tôi cho sửa soạn sẵn sàng rồi. Xin theo tôi.

Trong khi chờ hai người mới tới về phòng sửa soạn, Hứa Khải Liêm nói với đại đầu lãnh :
- Tôi ra tiền trại tuần phòng và ở luôn ngoài đó, sáng mai Tiết Cẩn Hoa thay thế mới về nhé.
- Nhà có khách, chiều hiền đệ không về uống rượu ư?
- Khách người nhà, câu nệ làm chi? Lão mẫu còn nghiệt hơn đại ca, vậy không nên để cho người ấy tưởng anh em ta biếng nhác.

Hầu Văn Lượng mỉm cười, vỗ vai Hứa Khải Liêm :
- Đã vậy, tùy ý hiền đệ, ngu huynh không nghiệt với anh em đâu nhé.
Hứa Khải Liêm vác giáo ra khỏi đại sảnh. Lát sau, Tần thị và Đới Ngọc Hoàn theo Hầu Văn Lượng chỉ dẫn cho quan sát toàn khu. Tần thị khen có nhiều có sáng kiến hay.

Hai bên sườn núi, vách đá nhô ra, chênh vênh, hiểm tuấn lạ thường nếu không phải là tay tuyệt kỷ về môn phi thiềm tẩu bích tất không thể nào do hai ngả ấy vào đại trại được.
Tần thị nói :
- Hai bên vách núi này để cung thủ phòng vệ, mỗi bên chỉ cần độ hai chục tên thừa đủ.

Hầu Văn Lượng lẳng lặng lấy chiếc tu hít trong túi ra thổi nhẹ hai tiếng dài, một tiếng ngắn làm hiệu. Tức thì, từ các hốc đá gần đấy mấy đầu mục nhô ra, nhìn ngược lên phía trên. Một tên hỏi :
- Đại vương sai khiến?
- Không. Ta xem các ngươi có tỉnh ngủ hay không đó thôi.

Bọn chúng lẳng lặng biến mình vào chỗ cũ.

Hầu Văn Lượng giải thích :
- Hai sườn núi có nhiều hốc đá. Mỗi hốc tôi đặt ba cung thủ bắn giỏi, chọn lọc.
Nói đoạn, Hầu Văn Lượng dẫn Tần thị và Đới Ngọc Hoàn ra phía hậu trại tới một khe núi vừa người đi. Họ Hầu đi trước dẫn đường. Ba người len lỏi, vòng vèo tới một hang đá rộng rãi, phía trên, vách đá nhô hẳn ra như mái hiên. Trong hang để toàn các bì gạo thóc và lương khô. Bốn tên thấy đại đầu lãnh tới, răm rắp đứng thẳng người chào.

Hầu Văn Lượng bảo chúng :
- Cho các ngươi tự nhiên.
Nói đoạn, Hầu Văn Lượng dẫn hai người vào hang đi quanh xem xét. Lương thực được chất lên các khung cây chắc chắn, cách nền đá hơn một thước. Trong hang sạch sẽ khô ráo đặc biệt, cách này đặt khung cây chất lương thực thành hàng lối ngăn nắp vô cùng.

Hầu Văn Lượng nói :
- Đây là một trong những kho lương thực tích trữ. Từ đây, cứ đi mãi có tất cả mười hang xấp xỉ như hang này và cùng được tổ chức y hệt. Người trong trại gọi là Thập Loa cốc.

Tần thị hỏi :
- Khi Trại chủ mới đến đây các hang đều sẵn sàng như bây giờ sao?
- Thập Loa cốc thiên nhiên. Dĩ nhiên không được sạch sẽ vì đó là những hang dơi. Chúng ở thành đàn hàng vạn con. Tôi cho phá tổ, đốt mái, hơn một năm mới trừ hết giống đó. Từ hồi đầu bôn Thuận Vương tôi tổ chức thành kho thực vật, tiện biết nhường nào.

- Đường nhỏ này dẫn tới đâu?
- Mới đầu, đường này không dễ đi như hiện tại. Phá phách xây đắp mới được như ngày nay. Vào tới hang thứ mười thì đường nguyên như cũ, len lỏi, cheo leo, vắt vẻo qua năm ngọn núi, người đi sẽ xuống dốc lần lần và bắt vào con đường mà tôi đã vượt qua khi từ ranh giới Lưỡng Quảng mạo hiểm đến đây. Trong trường hợp vạn nhất, sơn trại bị thất thủ, mọi người đều có thể rút chạy qua lối này, chất hai thùng thuốc pháo, đốt pháo cho đổ vách đá xuống, đường sẽ bị nghẽn ngay, trừ phi biết bay mới vào nổi bên trong.

Ba người vừa rời khỏi hang đá. Hầu Văn Lượng dẫn Tần thị và Ngọc Hoàn đi sâu vào chút ít chỉ mấy phiến đá phẳng lì mà rằng :
- Lão mẫu và cô nương ngồi xuống đây nghỉ chân nói chuyện.

Ba người cùng ngồi. Tần thị nhìn xuống sườn núi thăm thẳm. Xa xa ở phía dưới cây rừng chi chít um tùm. Tiếng vượn kêu chim hót vọng lên kỳ lạ.

Gió thổi phần phật nhẹ lùa mấy khóm lá xào xạc chung quanh, khiến họ quên cả bản thân sơn tặc đang lo lắng tìm phương pháp duy trì chốn dung thân.

Tần thị phá tan yên lặng trước nhất :
- Trên sơn trại hiện thời tổng số bao nhiêu lâu la?

Hầu Văn Lượng trầm ngâm :
- Tất cả hai trăm ba mươi lăm người kể cả ba đầu lãnh.
- Vậy thôi ư!
- Có vậy thôi. Dưới thời Thuận Vương tổng số lớn lắm. Đây là một nơi đồn trú quan trọng của vị vương gia ấy. Khi được lệnh gửi quân về Kim Lăng, tôi cho đi hết chỉ giữ nguyên thành phần rất ít thuộc về sơn trại.

Nhìn hai người ngạc nhiên im lặng, Hầu Văn Lượng nói tiếp :
- Xưa nay, tôi vẫn không chủ trương tụ tập nhiều lâu la trong đời sơn trại. Có việc gì đây? Ăn nhiều, tốn của, luôn luôn phải kéo quân đi cướp phá các thôn, trang châu huyện mới cung cấp nổi số lương cần thiết nuôi nhiều miệng. Lão mẫu thử tính coi. Với một sơn trại được tổ chức đầy đủ gọn gàng như Đại sơn, tôi thấy cần chiêu nạp nhiều đầu lãnh hơn là số quân. Lúc giao tranh, tướng đánh nhiều hơn là số quân đông.

Khi giữ nhà cũng vậy. Đầu lãnh vẫn được nhiều việc hơn. Nói tóm lại, chỉ nên nuôi quân cho đủ canh phòng các nơi thủ hiểm và làm việc trong trại. Ta thủ hiểm chớ không cần dàn thành mặt trận như quan quân đi chinh phục. Du kích chiếm căn cứ về phẩm chớ không về lượng. Điều lo nhất bây giờ là làm thế nào chiêu thâu nạp được một số đầu lãnh võ nghệ cao cường.

Tần thị nói :
- Và lập tửu quán địa đầu do thám kẻ qua người lại thuộc khu Đại Sơn. Ít nhất cần năm, sáu đầu lãnh nữa.
Hầu Văn Lượng gật đầu :
- Lão mẫu nói trúng tâm can tôi. Quen biết nhiều, không hiểu lâu nay tại sao các bạn đồng đạo ít qua thăm. Nếu họ tới thế nào tôi cũng ân cần mời giữ. Họ lang bạt, bóng chim tăm cá, biết tìm kiếm phương trời nào bây giờ? Nay thêm lão mẫu và Đới cô nương, tôi muốn cất công liều đi một chuyến. Chỉ e một điều, lỡ quan quân bất thần kéo tới chinh phạt trong khi tôi vắng nhà thì sao?

Tần thị nói :
- Hay là tôi về chốn cũ tìm bọn hảo hán quen thuộc nhủ họ về đây?
- Sanh quán của lão mẫu ở đâu?
- Đất Võ Giang, thuộc Xuyên Vỹ huyện bên Quý châu. Trại chủ nói phải. Tôi đồng ý ở điểm cần đầu lãnh kiệt hơn là số quân. Trong trận đánh trong Vương phủ Kim Lăng thì đủ hiểu.

Hầu Văn Lượng suy nghĩ hồi lâu :
- Nếu cần phải đi thì chính tôi sẽ thân xuất sơn, nhờ lão mẫu trông coi toàn thể trong sơn trại, Mẫu Đại Trùng, Hứa Khải Liêm bản lãnh đáng kể duy có Hứa Khải Liêm hay lông bông về vấn đề nữ sắc, lão mẫu cần để ý kẻo va đi xa gây vạ. Thiệt tình bọn đô đầu phủ, huyện hay châu đến đây, tôi không sợ nhưng chỉ e bọn giang hồ thuộc phe Lam Y nữ hiệp giúp quan quân chinh phạt điều ấy mới đáng lo.

Tần thị chép miệng :
- Nói đến anh em Lam Y quả không có bờ bến nào cả. Cây thiết trúc trượng trước kia của tôi xưa nay làm ghê hồn địch thủ đã nhiều, nhưng bọn Lam Y coi như không. Lam Y dùng trường kiếm, anh nó sử dụng đơn đao, cả hai cùng có lối vung trận ào ào biến hiện bất ngờ. Tay chân rất đều. Nhiều khi đang võ khí bên tay hữu, chúng chuyển sang tay tả, khiến đối thủ bị trái tay không thể ngừa nổi đòn tấn công nữa. Tôi được đấu hai lần với chúng nên nhận xét rất rõ. Theo kinh nghiệm, khi đấu bằng võ khí không có ai dùng cả quyền lẫn cước được hiệu nghiệm. Trái lại, anh em Lam Y có thể sử dụng cả võ khí lẫn quyền, cước trong khi đấu, cho nên trận đánh nhiều hiệp bất ngờ, bất ngờ cho đối phương. Đành rằng công phu luyện tập của chúng rất cao siêu đáng liệt vào bực thượng thừa, nhưng phương pháp “hoặc tả, hoặc hữu” và “Tam dụng” ấy đã đưa lại phần thắng lợi không nhỏ.

Chỉ Đới Ngọc Hoàn, Tần thị nói tiếp :
- Đới Ngọc Hoàn đây cũng đã hai lần gặp Lam Y. Ở Sơn Phu thì bị gãy chân và lần sau này gặp ngay mới đây trong Vương phủ.

Đới Ngọc Hoàn nói :
- Lần đầu chưa hiểu Lam Y thế nào, nên khi giáp chiến không thấy sợ. Giao tranh vài hiệp đầu, tự nhiên cảm thấy khó chịu về phương pháp xung trận của nó, tự khắc thần trí hoang mang, bất định. Gặp nó lần thứ nhì, thú thật rằng điệt nữ hoảng hốt lo sợ ra mặt khi biết phải đụng độ cùng nó, tuy bề ngoài vẫn phải nói cứng.

Hầu Văn Lượng trầm ngâm :
- Nói tóm lại, nếu gặp bọn Lam Y thì nên dùng mẹo mực tranh thắng bại, trông cậy vào sự diện kiến giao đấu tất bị nguy hiểm.
Tần thị gật đầu :
- Chính thế. Không đánh lại được nó trận nào, bực quá! Trong đời tôi quá thất thập, lần đầu bị ức như vậy.
- Chúng là người xứ nào, lão mẫu nhận ra không?
Tần thị suy nghĩ :
- Căn cứ vào thổ âm, anh em Lam Y là người Sơn Đông thì phải. Thuận Vương nói chúng thuộc họ Chu, chắc anh em Lam Y là dòng dõi họ Chu ở Bình Dương đó.

Tần thị hỏi :
- Trại chủ quen biết chúng?
- Không! Nếu biết đã không lo. Phỏng đoán là bọn Lam Y vậy thôi. Danh tiếng Đơn đao pháp Chu gia đất Bình Dương, Sơn Đông trấn khắp miền Đông bắc. Lên tới Giang Tô là có nhiều người biết tiếng Chu gia. Sở dĩ tôi nghe danh vì có họ Lưu tên Đức Quan, sanh quán tại Ý Châu nơi giáp giới hai tỉnh Giang Tô và Sơn Đông. Họ Lưu cũng thạo môn đơn đao, thường đeo chiếc đai lưng bằng vàng chói lọi nên thành hỗn danh Kim Đới Lãng Tử. Y là tay anh hùng độc cước chuyên đơn thân hành động, biến hiện bất chừng, sử dụng thanh đơn đao thập phần khủng khiếp, khiến các tiêu sư trong vùng Giang Tô, Sơn Đông và Hà Nam nhiều lần phải ngán gã. Tuy vậy, Lưu Đức Quan rất sợ một tiêu sư họ Chu tên Đức Văn người Sơn Đông, Bình Dương huyện và cũng là người có môn đơn đao gia truyền cao hơn lối đao của họ Lưu quá nhiều bậc. Đức Quan còn trẻ mà e sợ một người có tuổi như Chu Đức Văn, đủ hiểu họ Chu có thành tích thế nào. Nay anh em Lam Y họ Chu sinh quán tại Sơn Đông, sử dụng đơn đao tuyệt kỹ tất là con cháu Chu Đức Văn chớ chẳng sai.

Tần thị hỏi :
- Kim Đới Lãng Tử bây giờ ở đâu, Trại chủ có biết không?
- Trước kia, gã thường hoạt động ở vùng ranh giới Giang Tô, Hà Nam. Trong vùng ấy, gã hay đụng chạm với Chu Đức Văn, nên phát ngán, bỏ sang Khai Phong phủ và nổi tiếng ở dải đất Hoàng Hà. Chẳng ngờ một hôm lớ ngớ thế nào đụng ngay phải Chu Đức Văn đơn thân quá giang. Họ Chu bảo Đức Quan: “Tôi ngỡ đại ca đi xa rồi, chẳng hóa ra còn lẩn quẩn nơi đây ư. Nên hiểu rằng tôi thường qua đây! Cho đến nay, tôi không muốn ‘nói chuyện’ với anh em vì biết rằng anh em vạn bất đắc dĩ mới ‘làm nhộn’ khách thương. Nên nhớ lời khuyên hôm nay. Đi nơi khác đi! Thiên hạ thiếu gì nơi? Và đừng làm tôi nổi giận”. Theo sự hiểu biết của Lưu Đức Quan thì tiêu sư họ Chu bổn tánh ôn tồn, ít khi rút đơn đao ra khỏi vỏ, nhưng lời nói lạnh như tiền. Y không phá ai cả, và cũng đừng ai mon men phá y mà mang khốn. Y đã không muốn gặp ai thì người ấy phải đi. Bởi vậy, Lưu Đức Quan bỏ miền Khai Phong, Hoàng Hà đi liền nơi khác. Từ đó Kim Đới Lãng Tử lưu động nay đó mai kia, và gặp tôi. Hồi mới xây dựng sơn trại này, tôi mời gã ở lại cộng sự nhưng gã quen hồ hải tang bồng nên ở chơi ít lâu rồi lại ra đi. Cách đây hai năm, Lưu Đức Quan còn qua vùng này, lên núi ở lại mươi ngày. Cho đến nay bặt tin tức. Nếu ta được gã cộng sự trong tình thế này mới thiệt hay.

Tần thị nói :
- Thêm người tài ba một việc tốt rồi. Tuy vậy giá có Lưu Đức Quan cũng chưa phải là lý do để ta an tâm không e ngại bọn Lam Y nữ hiệp.
- Dù sao, Lưu Đức Quan cũng kinh nghiệm nhiều, với thời gian tay đao của gã chắc không đến nỗi nào so với đao pháp của Chu gia. Nếu thiệt ra anh em Lam Y là dòng dõi Chu Đức Văn, biết đâu con chẳng kém cha? Lưu Đức Quan chỉ ngán có một mình Chu Đức Văn mà thôi à.

Tần thị mỉm cười :
- Chưa bao giờ tôi tâng bốc kẻ địch, không hiểu trước kia Chu Đức Văn “hay” tới đâu, nhưng với tuổi tôi, suốt mấy mươi năm hoạt động đụng độ với không biết bao nhiêu người mà tôi chưa từng thấy tay đao, kiếm nào có đấu pháp kỳ diệu như bọn Lam Y. Hồi ở Sơn Phu, tôi gặp riêng hai anh em nhà ấy, kỳ vừa rồi đánh trong Vương phủ Kim Lăng, có một thiếu nữ cùng nhập với Lam Y. Tài sức thiếu nữ ấy cũng thiệt ghê gớm, Thiếu Lâm tự chánh tông.

Ba người đang nói chuyện vãn bỗng có tiếng chân chạy thình thịch tiến tới.
Một lâu la chạy đến thưa :
- Có Lưu đầu lãnh qua thăm sơn trại, mời đại vương về ngay. Đầu lãnh hiện chờ ở đại sảnh. Hứa đầu lãnh đi tuần quanh núi nên không gặp.

Hầu Văn Lượng cau mặt :
- Lưu đầu lãnh nào? Ta đã ra lệnh bất cứ ai cũng phải chờ ta định đoạt mới được mời lên sơn trại, tại sao ngươi dám trái lời, muốn phạt trượng hẳn?

Tên lâu la sợ hãi :
- Thưa đại vương, chúng con ngăn cản nhưng Lưu đầu lãnh nhất định ùa vào. Sau đó, con nhận ra vị đầu lãnh thân hữu với đại vương, đã từng ở chơi Sơn trại cách đây hai năm, nên đành đi theo vào và báo đại vương hay.
Hầu Văn Lượng bỗng nhiên tươi cười, nói với Tần thị và Đới Ngọc Hoàn :
- À! Lưu Đức Quan! Thiêng quá, vừa nhắc tới xong thì y tới, may mắn biết chừng nào. Mời nhị vị về sảnh.

Dứt lời, Hầu Văn Lượng quay bảo tên lâu la đang nửa mừng, nửa lo :
- Chuyến này ta tha tội, nhưng nếu tái phạm thì đừng có trách nghe.

Tên lâu la thoát đòn vái tạ, đi sau ba người trở về đại sảnh.

Tới nơi, Hầu Văn Lượng quả nhiên thấy Kim Đới Lãng Tử đang đi đi lại lại trước thềm đá.
Họ Lưu trạc ngũ tuần, vóc người tầm thước lún phún để râu mép và cằm, trầm hẩm khỏe mạnh, lưng đeo thanh đơn đao vỏ đồng, tua đen.

Đi lẹ tới, Hầu Văn Lượng giơ hai tay niềm nở :
- Chao ôi! Lưu hiền đệ! Hai năm ở đâu mà không qua chơi! Mạnh giỏi chớ?
Lưu Đức Quan cũng vồ vập cầm vai Hầu Văn Lượng lắc mạnh :
- Phải hai năm rồi. Đệ từ Trường Châu qua đây, nhân không có việc gì quan trọng nên rẽ lên sơn trại thăm đại ca. Làm gì mà canh phòng dữ vậy?

Hầu Văn Lượng giới thiệu Tần thị và Đới Ngọc Hoàn với Lưu Đức Quan, đoạn mời mọi người an tọa.
Họ Hầu rầu rầu mặt kẻ tình hình hiện tại trên sơn trại và việc Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Báo tử trận trong vương phủ Kim Lăng cho khách nghe.

Lưu Đức Quan sửng sốt, nói mấy câu chia buồn. Hầu Văn Lượng nói tiếp :
- Vừa nhắc chuyện hiền đệ với Tần lão mẫu đây. Chuyến này chắc hiền đệ không nỡ chối từ, nán lại Đại Sơn giúp Ngu huynh một tay.
- Trước kia khác, nay khác, lẽ nào hiền đệ từ chối không giúp đại ca trong lúc khó khăn này? Từ ngày rời Đại Sơn, tiểu đệ sang Quảng Đông và ở liền đó cho tới nay. Đại ca con nhớ Chử Thiện và Đặng Kim Thanh không?.

Hầu Văn Lượng đáp ngay :
- Có phải Tiểu Bá Ôn và Hắc Thủy Giao không? Hai người cùng lên núi với hiền đệ chuyến trước? Thế sao?
Lưu Đức Quan gật đầu :
- Chính vậy. Có lẽ họ cũng sẽ về đây. Khi ở Trường Châu ra đi, tiểu đệ gặp Chử, Đặng hai người ở Dương Châu nên rủ về Đại Sơn thăm đại ca.

Hầu Văn Lượng vội hỏi :
- Chử, Đặng trả lời sao?
- Có chớ! Họ nói sẽ đi sau vì còn bận chút việc bên Văn Lương huyện. Xong việc sẽ qua Cẩn Châu ngay. Đại ca liệu lời giữ họ ở lại cộng tác luôn thể.

Hầu Văn Lượng xoa tay :
- Có hiền đệ, ngu huynh đã như người bắt được vàng, nay thêm Chử Thiện, Đặng Kim Thanh nữa thì may mắn quá. Ngu huynh lo rầu thiếu bằng hữu cộng tác từ hồi Thuận Vương sơ hở làm hỏng việc lớn. Công trình bao năm nay đều tan thành mây khói, nghĩ mà tiếc!

Lưu Đức Quan cười lớn :
- Tiếc mà chi? Ta phải để thì giờ, tâm trí vào việc trang phòng Đại Sơn chứ? Nhưng đại ca có thể nói chắc rằng anh em Lam Y quả thiệt là dòng dõi Chu Đức Văn?

Hầu Văn Lượng chỉ Tần thị và Đới Ngọc Hoàn :
- Thiệt ra thì ngu huynh không biết hai người đó, duy Tần lão mẫu đã hai lần so thiết trúc trượng cùng chúng rồi. Đới cô nương đây cũng vậy. Không chuyến nào hiền đệ trở về Bắc sao, mà không nghe nói tới chúng?

Lưu Đức Quan trầm ngâm giây lát :
- Có về qua các chốn cũ mấy lần và cũng đã từng nghe đại danh Lam Y nữ hiệp, song không ngờ anh em Lam Y là dòng dõi Chu Đức Văn. Chỉ biết rằng kiếm pháp và đao pháp của chúng ghê gớm lắm. Thế thôi.
Tần thị kể lại việc hai lần gặp Lam Y và những điều nghe thấy, trông thấy về anh em kỳ hiệp ấy cho Lưu Đức Quan nghe.

Họ Lưu nói :
- Việc phòng bị là bổn phận của chúng ta, nhưng xin nói thật chẳng nên đụng độ với anh em Lam Y, như trước kia tôi tránh Chu Đức Văn, có sao đâu.

Hầu Văn Lượng bực mình :
- Lưu hiền đệ cũng tin rằng bọn Lam Y là dòng dõi Chu Đức Văn?
- Đệ biết Lam Y qua lời nói của Tần lão mẫu và đại ca, nên cũng nghĩ như vậy mà phát biểu ý kiến. Nếu trông thấy chúng, đệ có thể phân biệt được ngay. Con thế nào chẳng giống cha?

Tần thị hỏi Lưu Đức Quan :
- Vóc dáng tiêu sư Chu Đức Văn thế nào?
Lưu Đức Quan không do dự :
- Cao lớn uyển chuyển như con báo, mặt tựa mỹ ngọc, mi thanh, mục tú, râu năm chòm cao nhẵn, đẹp tướng như Thường Sơn Triệu Vân, thời Tam Quốc. Hai tay tả, hữu dùng đơn đao đều như nhau. Riêng tôi chưa từng được hân hạnh cùng y giao đấu bao giờ. Nói thiệt, tôi cũng không dám tiếp chiến y, nhưng đã có dịp xem trộm Chu Đức Văn đánh mấy người bên Trực Lệ, khủng khiếp thật.
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 1
 
Posts: 687
Joined: Wed Nov 23, 2011 5:39 pm
I am: Reader

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp

Postby Editor 2 » Sun Aug 17, 2014 9:15 pm

(chương 40 tiếp1)


mấy người bên Trực Lệ, khủng khiếp thật.

Tần thị nhìn Đới Ngọc Hoàn. Hai người lặng lẽ gật đầu khiến Hầu Văn Lượng thắc mắc :
- Tần lão mẫu và Đới cô nương có chuyện gì mà gật đầu vậy?

Đới Ngọc Hoàn đáp :
- Người anh Lam Y giống hệt hình dáng Chu Đức Văn như Lưu lão thúc vừa tả, hôm ở Sơn Phu, tiểu nữ đã có dịp ngồi cùng thồi với y, nhìn kỹ. Phải không lão mẫu?
Tần thị gật đầu.

Lưu Đức Quan hỏi Hầu Văn Lượng :
- Tiết Cẩn Hoa đầu lãnh đâu rồi?
- Y đang đi xem xét mọi việc trong Sơn trại.
- Đệ tưởng Cẩn Hoa bỏ đi rồi. Hiện thời chúng ta sáu người. Nếu Chử Thiện, Đặng Kim Thanh đúng hẹn, tổng cộng sẽ có tám người, yên trí được về mặt quan quân. Hẳn Hầu đại ca bớt lo hơn trước.

- Dĩ nhiên rồi. Một ngày trời, bỗng dưng sơn trại có thêm được ba hảo đầu lãnh, đâu phải chuyện dễ dàng.

Từ hôm đó, Hầu Văn Lượng bàn bạc với mọi người, cắt đặt lại các công việc trên sơn trại, canh phòng thêm nghiêm ngặt hơn nữa.

Ngoài ra, họ Hầu còn theo ý kiến Tần thị và Lưu Đức Quan, lập hai ngôi tửu điếm ở hai địa đầu lối vào sơn trại Một điếm ở lối Cẩn Châu tới do Mẫu Đại Trùng Tiết Cẩn Hoa đảm nhiệm.

Một điếm ở trên đường Định Châu thuộc Phúc Kiến. Điếm này Hầu Văn Lượng nhờ Tần thị và Đới Ngọc Hoàn trông coi, chờ chừng nào có thêm đầu lãnh sẽ mời Tần thị về sơn trại, thích hợp với bản lãnh hơn.

Thiệt ra, Hầu Văn Lượng muốn đặt Hứa Khải Liêm vào chân Tần thị xuống coi tửu điếm cùng Đới Ngọc Hoàn, nhưng sau khi suy tính thấy không được, e Hứa Khải Liêm háo sắc thấy Đới Ngọc Hoàn diễm dáng mỹ miều, động tình, làm bậy xao lãng bổn phận làm tai mắt cho sơn trại chăng.

Hứa Khải Liêm cũng muốn xuống tửu điếm vì ở sơn trại bị Hầu Văn Lượng kiểm soát gắt gao quá, gần lửa rát mặt.

Hầu Văn Lượng theo phương hướng, đặt tên điếm hướng Cẩn Châu là Tây Phương lữ điếm, còn ngôi điếm bên đường Định Châu lấy tên là Đông Phương. Hai ải đệ nhất và đệ nhị đặt dưới quyền Hứa Khải Liêm. Mọi việc cắt đặt xong xuôi thì vừa lúc hai người bạn giang hồ hắc đạo của Lưu Đức Quan và Hầu Văn Lượng tới nơi.

Tay bắt mặt mừng, Hầu Văn Lượng yêu cầu Chử Thiện và Đặng Kim Thanh ở lại giúp sức. Hai người nhận lời ngay.
Chử, Đặng vốn là hai bạn thân thiết, hoạt động tay đôi trong vùng Lưỡng Quảng, thường xuất hiện trên đường từ Liễu Châu đến trường Châu. Chử Thiện lùn không đầy bốn thước, nhưng to ngang quen sử dụng cây côn sắt hổ đầu, bản lãnh rất khá, lanh lẹ vô cùng, nổi danh trong giới lục lâm là Nụy Cước Hổ.

Trái với vóc dáng mập lùn của bạn thiết, Đặng Kim Thanh cao lênh khênh gầy guộc, tóc đỏ hoe, mặt vàng mét như kẻ mới ốm dậy, kỳ thiệt bẩm sanh hình vóc như vậy, nhưng không bao giờ đau ốm, dũng lực đáng kể, thiện dụng cặp giản.

Giới đại đao gọi Đặng Kim Thanh là Bệnh Nhị Lang. Họ Đặng còn có tài phóng phi tiêu bách phát bách trúng, nổi tiếng ưa dùng đòn ngầm, miễn sao hạ được địch thủ thì thôi.
Các bạn đồng nghiệp giao dịch với Bệnh Nhị Lang Đặng Kim Thanh đều nhất mực nể hay sợ y, không bao giờ dám xích mích cùng y, chỉ vì e họ Đặng “thù dai” thì rất phiền.

Tuy vậy, Kim Thanh rất biết nhường nhịn, ít khi nóng giận. Ai biết tánh y, giao thiệp dễ dàng, ưa giúp đỡ, dù công chuyện khó khăn đến đâu, Kim Thanh cũng không từ nan. Đối với Lưu Đức Quan, Kim Thanh kính trọng như bậc anh cả, phần nể vì tài đơn đao, phần kính vì họ Lưu đứng đắn. Hai người Chử, Đặng sở dĩ quen thuộc với Hầu Văn Lượng là cũng do Lưu Đức Quan giới thiệu.

Trước kia, Hầu Văn Lượng thấy cả hai cũng có tài võ nghệ nên định giới thiệu về Kim Lăng cho Thuận Vương, ngôi cao bổng hậu. Quen với đời sống phiêu bạt, lưu động nay đó mai đây. Chử, Đặng cũng chối từ không tham dự. Đó là một điều may mắn cho họ, nếu không thì có lẽ lúc này cả hai cùng hoặc bị tử trận, hoặc bị bắt giải về Yên Kinh cùng đồng bọn Kim Lăng tặc tướng rồi...


° ° ° ° °


Nói về Tam hiệp, Thiết Xích Tử cùng Trương Nghĩa, người nhà của quan Trường Sa, rời phủ thành xuống lối Cẩn Châu.

Tới đâu bốn người hỏi thăm đường vào Thập Vạn Đại Sơn.

Con đường này khá lớn vì là lối thông thương thuyết huyết mạch từ Cẩn Châu qua Định Châu, thuộc địa phận Phúc Kiến.

Khách thương qua lại không ít. Họ đi thành đoàn đông, nhờ các phiêu cuộc ở Cẩn Châu hay Định Châu bảo vệ Sự bảo vệ này không có nghĩa là định đối đầu với Thác Tháp Thiên Vương hùng cứ Đại Sơn, nhưng để đối đầu với các lục lâm lẻ tẻ khác Riêng với Hầu Văn Lượng dưới thời Thuận Vương không những lực lượng đã mạnh mà uy thế cũng ghê gớm, huyện quan Cẩn Châu cũng phải e nể nữa là các tiêu sư tầm thường

Bởi thế, nhiều người biết mình, trăm trận đánh trăm được, các tiêu sư đều chẳng ai bảo ai, mà đều dùng mánh khóe “ngoại khoa” giao dịch, thương lượng ngầm với sơn khấu Thập Vạn, yêu cầu ngơ việc chặn đường mãi lộ, cho các thương đoàn được qua lại trót lọt Tùy theo sự hàng hóa nhiều ít, khi đi qua đại sơn, Hầu Văn Lượng phái người ngầm kiểm điểm, bắt các tiêu sư nộp một số bạc bách phần tương đối Các tiêu sư không kém, “mánh lới” cùng với bọn đầu mục có phận sự kiểm điểm thương đoàn, “vi thiềng” và đóng ít tiền đi.

Bọn đầu mục thấy phát tài, chịu điều đình ăn thông với tiêu sư, Hầu Văn Lượng và các đầu lãnh ở trên núi biết đâu mà dò Lúc đó nhờ số bạc do Thuận Vương cung cấp nuôi binh, Hầu Văn Lượng mãi trông coi các việc khác hệ trọng hơn là sự thâu “mãi lộ ngầm” của tiêu sư, nên các tiêu sư thả cửa ăn thông với bọn đầu mục Đại lộ quan trọng giữa hai miền Cẩn Định song bị Đại sơn án ngữ ngay vào quãng gần giữa, thành thử chỉ có lữ điếm ở hai bên đầu đường.

Phần giữa gần sơn trại quá, không một ai dám thành lập tửu quán, sợ bị sơn khấu quấy nhiều.

Vả lại, Thác Tháp Thiên Vương cũng ra lệnh cấm nhặt, bắt bộ hạ dò thám, tuần tiễu khắp vùng lân cận, nếu kẻ nào dại dột mon men đến đó, thì bắt ngay sơn trại điều tra. Hầu Văn Lượng còn cấm các tiều phu không được vào núi đốn củi tìm cây Sau khi em Thuận Vương trấn nhiệm Trường Sa bị triệu hồi Yên Kinh và tân quan thay thế, Hầu Văn Lượng còn nghiệt nữa về đủ phương diện. Bọn đầu mục bị kiểm soát chặt chẽ, không thể thông đồng với các tiêu sư được như trước nữa. Phiêu cuộc phải nạp đủ số tiền tương đối với thương đoàn qua khu vực Đại Sơn, một phân bạc cũng không thiếu Hai người, Hoàng Trọng Hà và Tôn Vương không thận trọng, trá hình làm tiều phu vác rìu vào rừng sâu thuộc phạm vi Đại Sơn vờ đốn củi, dò thám tình thế hiểm tuấn của ngọn núi nên sa lưới sơn khấu ngay Hoàng, Tôn không còn chối cãi được nữa.

Đời ai lại dám đi một mình vào một khu hoang sơ như Đại Sơn đẵn củi.

Đẵn bán củi cho ai? Nhất là quanh vùng thiếu chi rừng hoang đốn củi mà lại tới đó.
Hoàng, Tôn hấp tấp không hiểu tình hình đã vội “lạc lõng” ngay vào giữa khu vực nguy hiểm, nên để bại lộ việc phủ quan Trường Sa định chinh phạt thảo khấu.

Sự sơ hở của phủ quan phái người bất đắc lực đi do thám một việc quan trọng, sự kém cỏi vụng về Hoàng Trọng Hà và Tôn Vương trong công tác đã làm giật mình cho Hầu Văn Lượng, khiến họ Hầu vội vàng củng cố lực lượng thủ Đại Sơn. Trong trường hợp, nếu ý định đảng khấu không bị tiết lộ, tất việc hành quân không đến nỗi khó khăn trước một đối phương không phòng bị.

Tam hiệp và Thiết Xích Tử đi hết ngày hôm đầu sau khi rời Cẩn Châu, nghỉ lại tửu quán bên đường.
Chu Đức Kiệt hỏi chủ quán :
- Từ đây qua Thập Vạn Đại Sơn còn bao nhiêu xa nữa.

Chủ quán nhìn mấy người, đoạn trả lời :
- Còn hai ngày đường nữa thì qua Đại Sơn. Sáng mai khách quen lên đường, đi một mạch không bị sự cản trở thì hoặc sẩm tối ngày mốt, hoặc sáng sớm ngày thứ ba thế nào cũng tới nơi. Nội ngày mai còn đi qua các thôn trang như dọc đường từ Cẩn Châu đến đây, sáng ngày thứ ba, làng mạc và tửu điếm thưa lần lần.
- Tại sao vậy?
- Có một bọn cường khấu chiếm đóng Đại Sơn từ lâu rồi, nếu không ai dám ở gần khu vực ấy cả.
- Nghĩa là sang ngày thứ hai, ba, tư chúng tôi phải chuẩn bị vì không có lữ quán trúng độ đường.

- Dạ, trước kia thì như thế đó. Song ít bữa nay, đoàn khách thương ở Định Châu về qua đây cho chúng tôi biết rằng có hai tân tửu quán mới thành lập ở ngay khu Đại Sơn sạch sẽ và đàng hoàng lắm. Quý khách không sợ lỡ độ đường nữa.
- Người nào dám dựng tửu điếm gần sơn trại cũng gan dạ lắm nhỉ?

Chủ quán gật đầu :
- Gan dạ thiệt đó! Nhưng không nghe nói xảy ra chuyện gì cả, tức là an ninh. Có lẽ bọn sơn khấu không chú ý tới mồi nhỏ? Dù sao quý vị cũng nên tiểu tâm.

Hôm sau, năm người lên đường. Phong cảnh thiệt đẹp. Đồi núi chen chúc, thỉnh thoảng lại có thôn xóm xa, gần dựng bên suối nước trong veo.

Lam Y nói :
- Phong cảnh nơi đâu y hệt miền Bắc, ngắm không chán mắt.
Thiết Xích Tử nói :
- Hồ Nam là phần đất thuộc Trung Hoa cổ kính sông dài, suối rộng, rừng núi hùng vĩ chập chùng không khác chi đất Bắc, chẳng nên so bì với vùng Giang Nam và mấy nơi duyên hải.
- Hôm qua nghe chủ quán nói chuyện với gia huynh về tửu điếm gần Đại Sơn, tiên sinh có ý tưởng gì không?

Thiết Xích Tử gật đầu :
- Có chứ! Các vị tất không lạ gì việc sơn khấu thường phái nhân viên “Nhỡn Mục điếm” để tiện bề dò xét kẻ qua, người lại, quan sát thấy sự gì lạ hay nguy thì báo về cho sơn trại ngay. Hai điếm mới thành lập lấy phần tổ chức của cường khấu Đại Sơn đó.

Âu Dương Nữ nói :
- Chắc chắn như vậy. Nếu lập tửu quán sinh nhai được trong vùng Đại Sơn thì từ trước đến nay đã bao người làm rồi, lẽ nào chờ đến bây giờ bỗng nhiên mọc ra hai quán như tự trên không rớt xuống thế! Ta sửa soạn kế hoạch đi thì vừa. Tiên sinh, cô muội và Chu huynh lập sẵn chương trình hành động chưa?

Lam Y nói :
- Tiểu muội biếng nghĩ lắm. Xin nhường ba vị. Dù thế nào, chiều nay cũng phải để Trương Nghĩa ở lại tửu quán. Đem y vào Đại Sơn e lịch kịch lắm, thêm khó cho sự hành động.

Mọi người khen phải. Chu Đức Kiệt nói :
- Đối với Hầu Văn Lượng không những ta là khách qua đường, qua ngưỡng cửa trại giặc, mà còn là kẻ thù.
- Họ Hầu tất phải biết tin con y là Bạt Sơn Hổ tử trận trong Vương phủ mà điều khiển trận chiến là chúng ta. Mối thù đó...

Âu Dương Nữ nhìn Đức Kiệt :
- Tiểu muội đang tự hỏi kẻ nào biết được việc chúng ta điều khiển trận đánh trong Vương phủ Kim Lăng mà báo cáo cho Hầu Văn Lượng.
- Chà! Thiếu gì? Hoặc là bọn thủ hạ của Hầu Văn Báo, hoặc bọn đầu đà, và có lẽ và Tần thị và Hoa cô nương Đới Ngọc Hoàn.

Thiết Xích Tử gật đầu :
- Chu hiệp nói phải. Như hồi ở Sơn Phu, sau khi thất bại, Tần thị đã chẳng về nương nhờ Kim Lăng là gì? Nay thất bại nữa, lẽ nào chúng không về Đại Sơn nương thân chờ thời.
Chu Đức Kiệt nói :
- Bản lãnh như Tần thị không tầm thường hai lần chiến, hai lần bại nên mụ tặc đạo ấy và Đới Ngọc Hoàn nương náu ở Đại Sơn, tất kể chuyện chiến đấu trong Vương phủ. Do đó, Hầu Văn Lượng thấy e nể bọn ta hơn vì y suy xét rằng Kim Lăng tướng mạnh quân đông, ta còn chẳng sợ nữa là nơi sơn trại thảo khấu.

Mỉm cười, Âu Dương Nữ hỏi Đức Kiệt :
- Chu huynh định nói gì? Chúng e nể thì sao? Mà không e nể thì cũng sao.
- Ngu huynh tính thế này... thế này... Được không hả Trương tiên sinh và nhị vị hiền muội?

Thiết Xích Tử khen phải :
- Hành động lối ấy tôi ưa lắm. Thiệt ra rất đàng hoàng. Tiên lễ hậu binh. Nếu chúng không chịu, ta cứ việc “hậu binh” giữa ban ngày lo gì Lam Y đồng ý :
- Kế đó nghe được. Trong trường hợp chúng trở mặt, ta sẽ áp dụng lối “Đơn đao Giang Đông phó hội vậy”.

Chiều hôm ấy vào quán trọ, Chu Đức Kiệt dặn Trương Nghĩa :
- Bây giờ sắp sửa thâm nhập vùng Đại Sơn đem ngươi đi theo không tiện, ngay như chúng ta cũng để cả hành trang lại quán. Ngươi khá coi giữ cẩn thận, ở lại đây cho đến khi ta trở lại nghe.
- Dạ tôi hiểu rồi, quý vị có thể trông cậy ở tôi.

Hồi đó, tiết cuối Thu, trời hơi lạnh. Ngoài y phục mang sẵn trên người, mỗi người chỉ đem theo một chiếc áo trấn thủ và mấy thứ cần dùng phòng khi cắm trại, còn thì để lại tửu quán.
Không vướng víu, Tam hiệp và Thiết Xích Tử cho ngựa đi lẹ hơn, nên xế chiều hôm thứ ba thì đi tới một bơi rừng bạt ngàn, trùng điệp, hùng vĩ. Xa xa dựa bên suối, một tửu điếm rộng rãi khang trang, lá chiêu bài vàng Chử đỏ gài trên thân cây đại thọ trước cửa điếm.

Chu Đức Kiệt dặn Thiết Xích Tử :
- Cẩn thận sự xưng hô nhé! Chúng ta là bạn đồng hành. Ba anh em tôi dùng hai Chữ “tiên sinh” như thường, nhưng đối với chúng tôi, tiên sinh đừng dùng Chữ “Hiệp” lộ liễu quá.
Thiết Xích Tử mỉm cười :
- Dạ, tôi hiểu rồi, đại ca ạ. Coi kìa, bọn tiểu nhị nghe tiếng vó ngựa đã ùa ra đón khách... Ồ, lại có cả một bà lực lưỡng nhường kia! Mới nhìn đã thấy vui mắt rồi!

Lam Y bình phẩm :
- Hừ! Tửu điếm ở giữa nơi sơn cước mà có thứ phụ nữ này đáng nghi quá. Chúng ta giả đò đi thẳng xem thế nào, nhé.
Một tên tiểu nhị chạy thêm ra mấy bước gọi :
- Mời quý khách ngừng bước nghỉ thôi. Gần đây không có tửu điếm nào nữa đâu. Đi thêm sẽ lỡ độ đường.
- Thiệt vậy không? Hay ngươi trí trá để rước khách?

Tiểu nhị chỉ tay về tửu điếm :
- Lẽ nào chúng tôi dám trí trá, vả lại bổn điếm khang trang nhường này, quý khách không vừa ý sao?

Nhìn qua tửu điếm một lần nữa, rẽ ngựa đến trước cửa nhảy xuống trao cương cho tiểu nhị.

Thiết Xích Tử lững lờ nhìn lá chiêu bài gài ở thân cây đại thọ :
- Tây Phương điếm!
Mẫu Đại Trùng Tiết Cẩn Hoa vì chính mụ đăm đăm nhìn bốn con tuấn mã, khen thầm ngựa quý, đoạn đon đả đón khách :
- Mời quý khách quá độ vào bổn điếm nghỉ ngơi. Cơm rượu, ngon lành, hỏa đầu giỏi, khang trang sạch sẽ, chắc quý vị sẽ được vừa lòng.

Vừa nói, Mẫu Đại Trùng vừa nhận xét bốn người mới đến và hỏi tiếp :
- Quý vị từ đâu qua đây? Đang đi Định Châu phải không?
Chu Đức Kiệt đáp :
- Từ Trường Sa qua đây, và không đi Định Châu.

Câu nói của chàng có sức mạnh khiến cho Mẫu Đại Trùng mất bình tĩnh. Ai cũng nhận thấy sự ngạc nhiên thoáng hiện trên nét mặt tinh quái của mụ ta Nhận thấy cái hở xúc động của mình vì hai tiếng “Trường Sa”, Mẫu Đại Trùng nói lảng :
- Quý khách lấy mấy phòng?
- Hai phòng liền nhau, hay một phòng lớn cũng được.

Mẫu Đại Trùng dẫn bốn người vào nhận căn phòng lớn nhất.
Cất hành lý, rửa mặt xong xuôi, tất cả cùng trở ra thực phòng lựa thồi, gọi thức ăn.

Tiểu nhị hỏi Thiết Xích Tử lớn hơn cả :
- Quý khách dùng rượu không?
- Có lấy hai hồ rượu hảo hạng.

Tiểu nhị trở vào, lát sau bưng các món ăn, rượu và bốn chiếc ly bàu ra thồi. Y rót rượu hầu.
Chờ tiểu nhị rót sang ly thứ hai. Chu Đức Kiệt úp hai chiếc ly của Lam Y và Âu Dương Nữ xuống thồi nói :
- Hai ly đủ rồi, hai người không uống.

Giữa lúc đó, Mẫu Đại Trùng ngồi ở quầy hàng vội lên tiếng bảo tiểu nhị :
- Sao ngươi lại lấy lầm thứ rượu không được ngon thế này? Ta nghe rõ ràng quý khách gọi rượu tốt mà.

Dứt lời, mụ bước lẹ đến thồi bốn người nói mấy câu xin lỗi, tự tay rót hai ly rượu đầy vào hồ thiếc, rồi mắng tiểu nhị :
- Chứng nào vẫn tật ấy, hay quên. Vào lấy rượu ở bình sứ ra đây!
Mụ quắc mắt nhìn tên tiểu nhị đang luống cuống không biết hành động thế nào cho trúng ý chủ nhân.
- Thưa, hồ thiếc mà... hồi nãy...

Mẫu Đại Trùng át giọng :
- Lấy ngay rượu ở bình sứ ra đây, đó mới là rượu ngon! Lẹ lên, lấy thêm cả ba chiếc ly khác nữa. Mau!
Tiểu nhị luống cuống cầm hai ly dở và hai hồ rượu thiếc vào nhà trong. Lát sau, y bê hai bình sứ và mấy ly sạch bầy trên khay tươm tất trở ra Mẫu Đại Trùng tự tay rót rượu mời Thiết Xích Tử, Chu Đức Kiệt và rót đầy ly thứ ba, uống một hơi cạn.

- Bây giờ mới là rượu hảo hạng, mời quý khách dùng cho khỏe người kẻo đi đường xa mệt nhọc. Tên tiểu nhị này đãng trí hay sơ suất, người vui lòng tha lỗi.

Lam Y nhìn ba bạn đồng hành, mỉm cười, cầm bình rượu rót đầy ly cho Âu Dương Nữ, cho nàng và rót luôn vào ly của Mẫu Đại Trùng đoạn kéo ghế mời ngồi.

- Chủ quán cũng là chỗ bạn gái, ngồi đây nhắm nháp nói chuyện cho vui.
Mẫu Đại Trùng đàng hoàng ngồi xuống ghế, không chút câu nệ :
- Tiết Thu ở giữa miền rừng núi khá lạnh, quý khách có muốn hâm rượu, tôi sẽ sai đem lò lửa lên.

Lam Y lắc đầu :
- Uống thế này vừa ngon, hà tất phiền thêm. Nào xin mời...
Nàng và Âu Dương Nữ nưng ly. Mẫu Đại Trùng uống theo. Thiết Xích Tử đang khát, hối tiểu nhị đổi ly lớn, uống luôn một chập như trâu vục nước hết nhẵn cả hai bình, đoạn gọi luôn hai bình khác, tự rót mời Mẫu Đại Trùng.

Viên nữ đầu lãnh lăn lóc đã nhiều giữa bọn thảo mảng cường tặc cũng phải ngạc nhiên về tửu lượng vô song của Thiết Xích Tử càng uống càng tỉnh không biết say. Mụ còn sợ hơn nữa về mánh lới giang hồ lão luyện đổi rượu của bốn vị quý khách. Mụ chú ý đến hai thanh trường kiếm của Lam Y, Âu Dương Nữ và cây Thiết Tinh Đơn Đao của Chu Đức Kiệt và ba vòng thiết xích đen sì của Trương Tam Sơn. Mẫu Đại Trùng tự nhủ: “Hẳn đây là những món bảo khí hữu dụng của nhà nghề, khác xa với những thứ võ khí thông thường của khách trường hành mang theo phòng thân!” Tuy chưa biết bốn người đó thuộc nhân vật nào, những linh tính báo cho mụ biết rằng họ chẳng phải thường nhân. Bởi vậy, Mẫu Đại Trùng nảy ý kiến bắt họ giải sơn trại, đoạt các món võ khí mà mụ cho là hảo hạng và bốn con tuấn mã lực lưỡng đầy sinh khí.

Trong khi bốn người rửa mặt, Mẫu Đại Trùng thừa dịp dạy tên tiểu nhị nếu khách gọi rượu sẽ bỏ thuốc mê vào hồ thiếc đem ra. Tiểu nhị thi hành đúng lệnh chủ. Chẳng dè, “cao cờ” gặp “cờ cao”. Lối dùng rượu “lanh ly” của Chu Đức Kiệt đã đánh sai lạc cả mưu mô của viên nữ đầu lãnh cường sơn.

Khách hiện diện bốn người, hai nam hai nữ trung hào kiệt Lão hán đeo xích sắt và anh chàng tuấn tú kiêu dũng kia “đổ” vì rượu có thuốc mê ngấm mạnh đã đành, nhưng còn hai nữ kiệt không uống, biết rượu hãm thuốc mê dĩ nhiên hai cây trường kiếm ghê gớm kia sẽ chẳng chịu nằm gọn trong vỏ.

Bỗng dưng gây ra một trận xô xát ích lợi để làm gì?

Không bắt nổi, thà rằng để họ đi còn hay hơn. Lập Tây Phương điếm, đại đầu lãnh Hầu Văn Lượng chỉ có một mục đích phòng ngừa bắt các thám tử Trường Sa và bọn Lam Y nữ hiệp nếu họ đến quấy rầy sơn trại.
Hai tay cân quắc anh hùng kia, một vận võ phục sắc lam thật, một võ phục tím huyền nhưng không chắc thiếu nữ lam y đã hẳn là Lam Y nữ hiệp. Phụ nữ dùng nhiều sắc áo, biết đâu người ấy đã chẳng vô tình mang trúng màu sắc của vị Nữ hiệp lừng danh thời đại ấy.

Tính kỹ hơn, bốn người lướt qua ngựa qua điếm định đi thẳng, chẳng muốn dừng chân. (Đây cũng là một mánh lới đánh lạc sự nghi ngờ của lục lâm tặc điếm do Tam hiệp sắp đặt từ hôm trước), nếu chính mụ, Mẫu Đại Trùng không hò bọn tiểu nhị chạy ra đón khách.

Suy tính như vậy, nên Mẫu Đại Trùng vội vờ vĩnh mắng át tên tiểu nhị thay “rượu” lành cho khách uống. Mụ còn đích thân uống trước một ly cho khách khỏi nghi ngờ.

Bốn tay giang hồ hiệp khách thừa biết như vậy, cười thầm. Cẩn thận hơn nữa, Lam Y e nữ chủ quán ngậm trước thuốc giải mê nên nèo Mẫu Đại Trùng đồng ẩm. Nàng thừa hiểu đang cụng ly cùng cường khấu ở giữa khung cảnh Đại Sơn của dãy Thập Vạn hiểm tuấn.

Tuy vậy, Mẫu Đại Trùng còn thắc mắc ở điểm hành lý “quá nhẹ” của bốn quái khách trường hành.
Đường xa, dặm thẳng, lẽ nào mỗi người chỉ mang theo một bọc áo nhỏ xíu? Vô lý quá! Họ đã chẳng nói là từ Trường Sa phủ qua đây đó ư? Hay là họ khôn khéo và mưu tính gì đây?

Mẫu Đại Trùng hỏi :
- Quý khách từ Trường Sa qua đường này không đi Định Châu thì đi đâu? Con lộ này dẫn tới Định Châu thuộc đất Phúc Kiến.

Lam Y nói :
- Chẳng giấu gì chủ điếm, chúng tôi thuộc đoàn mãi võ lớn lưu động từ Bắc chí Nam. Mới đây diễn Trường Sa. Đi tới đâu may mắn cũng được thập phương tử quý mến hoan nghênh, số tiền thâu khá nhiều. Chẳng dè, trong đoàn có mấy kẻ tham lam, ẵm trọn túi bạc dông nhất. Còn lại ba anh em tôi và gia thúc (Lam Y chỉ Thiết Xích Tử). Chúng tôi theo vết bọn manh tâm xuống Cẩn Châu. Sau mấy ngày thăm dò, có người nói là có một bọn chúng đi đường này. Họ tả hình dáng, y phục rất trúng nên chúng tôi vội bỏ cả hành lý ở lữ quán Cẩn Châu đuổi theo. Chẳng ngờ đường quá dài, lạc lõng tới đây, Đại Nương có thấy bọn sáu người qua khu này không?

Lam Y đóng kịch khéo khiến Mẫu Đại Trùng lúc đó tưởng thật.
Mụ đáp :
- Không. Tôi có mặt ở tửu điếm cả ngày mà không thấy toán người nào có vẻ thuộc mãi võ đoàn đi qua cả. Hay là người ta chỉ lầm đường cho cô nương? Mãi võ đoàn thuộc tỉnh nào?

Lam Y không do dự :
- Tế Nam phủ, Sơn Đông. Phiêu bạt hơn năm nay rồi mà chưa hồi cố hương, nghĩ đến buồn. Bây giờ còn vẻn vẹn bốn người, không lẽ cứ tiếp tục hành nghề mãi kiếm tiền độ đường mới hòng về được hương quán. Chán nản quá, gia thúc bàn muốn giải nghệ. Mà giải nghệ thì sinh nhai bằng cách nào?

Mẫu Đại Trùng nghĩ thầm:
“Trông bọn này cũng chẳng phải tay vừa. Chi bằng đang lúc sơn trại cần nhiều người, ta rủ chúng ở lại Đại Sơn tụ họp, hay biết nhường nào”.
Mụ thở dài ra dáng ái ngại :
- Trước kia, tôi cũng phiêu bạt mãi võ khắp nơi, tốn công, hại sức mà rút cuộc chẳng ăn thua nên xoay nghề khác, mới đây, gặp được người quen giúp vốn mở ngôi tửu điếm này và được an thân.

Âu Dương Nữ nói :
- Đại nương may mắn gặp người quen, chớ chúng tôi biết quen ai nơi đất khách quê người này? Ai hơi đâu bỏ tiền ra giúp đỡ? Ăn xài quen rồi, mai mốt đây chẳng biết ra sao thế nào?

Mẫu Đại Trùng tóm trúng cơ hội :
- Vị ân nhân của tôi ở gần đây, nếu quý vị cần giúp, tôi sẽ vui lòng giới thiệu. Người ấy cũng là một tay thảo dã anh hùng, hào phóng lắm.

Chu Đức Kiệt nói :
- Chúng tôi những bốn miệng ăn ai chứa nổi, chỉ e phiền Đại nương thêm khó chịu cho lệnh ân nhân.
Mẫu Đại Trùng đẹp ý :
- Không sao! Không sao, tôi chỉ e quý vị không chịu theo lời...

Nói tới đây, mụ bỗng im bặt. Mụ đâm ra ngờ vực, không hiểu sao nên hay không nên? Bốn người này có thật là những tay giang hồ mãi võ không? Khó lượng đoán quá! Coi chừng kẻo bị Thác Tháp Thiên Vương quở trách.

Lam Y thừa biết viên nữ đầu lãnh Đại Sơn đang suy tính gì. Nàng kín đáo đưa mắt nhìn Âu Dương Nữ đoạn hỏi Mẫu Đại Trùng :
- Dù là người có bản lãnh, can trường một mình điều khiển lữ điếm giữa khu hoang độc này, đại nương không thấy thoái chí sao? Tôi phục lắm đó...

Bị xoi mói đúng chỗ, Mẫu Đại Trùng trả lời bâng quơ :
- Chà! Mới đầu cũng thấy ngại, sau ở mãi cũng quen.

Âu Dương Nữ hỏi :
- Nghe nói khu vực này có toán sơn khấu chiếm đóng, chúng không quấy nhiễu đại nương ư?
Mẫu Đại Trùng thản nhiên :
- Tiểu điếm này còn có gì đáng giá cho bất cứ ai để ý tới nữa? Tiền bạc thì không có nhiều, vật dụng trong quán sơ sài không đáng kể, cường khấu đâu thèm ngó tới.

- Dù sao, bọn sơn tặc ấy nay mai cũng bị chinh phạt. Khách thương sẽ qua lại con lộ này được dễ dàng và thôn dân lân cận sẽ khỏi sống trong cảnh lo sợ ngày đêm Thiết Xích Tử vờ mắng át Âu Dương Nữ :
- Chà, điệt nữ lắm lời quá! Đảng khấu làm việc bí mật quân sự, không thuộc bổn phận ta, bép xép làm chi.

Mẫu Đại Trùng giật mình nhưng trấn tĩnh được ngay. Mụ thắc mắc, vờ vĩnh :
- Nói chuyện với tôi thì có gì đáng ngại? Tôi cũng mong quan quân thành công, khách thương qua lại đông đảo, bổn điếm mới hòng phát tài chớ!... Tin đó có chắc chắn không hả tiên sinh. Đã là bí mật quân sự làm thế nào mà chư vị biết được?

Ngần ngừ giây lát, Thiết Xích Tử đáp :
- Tiểu nữ dã trót lỡ lời, tôi cũng chẳng dấu diếm làm chi. Nguyên chuyến vừa rồi ở Trường Sa, chúng tôi nhận thấy quan quân được điều động từ các nơi đến rất đông. Nhờ sự hành nghề mãi võ, chúng tôi len lỏi đây đó, làm quen được với mấy viên bộ tướng mới hiểu rằng đại quan trấn thủ Trường Sa không những huy động bản bộ quân, mà còn được sử dụng các bộ đội Hán Dương, Ngân Khánh, đến giúp tảo trừ tặc khấu Thập Vạn Đại Sơn. Đoàn quân hùng hậu ấy mà tới đây, thì dù sơn tặc đầy đủ biết mấy cũng chẳng chống cự nổi.

Giọng nói, nét mặt thực thà của Thiết Xích Tử khiến Mẫu Đại Trùng tin ngay.
Nữ đầu lãnh cố gợi chuyện :
- Trước khi khai trương bổn điếm, các hảo hán Đại Sơn đã lập sơn trại từ nhiều năm rồi, lẽ nào bây giờ quan quân mới nói tới chuyện chinh phạt. Chắc hẳn phải có chuyện gì?

Chu Đức Kiệt nói :
- Có lẽ bọn tặc đạo trêu chọc chi đó, nên đại quan trấn nhậm Trường Sa mới quyết định một việc lớn lao như công cuộc trừ đảng khấu sắp tới đây.

Lam Y cười :
- Đã đi ăn cướp cũng còn hay dở đói! Nay mai mới biết thân.
Mẫu Đại Trùng cố thản nhiên ngồi im. Mụ nghĩ tới Hầu Văn Lượng bắt giam hai nhân viên của Trường Sa phủ: Hoàng Trọng Hà và Tôn Vương. Trà nước xong, trời đã tối mịt.

Mọi người sửa soạn vào phòng nghỉ ngơi. Chu Đức Kiệt bảo tiểu nhị dẫn xem tàu ngựa. Tửu điếm khá rộng rãi, phòng ốc, bếp nước, sân vườn sau ngăn nắp. Một dòng nước nhỏ chảy từ khe núi phía sau điếm qua vườn. Cổng hậu đóng chặt. Trong tàu, ngoài bốn con ngựa của bốn người mới tới, còn có hai con khác nữa.

Bọn tiểu nhị lăng xăng dọn dẹp, sửa soạn qua đêm.
Đức Kiệt trở về phòng, đóng cửa lại.
Chàng đến bên Lam Y, và Âu Dương Nữ đang tì tay lên thành cửa sổ nhìn ra ngoài trời sương lam phủ mờ mờ.

Lam Y nói nhỏ :
- Tĩnh tai nghe động tĩnh, mụ chủ quán chẳng ngồi yên đêm nay đâu.
Nói đoạn, nàng khép cửa sổ, Âu Dương Nữ quay vào tắt đèn.
Thiết Xích Tử ngồi lù lù trong góc giường mắt nhắm nghiền như pho tượng. Trong điếm, mọi người cũng đã đi ngủ, hoàn toàn im lặng.

Đêm sơn cước thiệt âm thầm lặng lẽ. Độ chừng khoảng ngót canh hai, chợt có tiếng động bất thường từ đâu vọng nhẹ tới. Thiết Xích Tử mở choàng mắt trừng trừng nhìn Tam hiệp vừa đứng phắt dậy.

Chu Đức Kiệt ghé tai bảo nhỏ Lam Y, Âu Dương Nữ :
- Tiếng mở cổng sau. Theo xem!

Dứt lời, chàng quay ra nơi Thiết Xích Tử vẫn ngồi y nguyên :
- Tiên sinh ở lại, bọn tôi ra xem có chuyện gì.

Im lặng, Thiết Xích Tử vẫy tay ra hiệu bảo mọi người tùy tiện.
Lẹ làng như ba con vượn, Tam hiệp mở cửa sổ nhảy ra ngoài, phi thân lên nóc điếm nằm sát xuống mái quan sát, mỗi người nhìn ra một phía. Bỗng Đức Kiệt đập vai Lam Y, Âu Dương Nữ chỉ ra hướng chênh chếch phía sau tửu điếm. Hai người nhìn theo. Trong màn sương lam ngắt, một bóng đen đi rất lẹ vòng phía hữu ra mặt tiền. Tam hiệp nhận ra là Mẫu Đại Trùng. Mụ ngoái đầu nhìn toàn thể khu tửu điếm, rồi vùn vụt chạy thẳng tho mặt đường.

Chờ chủ quan khuất sau bóng cây, Lam Y nói nhỏ :
- Theo xem, chắc mụ ta lên sơn trại.

Tam hiệp nhảy xuống đất êm ru, len lén ra mặt lộ, lẩn sau các gốc cổ thụ um tùm cành lá như những con quỷ khổng lồ.
Mẫu Đại Trùng còn chạy phía trước ngay lộ. Tam hiệp theo dõi không một tiếng động. Võ phục sẫm màu, ba người hòa mình trong bóng tối giữa ngàn cây thoăn thoắt như ba con vượn.

Không nghi ngờ, Mẫu Đại Trùng chạy được một quãng chừng bốn, năm trăm sải liền rẽ sang phía hữu.
Sợ mất hút, Tam hiệp lẹ chân chạy tới nơi, núp sau đại thụ nhìn theo. Đó là con đường nhỏ dẫn tới một trái núi cực kỳ hiểm tuấn với những mô đá nhấp nhô, thành đá chênh vênh ẩn hiện trong bóng cây.

Mẫu Đại Trùng vẫn lù lù ở phía trước. Mụ đi lẹ không chạy nữa.

Được một quãng ngắn, bỗng có tiếng quát nhỏ, tuy nhỏ những cũng đủ vọng đến tai Tam hiệp giữa chốn sơn lâm yên lặng âm u :
- Ai đó?
- Ta đây, Tây Phương điếm.
- Mời đầu lãnh qua.
Mẫu Đại Trùng rẽ luôn vào sau các mô đá, khuất bóng.

Lam Y nhìn bao quát, chỉ tay lên các mô đá lớn :
- Chuyển vòng qua các mô đá mới theo được.

Tức thì, lẫn trong bóng tối, băng qua mặt tiểu lộ, Tam hiệp phi thân lên mỏm đá thứ nhất, chuyển theo hướng mà ba người phỏng đoán lối đi của viên nữ đầu lãnh Đại Sơn. Ước chừng đã qua hẳn nơi có lâu la canh phòng, Tam hiệp ngồi thụp trên mỏm đá lớn nhận định. Quả nhiên có lối nhỏ lên dốc.

Mẫu Đại Trùng vẫn lẹ bước phía trước. Kẻ trước, người sau, theo nhau, vòng vèo. Đường mòn dẫn tới một cổng đá lớn có vọng lâu. Bên trong ánh đèn le lói.

Lần này, Mẫu Đại Trùng lên tiếng trước.
- Hứa đầu lãnh thức hay ngủ. Tôi quá quan với việc gấp.

Một thứ tiếng ồ ồ đáp lại :
- Có việc gì không? Về sơn trại khuya thế này?
- Không tiện về sớm. Giờ này mới đi được.
- Món bở hả?
- Bở cái gì! Có tin qua trọng, cần gặp Hầu đại ca ngay định đoạt.

Sau mấy câu trao đổi, có tiếng cổng mở, đóng rồi cảnh vật lại âm u yên lặng như thường.
Lam Y châu đầu cùng hai bạn đồng hành bàn tính. Nàng nói :
- Chúng xây dựng thành ải nơi đây. Phải vượt thành mới vào được. Đêm khuya thế này chắc bọn sơn tặc chỉ canh phòng nơi cổng, chớ không phân tán ra hai bên thành đá đâu. Thử xem!

Tam hiệp lặng lẽ chuyền trên các mô đá cao vào tới thành đá xây liền với vách núi. Quả như Lam Y tiên đoán, không có quân canh trên mặt thành. Ba người phi thân lên mặt tường nằm xuống nhìn vào trong.

Mẫu Đại Trùng đã đi khuất. Tam hiệp quan sát hai bên vách đá thiên nhiên cao sừng sững. Khu trống ở giữa hai vách đá là bức tường thành dài rộng kiên cố, bên trong và bên ngoài ăn thông bởi cái cổng mà viên nữ đầu lãnh vừa qua. Phía trong cũng có nhiều mô đá lớn nhỏ.

Tam hiệp chuyền xuống mặt đất len lỏi lần vào phía trong. Ba người thấy tốp lâu la canh phòng trên vọng lâu trông thấy, nên không dám chuyền trên các mỏm đá. Đường thoai thoải dốc.

Lát sau, tới khúc tay tả, Tam hiệp bắt kịp Mẫu Đại Trùng đang đi phía trước mặt.
Đồng thời, có tiếng chân toán lâu la tuần phòng, sáu tên đao tuốt trần.

Gặp Mẫu Đại Trùng chúng ngập ngừng bước chào, rồi lại tiếp tục đi.
Chờ toán tuần phòng đi khỏi, Tam hiệp bắt đầu tiến thì vừa lúc viên nữ đầu lãnh rẽ sang phía tay hữu.

Âu Dương Nữ nói nhỏ :
- Địa thế này chắc còn ải môn nữa mới vào tới sơn trại.
Lam Y đáp :
- Phải đấy. Đường bắt đầu dốc nhiều.

Kẻ trước, người sau, vòng vèo lên dốc, quanh co mãi mới tới đệ nhị ải môn.
Chuyến này, kinh nghiệm hơn, Tam hiệp lẩn mình trong bóng tối, chuyền trên các mô đá đến tận chân tường thành, nơi xa cổng trại, đứng áp lưng vào tường nghe ngóng, không thấy gì lạ mới phi thân lên mặt thành. Lúc đó, Mẫu Đại Trùng đã vào cửa quan.

Phía trong là sơn trại, nếp dọc, nếp ngang, sân đá thiệt rộng lớn.
Vào trước, Tam hiệp nằm áp trên mái nhà ngang, nhìn Mẫu Đại Trùng băng qua sân. Một tên lâu la cầm đèn lồng đi trước.

Mụ lên thẳng khu đại sảnh, đi vòng ngoài hành lang vào phía sau tới căn nhà lớn ở trung tâm sơn trại.
Tam hiệp chạy xuôi theo mái nhà ngang, ước lượng từ đó sang mái đại sảnh không vừa tầm chân bèn nhảy xuống sân, chạy vụt vào góc đại sảnh, phi thân lên nóc êm ru, lần vào phía trong thì vừa lúc Mẫu Đại Trùng đứng giữa cửa căn phòng đầu cùng một người nữa cao lớn.

Mụ bảo tên lâu la cầm đèn :
- Cho phép người lùi bước, không phải chờ nữa.
Tên lâu la đi trở ra.
Tam hiệp toan chuyển sang nóc căn nhà trung ương thì toán tuần phòng từ đầu căn nhà bên hữu đi tới. Chúng im lặng đi qua phía dưới, tiếng giày lệt xệt.

Chờ bọn tuần canh đi khỏi, Chu Đức Kiệt thì thào :
- Chắc đầu bên căn nhà kia, nơi có ánh đèn là phòng đại đầu lãnh. Qua đó, rút ngói nghe đi.
Đồng ý, ba người phi thân sang mái ấy, Lam Y nằm áp xuống nhẹ tay rút ngói.

Chu Đức Kiệt, Âu Dương Nữ chăm chú nhìn, lát sau thấy ánh sáng lờ mờ xiên qua mái bởi một kẽ ngói, thì biết là Lam Y đã hành động xong. Lam Y ghé tai nghe, trong khi Đức Kiệt và Âu Dương Nữ cũng nằm rạp xuống mái nhìn quanh.

Trong căn phòng phía dưới, ngọn đèn dầu pha lê đặt trên kỷ bên tường soi sáng khắp mọi nơi. Sự bày biện đơn giản nhưng sang trọng và thiệt gọn mặt. Mẫu Đại Trùng và người hồi nãy ngồi bên án thư nói chuyện. Không ngờ là bị theo dõi, hai sơn tặc bình tâm nói lớn như thường thành thử Lam Y nghe rõ mồn một câu chuyện dở dang...

Viên nữ đầu lãnh đang kể rõ việc bốn người tới trọ tại Tây Phương điếm và mọi sự cho người nọ nghe. Mụ kể rất rành mạch không thiếu sót chút gì, thỉnh thoảng lại dùng danh từ “Hầu đại ca” nên Lam Y biết đại hán ấy là Hầu Văn Lượng.

Nghe tới đoạn mụ định dùng thuốc mê bắt bốn người giải về sơn trại, Lam Y cười thầm:
“Bọn bây lừa nổi chúng ta còn khó lắm!”.

Kể chuyện xong, Mẫu Đại Trùng hỏi :
- Bây giờ đại ca tính sao? Khó bắt lắm. Công việc cấp bách chỉ có đêm nay, qua ngày mai muốn làm gì càng khó khăn thêm.

Hầu Văn Lượng nhíu cặp lông mi chổi xệ :
- Sao đầu lãnh không thử dùng “muội hương”.
- Cho thuốc mê vào rượu, chúng còn chẳng mắc mưu nữa là dùng muội hương, thế nào chúng cũng phòng bị. Chúng mà biết thì không thể nào tránh được xô xát, không ích lợi gì cho ta cả.
- Tôi nghi ngờ chúng là gian tế có ý dò xét cho thủ phủ Trường Sa.
- Không dám nói chắc. Vì ta nghi ngờ nên trông họ giống đủ mọi thứ người: Do thám cho Trường Sa, mãi võ hiệp khách... Bởi vậy, đã có lúc, tôi muốn dụ họ lên sơn trại, song lại e tự vạch áo cho người xem lưng.

Hầu Văn Lượng xua tay :
- Đầu lãnh đừng tự ý mời chúng lên đây. Nếu chúng thực tình nghe danh sơn trại, thì tự khắc đến đầu bôn mới đúng lý. Hay là...
- Hay là sao?
- Ta phái quân tướng xuống giúp đầu lãnh áp tới bắt trong khi chúng đang ngủ say?
Mẫu Đại Trùng lắc đầu :
- Tôi không chủ trương dùng võ lực. Chắc chắn họ sẽ chiến đấu tới cùng. Phần thắng chưa chắc đã nghiêng về ai. Tức là bất lợi cho ta rồi. Đại ca chớ khinh thường, họ không như hai tên gian tế bắt được trước đây đâu. Theo ngu ý, họ không là do thám tử của Trường Sa, vì lẽ đã vô tình nói cho ta biết sự huy động của bộ đội Trường Sa. Đó mới là việc đáng lo. Tôi vội về sơn trại báo riêng cho đại ca biết cũng vì lý do ấy. Đại ca cần phải định đoạt việc giam giữ hai tên thám tử của phủ thành. Theo ý bốn người nọ, Trường Sa huy động quân đội muốn đánh sơn trại cũng vì một lẽ riêng. Lẽ riêng ấy há chẳng phải là việc ta giam cầm hai người nọ sao?

Hầu Văn Lượng cau mặt :
- Bắt được gian tế không cầm tù thì còn làm thế nào hơn? Tôi không hạ lệnh chém là may rồi.
Mẫu Đại Trùng suy nghĩ giây lát :
- Tôi khuyên đại ca đối đãi với hai tên gian tế cho tử tế. Cho ăn, cho mặc và liệu bề phóng thích ngay. Trì trễ ngày nào có hại cho ta ngày đó. Nếu sau này lỡ xảy ra chuyện gì, đại ca đừng có trách tôi không bày tỏ ý kiến. Hiện thời, tôi đã nói hết lời.

Dứt lời, Mẫu Đại Trùng đứng lên muốn ra về tửu điếm.

Hầu Văn Lượng đưa tay ra hiệu :
- Hãy khoan! Tôi còn muốn hỏi điều này.
- Đại ca cứ dạy.
- Đầu lãnh có ngờ trong bọn bốn người ấy có anh em Lam Y nữ hiệp không?
Người tráng sĩ, hai thiếu nữ, có lẽ họ là ba người mà Tần mẫu Ngô Công đã gặp ở Kim Lăng?

Nói tới đây, Hầu Văn Lượng tươi tỉnh vì đã tìm được giải pháp. Y nói tiếp :
- Hay là sáng mai, tôi phái Tần lão mẫu và Đới Ngọc Hoàn đến Tây Phương điếm nhận mặt xem sao?

Mẫu Đại Trùng đáp :
- Đới Ngọc Hoàn ở bên Đông Phương điếm, sáng mai kéo được y về e trễ mất, chi bằng phái Tần thị xuống là đủ rồi. Nhưng đại ca cần phải căn dặn lão mẫu một điều.
- Điều gì?
- Đại ca thừa biết Tần lão mẫu và Đới Ngọc Hoàn có mối đại thù cùng Lam Y chứ gì?

Hầu Văn Lượng gật đầu :
- Phải. Một người thù giết con, một người thù giết phụ mẫu, ngay như tôi cùng thù ba người ấy, nhất là anh em Chu gia, vì cái chết Hầu Văn Báo.
- Thù trúng chỗ hay không, tôi không dám bình luận, như hiện tại, ta phải đặt tình trạng Đại Sơn lên trên hết mọi việc. Một khi nói tới quyền lợi chung của sơn trại, thì các mối tư thù đều phải được gác bỏ sang bên. Lam Y hạ sát con của Tần thị và song thân Ngọc Hoàn là do phải tự vệ trong vụ hắc điếm. Còn Bạt Sơn Hổ thân làm võ tướng, giữ chân đệ ngũ hổ, trong việc chiến trận sanh tử là thường, đại ca không nên quy cả mọi hiềm thù vào bọn Lam Y, vì nếu là anh em Lam Y không dự trận thì bộ đội của Triều đình cũng không bỏ vụ đánh Kim Lăng. Lấy việc tư làm công tôi e hỏng cả đại sự.

Hầu Văn Lượng cau mặt khó chịu :
- Nghĩa là đầu lãnh muốn tôi và mọi người đừng đả động gì tới bốn người nếu trong ấy có Lam Y?
- Đúng thế. Suy nhận ra thì hiểu. Một khi chúng đã dám tới đây. Một sơn trại hữu danh, mà chỉ đi vỏn vẹn có bốn người, tất chúng phải tin tưởng một vào bản lãnh của chúng bất chấp cả toàn thể Đại Sơn. Hai là chúng có hậu thuẫn ghê gớm, dù ta không muốn nhượng bộ, cũng sẽ phải nhượng bộ. Bởi hai lẽ này, tôi thấy cần đặt quyền lợi của sơn trại Đại Sơn lên trên hết. Nhưng lúc này, Kim Lăng đã đổ, ta cô thế, không nên hành động khiến quan quân phải chú ý tới chúng ta.

Đại ca từng nghe thuật vụ đánh Kim Lăng vương phủ chớ gì. Trong khi các anh hùng hào kiệt hành động ngay tại trung tâm Kim Lăng thì bộ đội triều đình đã bao vây khắp mọi nơi... Biết đâu kế hoạch đó không được áp dụng lần thứ hai với khu vực Đại Sơn này.

Nghe Mẫu Đại Trùng thuyết một hồi, Hầu Văn Lượng nhận là mụ nói có lý, và đặt quyền lợi Đại Sơn lên trên hết. Họ Hầu bảo Mẫu Đại Trùng hãy nán lại giây lát để y kịp suy nghĩ.
Trong khi Hầu Văn Lượng chắp tay ra sau lưng, đi đi lại lại trong phòng, Mẫu Đại Trùng lấy cây điếu đặt trên án nhồi thuốc bào rít một hơi.

Lát sau, Hầu Văn Lượng đứng sững lại trước mặt, Mẫu Đại Trùng mà rằng :
- Được lắm. Sáng mai, tôi sẽ nhờ Tần lão mẫu xuống tửu điếm nhận diện xem có Lam Y trong bọn bốn người khách trọ không, và cam đoan không cho Tần thị gây chuyện. Còn việc thả hai tên thám tử của Trường Sa, tôi sẽ cứu xét ngay. Đầu lãnh trở về kẻo trễ.

Trên nóc nhà, Lam Y không cần nghe thêm nữa và cũng không cần áp viên ngói lại như cũ, ra hiệu cho Chu Đức Kiệt, Âu Dương Nữ theo nàng.

Ba người theo lối cũ trở ra đại sảnh.

Lam Y móc túi dạ hành lấy ngọn Liễu Diệp phi đao cắm chặt vào cánh cửa đại sảnh rồi cùng Đức Kiệt, Âu Dương Nữ theo đường cũ trở về tửu điếm đẩy cửa sổ nhảy vào phòng.

Thiết Xích Tử đang ngả lưng trên giường ngồi nhỏm dậy nói :
- Tam hiệp về trễ thế.
Lam Y nhắc lại câu chuyện nghe lỏm được giữa Hầu Văn Lượng và mụ chủ quán kể cho mọi người nghe.

Âu Dương Nữ hỏi :
- Sáng mai, Tần thị khỏi xuống tửu điếm nhận diện vì chiếc phi đao gài ở đại sảnh, cô muội hành động thế nào?
Lam Y đáp :
- Chúng ta sẽ hành động thế này... thế này... được không?

Ba người đồng ý khen phải.
Sáng hôm sau, Tam hiệp, Thiết Xích Tử dậy sớm ra thực phòng điểm tâm.

Mẫu Đại Trùng cũng đã ngồi ngoài quầy hàng. Mụ hỏi :
- Quý vị có được ngon giấc không?

Thiết Xích Tử cười ha hả :
- Tôi uống rượu say, ngủ giá trời kia có sụp đổ cũng không biết.
Âu Dương Nữ nói :
- Ba anh em tôi trái lại, trằn trọc không ngủ được. Đã vậy lại còn tiếng chân thú rừng đi quanh tửu điếm rình mồi nên càng mất giấc.

Viên đầu lãnh nghi ngờ :
- Thú rừng nào? Từ ngày khai trương tửu điếm này chưa bao giờ có chuyện đó.
- Chắc đại nương ngủ say không để ý đó thôi. Đêm qua, thú rừng về hai lần. Chuyến đầu vào quãng giữa canh hai, chuyến thứ nhì không quá canh ba. Nghe tiếng chân nhỏ lắm. Nó đi quanh tửu điếm một vòng rồi mới dông thẳng.

Mẫu Đại Trùng càng nghi ngờ dữ, chăm chú nhận xét. Mụ nghĩ thầm:
“Giờ đó mình vào sơn trại và từ sơn trại trở về điếm, không ngờ mấy đứa này thính tai đến thế sao”.
Lam Y mỉm cười :
- Đại nương nghĩ thầm gì mà thần người ra thế?

Mẫu Đại Trùng giật mình, nói chống :
- Tôi nghĩ đến chuyện thú lớn ra tới đây, có lẽ phải tìm cách bẫy thú mới khỏi nguy hiểm.
- Không bẫy thì có ngày nguy thiệt đó.

Mẫu Đại Trùng nóng ruột không hiểu vì lẽ gì mà sáng bạch rồi Hầu Văn Lượng chưa cho Tần thị tới nhận diện.

Nhác nhìn, Tam hiệp thừa hiểu mụ đang suy tính sự gì.
Chu Đức Kiệt gọi tiểu nhị sai thắng ngựa và chàng cũng theo ngay chúng ra tầu ngựa.

Mẫu Đại Trùng hỏi Lam Y :
- Quý khách lên đường ngay bây giờ?
- Phải.
- Về Cẩn Châu chăng?
- Không. Đuổi theo nốt ngày hôm qua xem có bắt kịp bọn lấy tiền bạc của chúng tôi không.
- Làm chi mất công vậy? Chúng không qua đường này. Vả lại phía trước kia lâu la Đại sơn chặn đường.

Lam Y cười khanh khách vỗ vào bọc hành lý nhỏ đeo trên lưng :
- Lo gì! Tiền bạc không còn mấy tí, tôi muốn cho cả chúng cho rồi. Không lẽ bắt chúng bắt chị em tôi lên sơn trại cho đại vương phong làm áp trại phu nhân sao?

Mẫu Đại Trùng càng nóng ruột, không hiểu vì lẽ gì Tần thị chưa xuống tới nơi. Mụ tự nhủ:
“Chà! Mặc kệ! Hơi đâu mà bận tâm! Báo cho biết trước, Hầu đại ca trì trễ không trách cứ nổi ta”.
Chu Đức Kiệt trở ra trước cửa điếm dắt bốn con tuấn mã.

Lam Y trả tiền hàng, Mẫu Đại Trùng cố neo :
- Nếu không đuổi kịp bọn kia, quý vị nên trở về đây, tôi sẽ giới thiệu người quen, bổ ích lắm, đỡ phải phiêu bạt mãi võ.
Lam Y lên ngựa ngoái cổ lại nói :
- Được lắm! Chuyến đó sẽ liệu sau.

Nói đoạn, nàng thúc ngựa bạch mã theo kịp ba người, Âu Dương Nữ nói :
- Mụ đầu lãnh mải nhận diện chúng ta nên không chú ý tới đến mấy chữ Lam Y trên đầu dải đai lưng.
Mẫu Đại Trùng đứng ở cửa điếm trông theo bốn người đi khuất khỏi dãy cây mới trở về biên giấy, sai lâu la tiểu nhị cầm về đại trại.

Nói về Hầu Văn Lượng sáng hôm sau dậy sớm như thường lệ, đai nịt gọn gàng lên đại sảnh tụ họp cùng các đầu lãnh trước khi người nào việc nấy.
Bỗng tên lâu la chuyên việc mở cửa đại sảnh dọn dẹp, hớt hơ hớt hải chạy tới gõ cửa tư phòng.

- Bẩm Đại vương ra mau, có sự lạ!...
Họ Hầu vội mở cửa phòng, hỏi :
- Việc chi mà rộn lên thế?
Tên lâu la run rẩy, mặt tái mét :
- Bẩm Đại vương, lạ lắm... lạ lắm...!

Hầu Văn Lượng vội giận ngắt lời :
- Có nói ngay không? Ta cắt lưỡi bây giờ...
- Thưa có... có một ngọn... một ngọn phi đao... gài... gài trên cửa đại sảnh...
- Bậy nào!
- Bẩm... bẩm... có thiệt... con không, không...
Bỏ tên lâu la ríu lưỡi đứng đó, Hầu Văn Lượng lẹ bước ra khỏi phòng lên thẳng đại sảnh.

Quả nhiên, có lưỡi phi đao sáng ngời cắm trên cánh cửa thiệt. Giải đao màu lam phất phơ trước gió sớm.
Rút phi đao xuống đấy, Hầu Văn Lượng đọc vội hai Chử Lam Y viết bằng sơn trắng nổi bật trên giải lụa lam sẫm.
Đờ người, Hầu Văn Lượng thốt ra một câu :
- Lam Y!...

Nhìn quanh thấy mấy tên lâu la đứng quanh đó đang há hốc miệng ra sợ hãi nhìn mình. Họ Hầu gắt :
- Bây còn nhìn gì nữa? Muốn sống thì gõ kiểng thỉnh các đầu đà lên sảnh ngay!
Dứt lời, Hầu Văn Lượng đẩy cửa sảnh ngồi phịch xuống ghế giữa, lật đi lật lại ngọn phi đao sáng loáng, nét mặt đăm đăm, đoạn liệng ngọn đao keng một tiếng lên mặt án, ngây người nhìn thẳng ra sân.

Tuy chưa đến giờ tụ họp, nghe tiếng kiểng “cấp thỉnh”, Lưu Đức Quan, Tần thị, Đặng Kim Thanh cùng bọn đại đầu mục vội vàng chạy lên đại sảnh.

Hầu Văn Lượng bực mình gắt :
- Giờ này Hứa Khải Liêm và Chử Thiện còn chưa về ư?
Hai đầu lãnh này có phận sự trấn ngoài ải đệ nhất và đệ nhị vừa về tới sơn trại, thấy lâu la nói “cấp thỉnh”, liền vội vàng kéo nhau lên sảnh.

Năm người cùng ngơ ngác nhìn lần lượt ngọn phi đao và đại đầu lãnh. Ai nấy đều im lặng không dám phá tan bầu không khí nặng nề đang bao trùm toàn thể.
Nhìn từng người một, Hầu Văn Lượng đưa tay mời mọi người an tọa. Y dằn giọng chỉ ngọn liễu điệp phi đao trên án :
- Quý vị đầu lãnh hãy coi xem lưỡi phi đao này của ai?

Lưu Đức Quan với tay lấy ngọn liễu điệp phi đao rồi chuyền cho Đặng Kim Thanh ngồi kế bên, và sau cùng đến Tần thị ngồi bên tả Hầu Văn Lượng.
Sắc mặt tái sẵn, Tần thị càng tái thêm. Mụ đặt lưỡi dao xuống chỗ cũ, nhăn nhó, khó chịu.

Hầu Văn Lượng chậm rãi :
- Thế là Lam Y đã tới! Chúng ta đang lo củng cố phòng nó thì nó đã không... phụ lòng trông đợi mà... đáp lễ ngay!
Nhìn quanh một vòng, Hầu Văn Lượng nhận xét như muốn biết rõ ảnh hưởng của câu y vừa nói ngấm nhuần trên nét mặt từng người. Các đầu lãnh cúi đầu đăm đăm nhìn ngọn liễu điệp phi đao nằm trên án. Bầu không khí trong đại sảnh đã nặng nề mỗi lúc một khó thở thêm.

Tiếng của Hầu Văn Lượng cất lên mạnh như tiếng đồng la đập thẳng vào tai cử tọa :
- Canh phòng cẩn mật như lúc này, Lam Y vào cũng như ra êm ả, không một ai hay biết, đường núi độc đạo, quá đợt quân canh vượt hai cửa ải... Hừ! Vừa khinh miệt, vừa hào nhã thật!... Đối với Lam Y, mạng hèn mọn của toàn thể chúng ta không đáng để nàng hạ kiếm! Nàng không thèm chấp chớ không phải nàng không muốn giết! Quý vị đã nghe rõ và hiểu nhiều ý nghĩa vụ gài đao nơi đại sảnh chưa?.

Các đầu lãnh tím mặt im lìm.
- Không còn lối nào khác dẫn tới sơn trại ngoài sự phải qua con độc đạo có canh phòng. Vậy đêm qua, nhị vị đầu lãnh Hứa Khải Liêm và Chử Thiện phụ trách việc trấn ải môn canh phòng như thế nào, giải thích tôi nghe?

Hai đầu lãnh bị gọi đích danh đưa mắt nhìn nhau.

Chử Thiện nói :
- Đêm qua tôi thức suốt chớ không hề chợp mắt. Lúc nữ đầu lãnh Mẫu Đại Trùng về sơn trại gọi cổng, tôi biết và trả lời ngay.
Được trớn của Chử Thiện, Hứa Khải Liêm cũng nói như vậy.

Hầu Văn Lượng xua tay mà rằng :
- Tôi không nói tới việc nhị vị thức hay ngủ. Nhưng muốn nói việc phân phối quân canh phòng. Hẳn là đã khinh thường, nghĩ rằng đêm tối giữa chốn rừng núi hoang vu này, còn ai lẻn vào sơn trại nữa, nên nhị vị đã buông lơi hai dãy vách đá ở hai bên ải môn. Lam Y đã do đúng chỗ nhị vị sơ hở đột nhập sơn trại. Có thế không?

Hứa Khải Liêm, Chử Thiện im lìm.
Hầu Văn Lượng nói tiếp :
- Tôi yêu cầu tất cả các vị đầu lãnh từ nay hết sức thận trong trong việc canh phòng đêm cũng như ngày. Trong vụ xảy ra đêm qua thì hiểu, bảo vệ sự an ninh đây có tánh cách chung cho toàn thể sơn trại là nơi căn cứ của anh em chúng ta. Vậy bất cứ người nào cũng phải cố gắng như đã nhiều lần tôi bày tỏ.

Trong tình thế hiện tại, uy thế nhờ Kim Lăng và thủ trấn Trường Sa đã đổ, ta chỉ còn trông cậy vào lực phòng vệ. Tôi nhắc lại bổn phận phải làm của tất cả chúng ta, có thế thôi. Cũng như tôi, hẳn quý vị đã nghe đại danh Lam Y. Nay nàng đã “quá bộ” tới đây, chắc còn trở lại nữa. Tôi muốn bàn việc đối phó. Đêm qua, Lam Y cùng ba người nữa trọ tại Tây Phương điếm. Mẫu Đại Trùng nghi ngờ không biết thực hư nên trở lại sơn trại báo tôi hay mấy việc quan trọng. Tôi định nhờ Tần lão mẫu sáng nay xuống tửu điếm nhận diện, nhưng khỏi cần vì ngọn liễu điệp phi đao này cũng đủ báo danh rồi.

Tần thị nói :
- Nếu Lam Y qua trọ tửu điếm, Mẫu Đại Trùng không dùng thuốc mê hay muội hương mà bắt có dễ dàng không?

Hầu Văn Lượng cười khẩy :
- Mẫu Đại Trùng không dại gì mà không biết cách sử dụng lối món ấy. Lão mẫu còn nhớ việc bên Sơn Phu chớ? Dùng lối lặt vặt ấy lừa không nổi bọn Lam Y. Chúng khôn khéo đã thừa dịp Mẫu Đại Trùng về sơn trại, theo dõi và đột nhập gài liễu điệp phi đao báo danh.

Đặng Kim Thanh nói :
- Đại ca cho chúng tôi kéo xuống tửu điếm bắt nàng.
Hầu Văn Lượng lắc đầu :
- Nếu việc chỉ dễ dàng như thế, tôi đâu phải lo lắng khi nhắc đến bọn Lam Y.
- Nàng đến địa phận Thập Vạn Đại Sơn vào hẳn sơn trại, tức là có chuyện liên can tới chúng ta rồi. Nếu càng e ngại chúng ta đông hơn thì đã không lộ hình tích. Tôi hiểu có xuống tửu điếm chắc không bắt nổi, nên tôi bỏ ý nghĩ viển vông đó đi.

Tần thị bực mình :
- Lam Y bản lãnh tuyệt vời, tôi không dám phản đối, song chẳng nên tâng bốc nó như thần thánh đến nước bó tay ngồi im chịu đòn. Từng này người chúng ta không đánh nổi nó hay sao? Trại chủ mặc tôi cùng anh em xuống tửu quán tróc nó về đây báo thù.

Hầu Văn Lượng nghiêm nét mặt :
- Thiết tưởng người hiểu biết Lam Y nhiều nhất là lão mẫu mới phải. Vương phủ Kim Lăng có dư lực lượng không? Sao không bắt nổi nàng? Trái lại, kẻ bị chết, người bị bắt ráo trọi, đừng nói chi số người không đáng kể của chúng ta. Nếu lão mẫu nói tới thù ư? Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Báo tử trận trong Vương phủ, tôi đã quên nó đâu? Nhưng liệu xem chúng ta có đủ tư cách báo thù hay không? Hay là dở thói ra thì toàn thể sơn trại sẽ tan nát ngay? Bởi vậy tôi đang tính nói với lão mẫu bỏ mối thù riêng sang bên và chỉ tôn trọng quyền lợi chung của toàn thể sơn trại.

Tần thị trố mắt yên lặng. Mụ thừa hiểu, nhưng vì thù ghét Lam Y quá đáng nên mụ muốn liều mạng thử xem sao.
Điềm đạm từ nãy chỉ ngồi nghe, nhận xét, Lưu Đức Quan lên tiếng :
- Theo ý Hầu đại ca, Lam Y tới đây có mục đích gì?

Nhìn họ Lưu, Hầu Văn Lượng nói :
- Lam Y đến thẳng Đại Sơn, vào tửu điếm thuộc thành phần Đại Sơn tức là nàng chủ tâm rồi. Không thể lấy mánh khóe giang hồ lục lâm lừa nổi nàng. Nàng không e sợ mới vào hang hổ. Từ tửu điếm, nàng lên sơn trại, không đốt phá, không nhờ dịp bất ngờ gây chiến, lợi thế cho nàng biết bao? Chỉ gài lai mũi đao báo danh thay vì danh thiếp đoạn hiền lành ra đi, tức là con người ấy không có ý xâm phạm căn cứ của chúng ta, cũng như y không muốn cùng ta đấu chiến nên ta không dở dói dùng võ lực chống đối nàng. Lam Y đến Đại Sơn không có ý gây hấn, tất phải có mục đích hòa bình chi đó, lẽ nào nàng rảnh thì giờ tới đây biểu diễn nghệ thuật trêu chọc chúng ta hay sao?

Lưu Đức Quan hỏi :
- Đại ca giải thích tánh cách hành động của Lam Y, nhưng chưa nói tới mục đích của cuộc viếng thăm Đại Sơn của nàng.

Hầu Văn Lượng cười mà rằng :
- Hiền đệ đòi hỏi nhiều quá. Tôi biết sao được con người ấy muốn gì? Nhưng hiểu rằng nàng có chuyện chi đó mới đến thăm sơn trại.
- Tôi rất tiếc không gặp bọn Lam Y xem có phải dòng họ tiêu sư Chu Đức Văn ở Sơn Đông không. Nếu là dòng họ thiệt chẳng nên đánh.
- Hừ! Đừng có tiếc, bọn ấy chưa đi khỏi đây đâu.

Đặng Kim Thanh hỏi họ Hầu :
- Trong trường hợp Lam Y bạo gan tới sơn trại, đại ca định xử trí thế nào?
Hầu Văn Lượng thản nhiên :
- Khách đến thì phải tiếp cho đàng hoàng tử tế chớ sao?
- Tại sao ta không sửa soạn phục binh đao phủ và cung thủ hạ đồng loạt, đỡ phải chiến đấu có hơn không?

Hầu Văn Lượng thở dài :
- Tôi đã nói là không được. Những người ấy rút đao kiếm còn lẹ hơn tên bắn. Phải tiếp ở đại sảnh, phục binh xa quá, đánh không kịp. Thà đừng dở thói đó cho xong. Họ dám vào thẳng đây, biết đâu không có vòng quan binh đã thắt chặt bên ngoài sơn trại rồi.

Đặng Kim Thanh không nói gì, nhưng vẻ bất mãn hiện rõ trên mặt y.
Tần thị cũng đăm đăm, khô khan, sắc diện tím bầm, nhìn thẳng xuống sàn gạch.

Hầu Văn Lượng gọi hai đầu mục bảo :
- Hai người cấp tốc xuống ngay tửu điếm triệu nhị đầu lãnh Đới Ngọc Hoàn và Mẫu Đại Trùng lên ngay, hữu sự.
Dứt lời, Hầu Văn Lượng nói với các đầu lãnh hiện diện :
- Quý vị nên tề chỉnh, truyền lệnh lâu la sẵn sàng chờ tôi sai bảo.

Khi đó, trời đã sáng hẳn. Khí núi lẫn sương đêm còn bao phủ khắp Đại Sơn.
Hầu Văn Lượng rũ áo đứng dậy về phòng điểm tâm.

Các đầu lãnh, người nào việc ấy, mỗi người một ngả. Duy có Hứa Khải Liêm, Chử Thiện vừa qua đêm canh phòng nên được nghỉ ngơi.

Đáng lẽ hôm đó tới phiên Lưu Đức Quan và Đặng Kim Thanh canh phòng hai ải môn, nhưng theo lệnh Hầu đại vương, Lưu, Đặng cùng ở lại sơn trại.

Sang cuối giờ Mão, Đới Ngọc Hoàn về sơn trại trước.

Hầu Văn Lượng bảo riêng nàng :
- Tôi vội triệu cô nương về sơn trại là vì bọn Lam Y lẩn quất trong khu vực này, e thù địch gặp nhau, cô nương nóng nảy gây chuyện lớn có thể bị thiệt mình. Vụ Lam Y này do tôi định đoạt, yêu cầu toàn thể các đầu lãnh không tự ý hành động. Cô nương hiểu chưa?
Đới Ngọc Hoàn không hiểu thái độ của đại đầu lãnh ra sao, nên cứ vâng lời rồi trở ra tìm Tần thị hỏi chuyện.

Từ hai năm nay, hai người luôn gần nhau. Tần thị tứ cố vô thân, coi Đới Ngọc Hoàn như cháu ruột. Đới Ngọc Hoàn cũng vậy, lang thang côi cút sau trận đánh bên Sơn Phu hắc điếm, nàng lấy làm may lại được gặp Tần thị săn sóc trông nom nàng không khác chi bà nội thương cháu ruột. Họ đồng cảnh, đồng thuyền nên dễ mến nhau là thế.

Nghe Đới Ngọc Hoàn hỏi về tình hình sơn trại và Lam Y tới khu vực Đại Sơn từ bao giờ, Tần thị lúc đó đang ngồi trên phiến đá nhìn xuống sườn núi, mụ bực mình đáp :
- Chà! Điệt nữ hỏi làm chi thêm bực tức? Hầu Văn Lượng nghe chuyện Lam Y nhiều quá nên đâm ra nhát gan không dám đương đầu cùng bọn chúng nữa. Y coi Lưu Đức Quan như quân sư. Họ Lưu nói gì cũng nghe mà câu chuyện của Đức Quan không có gì lạ hơn là tài đơn đao pháp của Chu gia. Ta phát ngán, điệt nữ ạ! Nhiều lúc muốn bỏ đi ngay.

Mụ thuật việc Lam Y lén nhập sơn trại gài phi đao báo danh cho Đới Ngọc Hoàn nghe.
- Ồ...! Thế bọn chúng cũng táo gan lắm đấy chứ? Chẳng trách Hầu đại vương giật mình lo sợ. Thiên hạ mênh mông mà thiệt chẳng đủ rộng. Ta đi đâu cũng luôn gặp Lam Y. Lánh về nơi sơn cốc hiểm trở này chưa được bao lâu, con yêu nghiệt đó lại xuất hiện. Nhắc tới nó muốn lắm lúc điên đầu.

Tần thị nói :
- Dễ giải quyết lắm, có chi khó đâu? Tỉ dụ, bọn chúng gan liều vào sơn trại lần nữa, Hầu Văn Lượng cho mai phục quân cung thủ sau các mỏm đá lớn đầy dẫy bên đường vào, chừng nào thấy người lạ là cứ việc bắn. Bọn Lam Y dù có cánh, bay cũng chẳng kịp.

- Lão mẫu đã đưa ý kiến ấy ra chưa?
Tần thị lắc đầu thở dài :
- Chưa kịp nói, y đã chặn họng luôn bằng câu “không được thù cá nhân”, ta bực mình mặc kệ. Vả lại có nói, y cũng chẳng nghe đâu.

Đới Ngọc Hoàn suy tính giây lát nói :
- Hay là ta cứ việc tự ý lẻn nấp sau các hốc đá, chừng nào chúng vào thì hạ sát.
- Không được! Biết chúng tới lúc nào? Ngày hay đêm? Hầu Văn Lượng thấy ta vắng mặt sẽ phái người đi lùng, trách cứ thì còn ra thể thống chi nữa. Phục kích kiểu ấy phải nhiều tay cung thủ mới hiệu nghiệm.

Tên bay tứ phía bất ngờ, chúng mới không kịp đề phòng. Riêng hai tay cung chúng mình thì vừa nghe dây cung bật, chúng có thể nhào lánh ngay. Thôi, mặc kệ muốn ra sao thì ra. Xong chuyện này chúng ta sẽ đi nơi khác lập tửu điếm sinh sống riêng, tự do tự tại hơn. Sống trong cảnh này là nương nhờ người ta chớ không có tánh cách tự nghĩa nữa. Hầu Văn Lượng nhát gan, có ngày chết cả trong núi đó.

Trong khi Tần thị và Đới Ngọc Hoàn tâm sự với nhau thì Hầu Văn Lượng và Lưu Đức Quan cũng không bỏ trống thì giờ.
Họ Hầu sai lâu la mời Lưu Đức Quan đến tư phòng thăm hỏi ý kiến.
- Hiền đệ có dự đoán gì về sự hiện diện của bọn Lam Y trong khu vực Đại Sơn không?

Lưu Đức Quan đáp :
- Có chứ. Suy rộng ra chút ít thì sẽ hiểu. Từ trước tới nay chưa bao giờ trại này đụng độ với bọn Lam Y, tức là không phải vì thù hiềm hay muốn lập công, mà chúng tới đây. Trong thiên hạ, nhan nhản sơn trại nào chúng đi kiếm từng nơi một để gây chuyện với mọi người sao?
Hầu Văn Lượng hỏi :
- Theo ý hiền đệ, Lam Y đến Đại Sơn vì lẽ gì?

Lưu Đức Quan không do dự :
- Chắc không ngoài vụ hai tên thám tử Trường Sa.
- Thả chúng thì có khác chi thả hổ về rừng?
- Không thả không xong chớ! Khi đó mới là thực sự ra mặt chống chọi không những với Lam Y mà còn cả với quan quân nữa. Bởi vậy, ngay từ khi mới đến, tiểu đệ đã nói với đại ca nên liệu đối xử với hai tên đó thiệt tử tế cũng không ngoài mục đích phòng ngừa tình hình hiện tại. Thế nào nội nhật, bọn Lam Y cũng tới. Đại ca nên tiếp cho thiệt oai nghiêm đàng hoàng và cần nhất đừng gây hấn. Được như vậy mới là thượng sách.

Hầu Văn Lượng thân mật vỗ vai Lưu Đức Quan mà rằng :
- Hiền đệ và Tiết Cẩn Hoa quả là hai người cộng sự đáng quý. Cơ sự sẽ rối nát nếu ngu huynh không có lời bàn trúng lý lẽ của nhị vị.

Hai người còn đang bàn định thì quân vào báo :
- Bẩm đại vương, có bốn người xin lên sơn trại yết kiến. Hiện còn chờ cả dưới chân núi. Hai đàn ông và hai thiếu nữ, hoàn toàn võ trang.

Hầu Văn Lượng đưa mắt nhìn Lưu Đức Quan, đoạn nói :
- Cho mời vào. Các ngươi phải đàng hoàng, không được lấc cấc láo nghe? Họ cưỡi ngựa hay đi chân? Có xưng danh không?
- Thưa, họ cưỡi ngựa. Một thiếu nữ xưng danh là Lam Y nữ hiệp.
- Nếu vậy, giữ ngựa lại dưới chân núi, không được xâm phạm gì nghe.
- Dạ!

Tên lâu la đi khỏi, Hầu Văn Lượng bảo họ Lưu :
- Hiền đệ ra khỏi đại sảnh tụ tập mọi người, y phục đai nịt cẩn đắc, võ trang đầy đủ, dàn quân cho thiệt nghiêm chỉnh, ngu huynh sẽ ra ngay.

Nói về Tam hiệp, Thiết Xích Tử theo đường cũ rẽ ngựa đến thẳng lối vào sơn trại.

Một toán lâu la núp bên đường nhảy xổ ra chặn đường gươm đao tuốt trần.

Một tên quát :
- Ngừng lại! Sao đường lớn không đi, rẽ vô đây làm gì?
Chu Đức Kiệt nói :
- Các ngươi làm gì mà chặn đường thiên hạ? Ta muốn đi đâu thì đi chớ?
Tên đầu mục quát :
- Đi đâu tùy ý, nhưng đường nhỏ này là cấm địa. Trở ra ngay!
- Ô hay! Các ngươi nói lạ, ta lên thăm đại đầu lãnh, cũng ngăn lối sao? Liệu thần hồn kẻo lãnh phạt trượng đó.

Tên đầu mục nhìn bốn người, giây lát mới hỏi :
- Đại đầu lãnh làm chi? Coi chừng lầm núi?

Chu Đức Kiệt mỉm cười :
- Tên Hầu Văn Lượng và đây là Thập Vạn Đại Sơn.

Đầu mục thấy nói trúng, bèn hạ giọng :
- Đã vậy, xin cho biết và chịu khó chờ đây, có lệnh mới được vào.
Lam Y bảo tên đó :
- Ngươi khá thông báo ngay là có Lam Y nữ hiệp tới thăm. Nhớ dặn Hầu Văn Lượng đừng để ta chờ lâu nghe!

Tức khắc, đầu mục quay lại dặn nhỏ một tên lâu la kíp phi mã vào đại trại. Trong khi ấy, Tam hiệp và Thiết Xích Tử xuống ngựa, cột cương vào cành cây bên lộ. Bọn lâu la vẫn đứng phòng hờ, tò mò nhìn bốn người lạ.

Lát sau, có một tên lâu la từ sân trại xuống. Viên đầu mục hỏi :
- Vưu Tứ đi đâu vậy?
Đến gần bạn, Vưu Tứ nói nhỏ mấy câu rồi đi thẳng ra đầu đường rẽ về phía tửu điếm thuộc Mẫu Đại Trùng.
Chờ một hồi lâu nữa, tên lâu la được phái lên sơn trại báo khách hồi lâu mới phi mã trở xuống.
- Đại vương tôi thỉnh quý vị lên đại trại. Xin theo tôi. Để ngựa lại đây!

Dứt lời, tên đó nói nhỏ với viên đầu mục mấy câu, rồi chạy lên trước dẫn đường.
Lúc tới khúc có nhiều mỏm đá ở hai bên lối đi, Lam Y và Âu Dương Nữ phi thân lên đầu mỏm đá bên tả chuyền vào. Đồng thời, Chu Đức Kiệt và Thiết Xích Tử cũng chuyền trên các mỏm đá bên phía hữu.
Tên lâu la ngừng bước, ngơ ngác nhìn.

Chu Đức Kiệt biết y không hiểu bốn người sở dĩ hành động như vậy là vì e bọn sơn tặc phục binh ở hai bên đường. Chuyền trên các mỏm đá cao, mọi người sẽ quan sát được toàn diện.
Tới cửa ải thứ nhất, Tam hiệp và Thiết Xích Tử nhảy xuống đường qua cửa như thường. Nhưng từ ải thứ nhất vào tới ải trong, bốn người vẫn áp dụng lối chuyền qua các mỏm đá vào đại trại.

Trên sân rộng lâu la đứng nghiêm chỉnh thành hàng hai gươm đao tuốt trần, thương giáo sáng quắc dàn ở hai bên vào đến đại sảnh. Quân canh cổng trại đánh một tiếng cổng báo khách.
Một tiếng cồng khác từ trong sảnh vang lên, viên đầu mục phụ trách ở đó, lễ phép cúi đầu mời.
- Mời quý vị tiến sảnh!

Lam Y đi giữa, Chu Đức Kiệt đi bên hữu, Âu Dương Nữ đi bên tả, Thiết Xích Tử đoạn hậu. Cả bốn ung dung nhàn nhã, thản nhiên tiến vào giữa hai hàng lâu la dữ tợn.
Trên sảnh, Hầu Văn Lượng ngồi chính giữa, bên hữu có Lưu Đức Quan, Đặng Kim Thanh, Chử Thiện. Bên tả có Tần thị, Hứa Khải Liêm, Đới Ngọc Hoàn.

Tam hiệp thừa biết chúng dàn binh “tự trình bày” cho thêm phần oai vệ. Thực lực của bọn sơn tặc này cũng không có gì đáng ngại, nếu chúng chỉ nguyên vẹn có thế này thôi. Tổng cộng, chúng có tám tướng kể cả đại vương sơn trại.

Hiện thời, có một ghế trống, Tam hiệp liên tưởng đến nữ chủ quán Tây Phương điếm.
Kìa! Có cả Tần thị và Đới Ngọc Hoàn. Thì ra chúng kéo cả về đây sau khi được tha mạng ở Kim Lăng. Nét mặt Tần thị khó đăm đăm, căm hờn như muốn nuốt sống kẻ thù đang đi lù lù trước mặt.

Trái lại với Tần thị, Đới Ngọc Hoàn chầm chậm nhìn Chu Đức Kiệt và Âu Dương Nữ đi bên Lam Y. Có lẽ hai người đính hôn với nhau rồi trông khác lắm. Đới Ngọc Hoàn liên tưởng đến hôm Đức Kiệt và Lam Y vào tới Sơn Phu quán. Ngay phút đầu, nàng mê tít vẻ tuấn kiệt của anh họ Chu. Bây giờ, trông chàng vẫn ưa nhìn quá đi mất! Thù Lam Y chớ không tài nào nàng thù ghét nổi con người này! Ước gì bắt sống được chàng... trông thiếu nữ đi bên Lam Y mới thiệt đáng ghét, nhưng Đới Ngọc Hoàn mong được ở địa vị nàng. Đới Ngọc Hoàn nghĩ liên miên tới Đức Kiệt giữa bầu không khí nặng nề bao trùm khu đại sảnh.

Mỗi người nghĩ một cách. Lưu Đức Quan giật mình khi trông thấy bốn khách lạ từ cổng trại tiến vào. Họ Lưu có cảm tưởng như chính vị tiêu sư hữu danh vùng Sơn Đông, Trực Lệ xưa kia, Chu Đức Văn đích thân vào sơn trại. Chắc bọn này là dòng dõi Chu gia rồi. Không còn nghi ngờ nữa. Từ nét mặt đến hình dáng, ngay cả lối tóc bới ngược để trần, Chu Đức Kiệt là hiện thân của thân phụ chàng.

Kìa thanh đơn đao nữa. Thường thường ai cũng đeo đao tréo sau lưng, cán đao nhô lên vai hữu cho tiện rút. Trái lại nhà họ Chu đeo cán đao sang vai trái vì sử dụng được cả hai tay như nhau. Lối buộc dây đeo cũng khác người. Hai giải tréo trước ngực nhưng còn thêm một dải vòng lưng thắt múi ra trước bụng.

Chính Lưu Đức Quan cũng bắt chước lối buộc của tiêu sư họ Chu và nhận ra rằng thanh đao được nịt vào người, xây sở rất dễ dàng chớ không lỏng lẻo như chỉ buộc hai dây trên vai.

Cô gái áo lam chính giữa và cô đi bên trông thực căn quắc anh thư. Hai thiếu nữ cùng đẹp, đẹp quắc thước anh hùng khiến người “biết nhìn” phải cảm phục kính nể, chớ không có ý nghĩ đen tối quàng xiên như phàm phu tục tử. Còn người có tuổi đi phía sau! Nếu người đó đi một mình, không ai để ý đến thật.

Trái lại, cùng đi với Lam Y, Lưu Đức Quan nhận ngay ra là một tay quái hiệp...

Phần Hầu Văn Lượng đã biết rõ thành tích của bọn Lam Y, nay được đối diện mới biết lời đồn quả thiệt không sai. Khí phách anh hùng của toàn thể bốn người đang ung dung, đi giữa khu địch thù, thoạt trông là thừa hiểu rồi. Họ không khinh địch, nhưng tin ở tài sức cá nhân và đồng đội của bốn người.

Kìa, họ bước thong thả, đưa mắt nhận xét nhìn quanh, quan sát khắp nơi, dù nhất cử nhất động cũng không qua nổi cặp mắt sáng ngời ấy.

Họ sẵn sàng phản ứng. Tam hiệp và Thiết Xích Tử vào tới gần thềm của đại sảnh đều đứng dừng lại.

Lam Y nhìn thẳng vào mặt Hầu Văn Lượng trong khi Chu Đức Kiệt, Âu Dương Nữ Thiết Xích Tử lần lượt đưa mắt quan sát toàn khu.

Hầu Văn Lượng cất tiếng hỏi :
- Vị nào là Lam Y nữ hiệp?

Lam Y đáp :
- Tôi đây!

- Nữ hiệp lên sơn trại gặp tôi có việc chi không?
- Không những là có việc mà là việc hệ trọng cho sơn trại.
- Xin cứ nói, tôi nghe.

Lam Y nhìn quanh một lượt, đoạn nói :
- Đầu lãnh là chủ, tôi là khách, phải chăng lối tiếp đãi của quý tại lúc nào cũng dàn bày như hôm nay. Nếu là một thói quen đối với bất cứ một ai thì cứ việc để y nguyên. Trái lại, nếu đầu lãnh định ra uy tầm thường như vậy, xin vui lòng dẹp đi. Ta sẽ ôn tồn nói chuyện sau.

Câu nói có hiệu lực như một ngọn roi quất vào mặt toàn thể từ đầu lãnh đến lâu la khiến ai nấy đều xôn xao, ngoại trừ Hầu Văn Lượng và Lưu Đức Quan.
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 2
 
Posts: 295
Joined: Mon Nov 28, 2011 11:46 pm
I am: Professional

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp

Postby Editor 2 » Sun Aug 17, 2014 9:36 pm

(chương 40 tiếp 2)

Hầu Văn Lượng mỉm cười mà rằng :
- Nếu Hiệp Nữ thấy vướng thì tôi xin chiều ý.

Lam Y cười khẩy trả miếng :
- Cả một Vương phủ Kim Lăng còn chẳng thấy vướng nữa là nơi “tiểu trại” này.
Chỉ Tần thị và Đới Ngọc Hoàn, Lam Y nói tiếp :
- Đầu lãnh không tin, xin cứ hỏi hai người này đã được ai “tha về” nên hôm nay mới còn ngồi nơi kia.

Tần thị nổi giận đứng vùng dậy như muốn xô xuống quyết sống cùng kẻ thù, nhưng Hầu Văn Lượng đã giơ tay ngăn lại.
- Khoan! Đừng bạo động!

Lam Y nói tiếp :
- Sự hiện diện của hai người này ở đây có hại cho cuộc đàm phán, vậy tôi yêu cầu thứ nhất hạ lệnh cho mọi người ra khỏi khu đại sảnh, thứ nhì tiếp đãi cho đàng hoàng. Tôi đến đây với tư cách một người khách, mong đầu lãnh nên giữ địa vị chủ nhân ông mà đối đãi. Trái lại, tiếp khách kiểu này thói thường của sơn trại, đầu lãnh cứ nói, tôi sẽ vui lòng bất phép.

Chạm lòng tự ái, nhưng thấy Lam Y dõng dạc nói phải. Hầu Văn Lượng bèn đáp :
- Được lắm, nếu Nữ hiệp muốn được an tâm hơn, tôi sẽ chiều ý. Nhưng có gì bảo đảm lời nói của Nữ hiệp về phương diện an ninh của tôi?.
- Người anh hùng không bao giờ hành động ám muội. Chúng tôi đứng giữa sơn trại còn chẳng e ngại, huống chi đầu lãnh tiếp khách tại gia?

Tắc kỳ ngôn lộ, Hầu Văn Lượng đứng lên, yêu cầu các đầu lãnh, lâu mục ra khỏi đại sảnh, dẹp hai hàng lâu la sang hai bên sân.

Các đầu lãnh đều hậm hực khó chịu về thái độ nhu nhược của Hầu Văn Lượng. Họ không nhận thức được cái nguy mà chỉ biết rằng về “lượng” họ đông hơn, về thế họ lợi hơn, vì bốn kẻ địch đang nhấn mình giữa khu trung tâm sơn trại. Họ đã quên mất cái phẩm và thế vô hình bao quát của đối phương.

Đối với Đặng Kim Thanh, Chử Thiện và Hứa Khải Liêm chỉ văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình về Tam hiệp, thì còn có thể tha thứ được. Nhưng Tần thị và Đới Ngọc Hoàn đã hai lần kinh nghiệm về tài sức đối thủ mà vẫn u mê, ngu muội, bực tức về cách xử sự của tháp Thiên vương quả hết chỗ nói.

Chẳng trách với bản lãnh khá cao, Tần thị đánh đâu thua đấy. Do được Lam Y tha chết, cho chạy trong trận đánh Vương phủ Kim Lăng mụ vẫn “ngang nhiên” chạy để hiện thời giở thói ngang ngạch, quật cường quả là mù quáng vậy. Với năm mươi năm kinh nghiệm, lăn lóc trong chốn lục lâm, Tần thị vẫn “dở” đến nước ấy, tất mụ chỉ quen đàn áp, xông xáo trong đám lục lâm hạ tầng, cho nên nay giao tiếp với chỗ rộng rãi hơn, Tần thị luôn luôn đi từ cái khờ nọ đến cái dại kia, mà vẫn chưa biết dại.

Hầu Văn Lượng cũng sống trong giới lục lâm đại đạo. Y đã mất người con độc nhất - Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Báo - trong trận đánh ở Kim Lăng, lòng căm thù anh em Chu gia còn ghê gớm hơn Tần thị rất nhiều vì Bạt Sơn Hổ là một tướng tài, kiệt hơn Lã Ưùng Đăng, con của Tần thị bị tử trận trong vụ hỏa thiêu Xích Hoa viện bên Sơn Phu rất nhiều.

Họ Hầu vẫn dằn nỗi mối thù cay độc ấy để tiếp “ngoại giao” Tam hiệp ngay tại nơi sơn trại thuộc quyền sát phạt của y, tức Hầu Văn Lượng biết suy tính, hiểu tình thế hơn, mà không dám làm một việc quá sức mình.

Sở dĩ Hầu Văn Lượng và toàn thể sơn trại Đại Sơn được tồn tại là cũng nhờ ở sự tri nhân tri giả vậy.

Thấy mọi người xôn xao e họ công phẫn hỏng đại sự, Lưu Đức Quan ngăn ngừa ngay :
- Xin Tần lão mẫu và quý vị hiền đệ bình tâm, nhốn nháo lúc này không nên, mặc đại đầu lãnh hành động. Chúng ta thuộc quyền Hầu đại ca chỉ có bổn phận phải theo. Bốn người kia là khách, ta là chủ, dù sao cũng phải “lịch sự” trước mới được.

Nhờ có Lưu Đức Quan ổn định mọi người bên ngoài, Hầu Văn Lượng mới an tâm tiếp khách trong đại sảnh. Việc này không phải ngẫu nhiên Hầu, Lưu hai người đã bàn định với nhau từ hồi sáng sớm rồi.

Tam hiệp và Thiết Xích Tử đứng nguyên chỗ, chờ mọi người bên Đại Sơn dẹp hết sang hai bên, rồi mới từ từ vào đại sảnh theo lời mời của viên đại đầu lãnh. Phân ngôi khách chủ, Lam Y nữ hiệp ngồi đối diện với Hầu Văn Lượng cùng phía với Âu Dương Nữ. Chu Đức Kiệt Thiết Xích Tử ngồi tréo sang hai bên họ Hầu.

Như vậy, hai nữ hiệp có thể phòng ngừa phía sau cho Chu Đức Kiệt, Thiết Xích Tử. Trái lại hai người này cũng vậy.

Hầu Văn Lượng thừa hiểu đối phương không tin mình, bèn tự tháo ngọn Thác tháp, võ khí ưa dùng, đặt ngang trên án.
Y hối lâu la dưng trà, tự rót ra một ly uống trước, sau đó mới mời khách.
- Quý vị thân lên sơn trại có điều chi dạy bảo?

Lam Y nói :
- Thấy đại đầu lãnh là người hiểu biết, chúng tôi vui mừng cảm phục. Sự việc rất giản dị. Trước đây, quý trại bắt được hai nhân viên của Trường Sa phủ, phải không? Một người bị bắt trước và một bắt sau.
Nhìn Lam Y giây lát như muốn thăm dò sự hiểu biết của vị Nữ hiệp kỳ tài ấy, Hầu Văn Lượng gật đầu :
- Có thế.
- Hai người đó còn sống không?
- Không những còn sống mà còn được đối đãi đàng hoàng.

Lam Y mỉm cười :
- Hay lắm. Cử chỉ ấy giúp đầu lãnh tiến được một bước dài rồi. Tôi nhấn mạnh rằng họ là thân tín của quan tân trấn thủ Trường Sa. Vị đại quan này muốn thấy hai người đó được trở về nhà. Trái lại, tân quan sẽ trả bất cứ giá nào miễn là lấy được họ về, dù sống hay chết.
- Nghĩa là Nữ hiệp tới đây với mệnh lệnh của trấn thủ Trường Sa “lấy” họ về?
- Đầu lãnh đừng cố ý lầm lẫn. Chúng tôi không hề biết mệnh lệnh của ai cả và bất cứ trong trường hợp nào. Hành động theo công lý là mục đích duy nhất của chúng tôi và của toàn giới Giang Hồ Hiệp Khách.

Nếu đầu lãnh giữ vững lập trường tôi lặn lội tới quý trại với mệnh lệnh Trường Sa thì tôi xin kiếu từ, không dám “giúp” đầu lãnh nữa.

Nói đoạn, Lam Y nữ hiệp cùng ba người đứng cả dậy.

Hầu Văn Lượng vội chịu nhún :
- Xin đừng nóng nảy. Tôi lỡ điều gì, Nữ hiệp cứ thẳng tình giảng giải. Đã là hảo hán, đầu đội trời, chân đạp đất, tay vung ba thước kiếm vạch ra một lối đi trong thiên hạ, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, đã tương kiến lúc này, can chi ta bỏ lỡ dịp tìm hiểu biết nhau.
Thấy Hầu Văn Lượng tánh tình hào sảng, bốn người ngồi xuống như cũ.

Lam Y nói :
- Mới đây, có việc qua Trường Sa, do một việc dính líu tới quan Trấn thủ phủ thành, vị quan ấy đã nhờ chúng tôi giúp việc xuất quân chinh phạt Đại Sơn, đòi hai người bị cầm về. Chúng tôi chỉ nhận giúp tự ý lấy họ về xét rằng người nào cũng có gia đình trông đợi. Xét về phương diện Đại Sơn, tôi thấy cầm giữ họ bất lợi, nên chúng tôi không quản ngại tới đây làm một việc nhất cử lưỡng đắc. Hai người kia được tái hội gia đình, mà quý trại đây cũng tránh được phần... binh lửa.

Hầu Văn Lượng nói :
- Nữ hiệp và quý vị hồ hải đã nhiều, tất dư hiểu lệ luật sơn trại. Vì vấn đề an ninh tôi phải bắt hai người ấy, và cũng muốn gìn giữ an ninh cho sơn trại, tôi đã cầm họ lại phòng sau này có con tin trao đổi. Nay
Nữ hiệp đã yêu cầu thả họ về, hành động ấy quá chênh lệch có hại cho Đại Sơn.

- Đầu lãnh nhìn tình thế qua một khía cạnh thôi. Thả hai nhân viên Trường Sa, đầu lãnh tỏ ra có thiện chí không đương nhiên chống trả triều đình và phạm tới lòng tự ái của Trường Sa. Riêng một điều ấy cũng đã đủ cho Trường Sa ngưng việc xuất quân ít nhất trong một thời gian dài. Đầu lãnh sẽ nhân cơ hội đó củng cố sơn trại, phòng vệ chắc hơn bây giờ nhiều lợi biết nhường nào? Hai người kia được về với gia đình, tất sẽ ca tụng tấm lòng nhân ái của đầu lãnh, Trường Sa sẽ bớt nghĩ tới nơi đèo heo hút gió này, và biết đâu không bỏ hẳn việc phát quân?.

Hầu Văn Lượng suy nghĩ giây lát :
- Nữ hiệp không thể bảo đảm hoàn toàn về vụ chinh phạt Đại Sơn nếu tôi thả hai mật vụ viên về Trường Sa?

Lam Y cười mà rằng :
- Đầu lãnh đòi hỏi quá sức chúng tôi. Nếu e sợ quan quân chinh phạt, đầu lãnh nên thiêu hủy sơn trại trở lại đời sống bình thường như mọi người. Bổn phận quan quân là diệt trừ đảng khấu, tôi can thiệp sao nổi.

Hiện thời, tôi chỉ biết với sự trung gian có thể dành cho quý trại một thời gian khá lâu để đầu lãnh tùy nghi lo liệu, hơn nữa đầu lãnh còn có hy vọng là nội vụ sẽ êm... Riêng phần tôi, khuyên đầu lãnh đừng bỏ cơ hội này mà lợi bất cập hại.

Trước lời lẽ cứng rắn vừa ôn tồn hợp tình hợp lý của Lam Y nữ hiệp, Hầu Văn Lượng tự xét phải theo chớ không thể hành động được nữa.
- Tôi tin ở Nữ hiệp và quý vị. Vậy Nữ hiệp muốn lãnh hai người đó bây giờ thế này sao?
- Tôi lãnh họ ngay. Sớm ngày nào có lợi cho đầu lãnh ngày đó.

Tức thì, Hầu Văn Lượng vỗ tay truyền gọi mục truyền lệnh :
- Ngươi ra nói với Lưu đầu lãnh xuống ngục thất tha hai người bắt trước đây, và đưa họ lên đại sảnh. Sửa soạn cho họ đủ hành trang, tiền bạc ăn đường. Cấp tốc!

Hồi lâu, đầu mục dẫn hai người bị bắt tới.

Lam Y thấy cả hai đều khỏe mạnh, bèn hỏi :
- Hai người là Hoàng Trọng Hà và Tôn Vương?
Hoàng Trọng Hà đáp :
- Dạ, chính chúng tôi.

Hoàng, Tôn hai người khúm núm nói mấy lời cảm ơn. Tam hiệp, Thiết Xích Tử đứng dậy cáo từ, có cả Mẫu Đại Trùng đứng lác đác ở hai bên sân chuyện trò. Mẫu Đại Trùng đứng với Lưu Đức Quan, Tần thị với Đới Ngọc Hoàn và Hứa Khải Liêm, Đặng Kim Thanh với Chử Thiện.

Chu Đức Kiệt, Thiết Xích Tử đi kèm hai bên Hoàng Trọng Hà và Tôn Vương. Lam Y, Âu Dương Nữ rảnh rang đi sau. Đoàn người ra tới khu thềm đại sảnh.

Hầu Văn Lượng nói với bốn hiệp khách :
- Quý vị hãy dừng chân cho tôi dẹp bọn mọi người hãy qua sân.

Đoàn người ngừng lại, Lam Y bảo Hầu Văn Lượng :
- Đại đầu lãnh e các tướng hành động khó dễ chớ gì? Quân lệnh bất nghiêm như vậy giữ sao nổi sơn trại? Cuộc thăm viếng đây lại là cơ hội để đại đầu lãnh thử nghiệm xem quân lệnh của đầu lãnh có được tôn trọng hay không.

Hầu Văn Lượng tái mặt :
- Hầu mỗ xin thân đưa quý vị ra tới tiền trại.
Lam Y nữ hiệp mỉm cười :
- Khỏi cần! Vào được thì ra được không dám phiền hà đầu lãnh quá nhiều.
Nói đoạn, nàng vẫy tay ra hiệu bảo Đức Kiệt, Thiết Xích Tử cứ việc tiến.

Hầu Văn Lượng đành đứng lại trên thềm gọi vội Lưu Đức quan, Mẫu Đại Trùng :
- Nhị vị đi trước dẫn đường quý khách xuống sơn trại, mau!

Tức thì, hai người này chạy vội lên phía trước dẫn đường.

Đoàn người vừa qua được nửa sân tới gần chỗ Tần thị chống thiết trúc trượng đứng cùng Đới Ngọc Hoàn phía bên tả, và Đặng Kim Thanh, Chử Thiện đứng bên hữu.

Bốn người này chỉ cách đoàn hiệp khách đang đi ở giữa sân độ chừng sáu bảy sải tay.
Hầu Văn Lượng đứng trên thềm chống tay lên sườn, trừng trừng nhìn họ...

Nhưng Tần thị đã phóng mình tới quật lẹ một thiết trượng lên đầu Chu Đức Kiệt lúc đó đi gần mụ nhất.
- Coi trượng ta đây! Chết này!
- Hỗn!

Tiếp theo tiếng quát ấy, một làn đao xanh lè vung lên như chớp giật. Cây thiết trượng của Tần thị bị tiện đứt đôi rớt “xoảng” một tiếng xuống sân gạch, đồng thời lưỡi đơn đao Thất Tinh xẹt qua đầu mụ hớt đứt băng búi tóc xuống mặt Tần thị. Mụ sợ hãi chạy lùi về phía Đới Ngọc Hoàn, thì giữa lúc ấy Đặng Kim Thanh phóng luôn một ngọn phi đao nhằm lưng Lam Y nữ hiệp. Quay phắt lại với tay bắt ám khí, Âu Dương Nữ rút trường kiếm “soạt” một tiếng, trừng trừng nhìn toàn thể bọn sơn tặc, sẵn sàng thọ địch. Nhưng một mũi phi đao nữa do họ Đặng phóng ra xẹt lẹ tới mặt Lam Y. Nàng đưa tay bắt luôn ám khí thứ hai ấy, thì mũi thứ ba đã bay tới bụng. Nàng phóng cước tả đá “búng” ngang mũi phi đao bật văng ra góc sân.

Đặng Kim Thanh đưa tay toan phóng ám khí nữa thì lẹ như cắt, Thiết Xích Tử quát vang tựa sấm động nhào tới vung thiết xích “xoảng” một tiếng quấn trúng cổ tay Đặng tặc, giựt mạnh.

Đặng Kim Thanh kêu rộ lên một tiếng, toàn thân y bị rút lên khỏi mặt sân văng đến trước mặt Thiết Xích Tử, lăn lóc ôm cổ tay gẫy lìa, rên la không ngớt miệng.

Tất cả mọi sự chỉ xảy ra trong giây phút khiến Hầu Văn Lượng nhìn thấy hẳn hoi mà không kịp can thiệp.
Y chạy tới ra giữa sân mắng ầm ĩ bọn bộ hạ, mặt mũi đỏ bừng mắc cỡ cùng bốn vị hiệp khách.

Không để cho Hầu Văn Lượng kịp xin lỗi, bốn hiệp khách đã tức thì tiến qua sân ra cổng trại.

Từ đó xuống đến dưới núi, Lam Y và Âu Dương Nữ nhường Chu Đức Kiệt, Thiết Xích Tử bảo vệ Hoàng Trọng Hà và Tôn Vương. Hai nàng chuyền trên các mỏm đá phòng ngừa phục binh.

Lưu Đức Quan, Mẫu Đại Trùng đi trước dẫn đường có nói, bốn người cũng chẳng nghe nào sau vụ đánh trộm vừa rồi.

Xuống tới chân núi, Lam Y bảo Mẫu Đại Trùng và Lưu Đức Quan :
- Tôi gửi lời nhị vị đầu lãnh cảm ơn Hầu đại vương đã tiếp đón chúng tôi thiệt nồng hậu.
Mẫu Đại Trùng nói :
- Mọi người đã tự ý hành động ngoài ý muốn của đại đầu lãnh chúng tôi...

Lam Y nhảy phắt lên ngựa. Chu Đức Kiệt đèo Hoàng Trọng Hà, Thiết Xích Tử đèo Tôn Vương.

Trước khi dóng ngựa cùng Âu Dương Nữ ra mặt đại lộ, Lam Y phóng hai mũi phi đao bắt được hồi nãy của Đặng Kim Thanh cắm phập vào gốc cây gần đó mà rằng :
- Nhị vị đầu lãnh trả lại cố chủ, với cổ tay gãy lìa ấy liệu y còn sử dụng nổi ám khí sau lưng ngươi không!...
Nàng cười ròn rã, vẫy tay chào thúc ngựa đi thẳng.

Hôm sau về tới quán trọ nơi để Trương Nghĩa chờ, Chu Đức Kiệt biên một phong thơ đưa cho Hoàng, Tôn hai người :
- Nhị vị cùng Trương Nghĩa về thẳng Trường Sa đưa phong thơ này cho Hoàng Đại quan. Nên thận trọng đường trường, đừng trì trễ. Trường Sa trông chờ nhiều lắm đó.
Hoàng Tôn vái tạ ơn bốn hiệp khách đã cứu mạng, đoạn đeo hành lý tức tốc lên đường nhằm nẻo Cẩn Châu.

Ba người ấy đi khỏi, Thiết Xích Tử nói :
- Bây giờ ta cũng qua Cẩn Châu mới có đường về Võ Đang sơn.
Ở lại quán trọ một ngày, Tam hiệp, Thiết Xích Tử trở bước Cẩn Châu đi đường hướng Đông Bắc lên Võ Đang sơn.

Ngày đi đêm nghỉ, chẳng bao lâu tới nơi thì trời đã xế chiều. Lúc đó, Trương Tam Vân vừa ở Võ Đang sơn về đến cổng trang, chợt trông thấy bốn kỵ sĩ dóng ngựa từ xa tới, liền đứng lại nhìn.

Nhận ra Thiết Xích Tử cùng đi với một nam, hai nữ, Tam Vân nghĩ thầm :
- Quái, sao trưởng huynh chuyến này về sớm vậy?

Bốn người tới nơi xuống ngựa, Thiết Xích Tử giới thiệu Tam hiệp.
Trương Tam Vân thi lễ mà rằng :
- Nghe đại danh qua lời của gia huynh từ lâu, nay mới được diện kiến, thật quý hóa vô cùng.

Tam hiệp đáp lễ, nói mấy lời khiêm tốn. Trông mà nực cười, Trương Tam Sơn thô kệch bao nhiêu thì Trương Tam Vân, trái lại, nho nhã bấy nhiêu. Mi thanh, mục tú, nước da trong sáng, Tam Vân để râu ba chòm đen lánh dài ngang đai lưng vận bào xanh, chân dận thảo hài, y hệt nho sinh.

Gia nhân ra đón ngựa, Trương Tam Vân mời khách vào trang. Không thấy hai con đâu, Trương viên ngoại hỏi gia nhân :
- Công tử và tiểu thư đi đâu vắng nhà?
- Thưa, thiếu gia và tiểu thư đi săn chiều mới về.

Tam Vân hỏi Thiết Xích Tử lúc đó vừa vào chào mẫu thân xong trở ra :
- Sao chuyến này trưởng huynh về sớm thế?
- Ngu huynh vừa ở Trường Sa qua Thập Vạn Đại Sơn, bây giờ mới về đây đó.
- A, có việc chi qua Trường Sa. Có ghé thăm vợ chồng Tam Nương không?
- Chính vì việc của Tam nương, ngu huynh mới đi Trường Sa.

Thiết Xích Tử đem việc nhờ Tam hiệp đi Trường Sa giúp vợ chồng Hoàng Hoa Chiếm, trừ thủy khấu ở khu hoang địa, sau đó qua sơn trại Đại Sơn, kể lại một lượt cho Trương Tam Vân nghe.

Trương Tam Vân nói :
- Nay đã có công về nhà lại nhân dịp Tam hiệp qua chơi, trưởng huynh nên nghỉ ngơi lâu lâu rồi hãy đi. Như vậy tiểu đệ có thì giờ đàm đạo cùng quý vị hiệp khách.

Thiết Xích Tử đáp :
- Tam hiệp và ngu huynh chỉ nán lại được vài ngày, rồi lại lên đường ngay. Chuyến này ngu huynh theo Trại Mạnh Thường và Tam hiệp lên Yên Kinh.

Chu Đức Kiệt nói :
- Có giải pháp này hay hơn cả. Trương tiên sinh vẫn ở lại nhà được nhiều ngày hơn và vẫn lên kịp Yên Kinh với chúng tôi.

Thiết Xích Tử vội hỏi :
- Giải pháp nào?
- Từ Võ Đương chúng tôi qua Thiếu Lâm tự thăm Chiêu Đức thiền sư, sau đó mới về Tô Châu cho kịp khởi hành lên bắc. Tiên sinh ở lại nhà ít lâu liệu tính ngày đi thẳng Tô Châu trước và báo cho nhạc phụ biết rằng ba chúng tôi sẽ về sau. Có được không?
- Như thế càng hay. Gia đệ luôn luôn trách tôi không chịu ở nhà, trăm lần y cả trăm. Y còn trách tôi uống rượu nhiều mới khổ chứ. Quý vị xem, từ nãy đến giờ ngồi nói chuyện dùng trà suông, trùng rượu đục sắp thủng bao tử mà không có lấy một bụm rượu uống.

Mọi người phì cười. Trương Tam Vân nói :
- Huynh trưởng đi đã uống nhiều hơn khiếp quá.

Nói đoạn, Trương Tam Vân hối gia đình dọn lẹ tiệc rượu đem lên. Trong khi chờ rượu, Viên ngoại mời Tam hiệp vào tư phòng cất hành trang và thay áo rửa mặt.

Lát sau, năm người vừa khởi sự uống rượu chưa xong tuần đầu, thì Trương Tam Võ, và Trương Nhị Nương, con trai và con gái của Trương Tam Vân đi săn về.

Tam Võ vác trên vai một con nai khá lớn. Gia nhân chạy ra đỡ lấy mồi săn.
- Thưa thiếu gia và tiểu thư. Đại bá đã về, có đem theo ba người khách nữa.

Trương Tam Võ hỏi :
- Ngươi đã báo cho Viên ngoại biết chưa?
- Thưa, vừa lúc ấy. Viên ngoại cũng ở Võ Đang sơn xuống. Hiện thời mới ngồi vào thồi rượu xong.
Nhị Nương bảo các gia nhân :
- Nếu vậy hay lắm, các ngươi khá làm thịt luôn con vật này và bảo hỏa đầu làm luôn món nhắm đem lên thồi tiệc nhé.

Nói đoạn anh em họ Trương kéo nhau lên khách sảnh tiến vào thực phòng ra mắt bá phụ Trương Tam Sơn.
Trương Tam Vân bảo hai con :
- Các con khá đến chào Tam hiệp mà con vẫn ao ước được diện kiến đi.

Tam Võ và Nhị Nương mừng rỡ, cung kính đến trước mặt Tam hiệp vái chào, ba người thấy anh em Tam Võ khôi ngô tuấn tú cân quắc anh thư thì khen thầm. Tam Võ trạc hai mươi một, hai mươi hai, còn Nhị Nương trạc mười tám, mười chín tuổi.

Lam Y nữ hiệp kéo ghế bảo Nhị Nương ngồi vào chỗ giữa nàng và Âu Dương Nữ, Chu Đức Kiệt cũng mời Tam Võ ngồi kế bên chàng.

Thiết Xích Tử cười ha hả :
- Điệt nhi, điệt nữ ưng ý nhé? Hai người ao ước biết mặt nên ta thỉnh Tam hiệp về đó.
Trong thời gian mấy ngày, Tam hiệp ở chơi Trương gia trang, thăm viếng Võ Đang sơn, Tam Võ và Nhị Nương quấn quýt lấy ba người khi đàm luận, lúc luyện võ, hỏi han nhiều chuyện. Vì là con nhà võ chính tông nên bản lãnh Tam Võ và Nhị Nương được chân truyền. Bốn hôm sau, Tam hiệp từ tạ lên đường. Ba cha con Tam Vân mến khách lưu lại không được bày tiệc tiễn hành ngoài Mai Hoa đình, lưu Tam hiệp lại một ngày mới chia tay.

Khi đó tiết trời cuối thu bắt đầu lạnh, Tam hiệp vận áo ấm theo đường lên hướng Đông bắc tiến vào địa phận Tuyền Châu ở phía bắc Hồ Nam ranh giới giữa ba tỉnh Phúc Kiến, Giang Tây, và Hồ Nam. Tuyền Châu thuộc phần đất Phúc Kiến, núi non trùng điệp, rừng cây xanh bạt ngàn.
Vào tới địa phận Tuyền Châu, Âu Dương Nữ hướng dẫn Lam Y và Chu Đức Kiệt sang Đặng Phong huyện nghỉ lại một đêm.

Huyện này khá lớn nhà cửa san sát, buôn bán tấp nập sầm uất lạ thường. Tiếng rằng thuộc phần đất Phúc Kiến, nhưng dân cư lẫn lộn hai xứ Hồ Nam, Giang Tây.
Âu Dương Nữ dẫn anh em Chu gia đến “Môn Sanh quán” ở bắc môn huyện thành.

Nàng giải thích :
- Quán này lấy tên “Môn Sanh” không phải vô nghĩa. Chủ quán họ Hồng tên Gia Đức, năm nay trạc tuổi phụ thân ở nhà, vốn là môn sanh Thiếu Lâm tự. Lão đại bá thân sanh ra Hồng Gia Đức, năm nay tuổi dư bát thập cũng xuất thân Thiếu Lâm tự. Họ Hồng ở Phúc Kiến đời đời buôn bán ở Đặng Phong huyện.

Người mới đến Đặng Phong huyện hỏi đường lên Thiếu Lâm tự đều được mọi người chỉ đến “Môn Sanh quán”. Người cũ về thăm nhà, vấn an sư phụ dĩ nhiên cũng qua đó trọ trước khi vào núi. Hai Chữ “Môn Sanh” của tửu quán này do lão đại bá Hồng Gia Cường đặt ra từ lúc người còn thiếu thời.

Ngày nay cứ hỏi đến Môn Sanh quán thì toàn Đặng Phong huyện ai ai cũng biết, kính cẩn nhìn người hỏi đường vì họ tin rằng đó là người của Thiếu Lâm tự, hoặc đến xin theo Thiếu Lâm học nghề.

Trước đây, năm nào phụ thân và tiểu muội đến viếng Tung Sơn, chuyến nào cũng ngụ lại Môn Sanh quán. Hồng Gia Đức cùng học một khóa với phụ thân và đồ đệ thuộc hàng thứ mười của khóa ấy.

Tam hiệp xuống ngựa trước cửa quán núp dưới bóng cây mấy rặng liễu xanh rờn.

Tiểu nhị chạy ra đón khách và nhận ra ngay Âu Dương Nữ :
- Kính chào Âu Dương tiểu thơ. Bữa nay Đại công chủ (Âu Dương Tòng Thiện) không cùng đi?

Ném cương ngựa cho tửu bảo, Âu Dương Nữ đáp :
- Gia phụ bận việc không đi. Hồng Gia thúc có nhà không?
- Thưa có, mời tiểu thư vào quán.

Tam hiệp giở hành trang trên ngựa ra, qua sân rộng bước lên thềm quán thì vừa lúc Hồng Gia Đức rảo bước đi ra.

Âu Dương Nữ chắp tay vái :
- Kính chào thúc thúc được an khang? Năm nay gia phụ có việc lên Bắc nên không cùng đi.
Dứt lời, nàng giới thiệu Lam Y và Chu Đức Kiệt với họ Hồng :
- Đây là nhị vị hiệp khách Sơn Đông, đích điệt của Đức Võ Thượng Nhân đó.

Anh em Chu gia vái chào. Hồng Gia Đức đáp lễ :
- À, ra nhị vị đây là Lam Y nữ hiệp và Chu Đại hiệp đó? Hồi đầu năm, Sư trưởng (Chiêu Đức thiền sư) viễn du về có nói tới quý vị. Hỏi thế này không phải, nhưng theo lời Sư trưởng thì hình như hai người họ Chu và Âu Dương thông gia với nhau thì phải?

Âu Dương Nữ đỏ mặt e thẹn khẽ gật đầu.

Lam Y vui vẻ đáp :
- Thưa tiên sinh đúng vậy đó. Âu Dương tiểu thơ đây và gia huynh Chu Đức Kiệt đã đính hôn từ cuối năm ngoái. Sang Xuân này sẽ thành hôn.
Âu Dương Nữ thẹn thùng đỏ mặt gay gắt.

Hồng Gia Đức mỉm cười :
- Càng hay chớ sao! Mối duyên này thắt chặt tình hữu nghị giữa Thiếu Lâm với bắc phái. Đức Võ Thượng Nhân và Sư trưởng thân mật khác gì anh em đồng môn!... Nào xin mời tất cả vào quán rửa mặt nghỉ ngơi, sẽ chuyện trò sau.
Tam hiệp vào quán lấy phòng trọ, sửa soạn xong xuôi trở ra thực phòng dùng bữa trưa. Hồng Gia Đức thân với gia đình Âu Dương đãi rượu.

Họ Hồng hỏi Chu Đức Kiệt :
- Ba vị hiền điệt ở Tô Châu về thẳng đây hay du ngoạn các nơi khác?
- Thưa thúc thúc, chúng tiểu điệt từ Tô Châu vào trường Sa, sau qua Thập Vạn Đại Sơn ngược lên Võ Đang sơn mới về Đặng Phong huyện.
- Ủa, đi vòng dữ a.

Âu Dương Nữ đỡ lời họ Chu, thuật lại vụ giúp Thiết Xích Tử và Trường sa, nhập sơn trại Đại Sơn cho Hồng Gia Đức nghe.

Họ Hồng lấy làm thích thú khen ngợi luôn miệng.
- Mọi năm, nếu Trại Mạnh Thường sư huynh không về chơi Tung Sơn được, thường sai phái Tòng Cát, Tòng Đức đi thay, có lẽ sắp về cả đây.

Âu Dương Nữ đáp :
- Nhị vị gia huynh chuyến này cùng theo phụ thân lên Yên Kinh. Tiểu nữ qua Tung Sơn với nhiệm vụ báo cho Sư trưởng hay.
- Năm nay số môn đồ nhập và mãn khóa có nhiều không?

Hồng Gia Đức nói :
- Kể từ cuối năm ngoái đến giờ, số người xin nhập môn tăng nhiều phần, nhưng sau thời gian thử thách, Chiêu Đức sư huynh lọc được mươi người. Còn số mãn khóa có mười lăm người thì năm người được chánh thức hạ sơn, mười môn sanh kia phải ở lại với khóa sau. Tháng trước, Ngũ Chấn sư huynh cùng từ Tam Vân tự Quảng Châu về chơi mới đi được ít ngày.

Xong bữa, Âu Dương Nữ hướng Lam Y, Chu Đức Kiệt thăm thú huyện Đăng Phong. Lúc trở về thì vừa lúc gặp đại lão bá Hồng Gia Cường vừa đi thăm bà con ngoại huyện lững thững về nhà.

Tam hiệp bèn cung kính lạy chào.
Hồng Gia Cường năm ấy bát tuần, trầm hầm khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, râu tóc bạc phơ, tóc bạc như cước.

Âu Dương Nữ nói riêng với anh em Chu gia :
- Đại lão bá vẫn tập luyện hàng ngày, sử dụng cây Hồng côn tuyệt kỷ.

Lam Y hỏi :
- Hồng Gia Đức thúc thúc không có con trai sao?
- Có ba người: Hồng Gia Mạnh, Gia Cương và Gia Đông. Không hiểu tại sao vắng nhà.
Hồng Gia Đức nghe thấy, nói :
- Chúng mới ra cửa bể Sán Đầu lấy hàng, chừng hai mươi ngày nữa mới về được.

Sáng hôm sau, Tam hiệp sửa soạn vào Tung Sơn.

Tung Sơn ở về hướng Bắc cách huyện Đăng Phong tám dặm, chu vi hơn một trăm bốn mươi dặm. Tung Sơn gồm có hai dãy núi. Dãy phía đông là Thái Thất sơn, dãy phía tây là Thiếu Thất. Thái Thất sơn ở chính giữa Đăng Phong huyện cao hơn hai ngàn tám trăm trượng, vách đá nhấp nhô lởm chởm rừng cây chỉ mọc phía chân núi.

Thiếu Thất sơn ở hướng Tây bắc tiếp giáp với Đăng Phong huyện, cao tám trăm sáu mươi trượng. Phân tách ra như vậy, nhưng người không tìm hiểu thường gọi chung cả là Tung Sơn.

Thái Thất sơn hiểm độc hơn Thiếu Thất. Đỉnh núi chót vót luôn bị bao phủ bởi mây ngàn trắng xóa. Trái lại, ngọn Thiếu Thất u nhã hơn bao phủ bởi rừng Thiết mộc, (thứ cây trái đã dẫn giải trong một đoạn trước pho L. Y. N. H) Đỉnh Thiếu Thất sơn không có chóp núi, phẳng lì thiên nhiên, rộng rãi trên năm ngàn trượng vuông, và cũng là nơi ngôi chùa danh tiếng Thiếu Lâm tự được xây dựng, nào tam quan, đại điện tiền hầu, nào thiền cung, trai cung, nào võ sảnh, võ phòng, dãy dọc, dãy ngang. Lối lên Thiếu Thất từ đời nọ qua đời kia được sửa sang cẩn thận nên rất dễ đi. Khách thập phương thường niên lên chùa dâng hương không ít.

Dưng hương và ngoạn cảnh. Trên đường mòn từ Thiếu Thất sang Thái Thất sơn, khoảng giữa có Lộng Nguyệt hồ. Hồ này sâu tới bốn trượng, hình tròn như mặt trăng, hình trong, hoa dại mọc chung quanh càng thêm tăng vẻ đẹp thiên nhiên của cảnh vật. Thường nhật đứng lên trên Thiếu Thất sơn, nhìn xuống người ta cảm tưởng như nước hồ xanh rêu, đồng màu với cỏ cây, nếu không được chỉ dẫn cũng khó phân biệt được đâu là hồ, đâu là cây cỏ. Khi du khách dưng hương lễ Phật, theo đường phía sau chùa xuống vãng cảnh kỳ hồ, không khỏi lấy làm lạ vì nước hồ trong vắt như lưu ly.

Những đêm trăng sáng, từ mười hai, mười ba đến ngày hai mươi mỗi tháng, từ Thiếu Lâm tự nhìn xuống thì lạ thay toàn thể mặt hồ phản chiếu ánh trăng vàng, trong vanh y hệt cả vành trăng lớn từ không trung rớt xuống nằm giữa đường sang Thái Thất sơn. Bởi vậy thành tên Lộng Nguyệt hồ do các sư trưởng tiền triều truyền lại. Trong bộ “Võ Thuật Tùng Thư” đoạn nói về Thiếu Lâm tự có ghi rõ Lộng Nguyệt hồ thành tên từ đời Nam Tống nhưng không ghi rõ do vị Thiền sư nào đặt tên.

Ở hướng Nam ngọn Thiếu Thất cách chân núi chừng trên một dặm, có một đầm nước rộng tới mươi mẫu. Quanh đầm lau sậy mọc đầy, nhưng phía giáp với triền núi. Sư trưởng Thiếu Lâm tự phái các môn đồ xuống sửa sang thiệt quang đãng, để du khách có nơi ngự thuyền. Bên đầm có một ngôi đình hoa bát giác thiệt lớn lợp đá xanh góc mái cong cong, làm chỗ nghỉ chân cho khách thập phương thưởng ngoạn cảnh đầm.

Gần đình bát giác, là mấy gian nhà cỏ của gia đình người thủ trụ.

Người thủ đình này được Sư trưởng cho phép trông coi một đoàn mươi chiếc thuyền hoa. Khách dưng hương ngự thuyền tuy không phải muốn, nhưng ai nấy đều hảo tâm tặng tiền nước, nên thủ đình nhờ đó sống dư dả cùng gia đình, tự ý sửa sang ven đầm trồng những rặng liễu xanh rờn đẹp mắt.

Mỗi năm tới mùa thu, trời xanh quang đãng, có từng bày nhạn bay qua thường lầm mặt hồ lộng với trời xanh nên có bầy sà hẳn nhào xuống nước tưởng mặt đầm trong sáng như gương là vòm trời thứ hai. Bởi vậy trải qua nhiều đời, Trí Dũng thiền sư, sư phụ của Âu Dương Tòng Thiện cũng đặt thành tên Lạc Nhạn đình.
Trong thời gian họ Âu Dương từ cha chí con, theo học võ nghệ trên Thiếu Lâm tự, Tòng Thiện tiền lắm bạc nhiều, bỏ ra sang sửa, khai phá, lập nhiều công đức đối với nhà chùa, cho nên thời ấy nói tới Âu Dương thì từ môn đồ lão ấu cho đến cả khách dưng hương quen thuộc đều biết rõ.

Về môn học thủy công, sư trưởng Thiếu Lâm tự thường cho môn đồ tập luyện lúc ở Lạc Nhạn đầm, khi ở Lộng Nguyệt hồ. Lạc Nhạn đầm thuộc mặt tiền, nhiều du khách, tập thủy công có phần không tiện nên thời Chiêu Đức thiền sư, người chuyên cho đồ đệ luyện thủy công ở Lộng Nguyệt hồ sau núi.

Đi men Lạc Nhạn đầm vòng sang hướng Đông nam, có một lối xây thành bực đá vòng vèo lên sườn Thiếu Thất sơn, cách mặt đất độ trăm trượng, du khách tới Trấn Võ động. Động đá này ăn sâu vào trong núi, nên trong có một phiến đá lớn thiên nhiên, vuông vắn nhắn lì. Vách đá cũng nhẵn như mài. Trên phiến đá lớn ấy nơi giáp vách động, bày một lư hương bằng đồng đen lớn cắm đầy chân nhang mới cũ. Trên vách đá, nơi giáp với lư hương khắc một hàng chữ đề: “Đạt Ma thiền sư Tham thiền chi linh vị”.

Nói về Trấn Võ động, pho Võ Thuật Tùng Thư có ghi đoạn sau đây:
Xưa kia, vị thần tăng Đạt Ma vân du tới Tung Sơn Thiếu Thất, thấy cảnh sắc hùng vĩ, u nhã nên dừng gót giang hồ ở đây.

Trước kia xây dựng ngồi chùa Thiếu Lâm tự, Đạt Ma sư tổ ở ngay trong Trấn Võ động. Nơi bày lư hương tức là chỗ vị thần tăng ngày ngày tham thiền nhập định suốt trong thời gian Thiếu Thất sơn còn phôi thai.
Ngày nay, các môn đồ thường nhật xuống thắp nhang thờ trong động, những hôm trời tối âm u, đã nhiều người phảng phất thấy bóng vị thần tăng hiện trên vách đá, lung linh mờ tỏ nhưng họ quả quyết là trông thấy rõ rệt hình dáng Sư tổ tham thiền nhập định.

Khách thập phương hành hương cũng vậy. Đã có người từng trông thấy bóng vị Thần Tăng phảng phất hiện trên vách đá nên lời đồn lan rộng khắp nơi, khách dưng hương vào Thiếu Lâm tự cầu phúc đông đảo vô cùng.

Từ thời Trí Dũng, thiền sư phải cắt đặt hai vị hòa thượng ở thường trực trong Trấn Võ động luôn luôn hương khói, chớ không sai phái môn đồ ngày hai lần lên nhang như các thời trước nữa.
Kể từ ngày Đạt ma sư tổ ngừng gót giang hồ lại Trấn Võ động, Thiếu Thất sơn xây dựng Thiếu Lâm tự cải tổ ngôi chùa thành lớn hơn buổi sơ khai, tổng cộng có tới chín năm trời, vị Thần Tăng ấy luôn luôn ngồi nhập định ở nơi đặt lư nhang hiện tại.

Đó là lịch sử Trấn Võ động trong Thiếu Thất sơn mà thiên hạ quen miệng gọi riêng là Tung Sơn. Thiệt ra danh từ Tung Sơn là chỉ định toàn thể cả hai dãy núi Thái Thất (cao nhất) và Thiếu Thất.

Sở dĩ Thiếu Lâm tự Đạt Ma sư tổ xây cất trong Thiếu Thất sơn vì ngọn núi này bằng phẳng tiện lợi hơn. Nhờ địa thế rộng lớn ấy nên từ đời nọ qua đời kia, các vị sư trưởng luôn luôn cải cách hoặc xây dựng thêm thành thử chùa Thiếu Lâm trở nên một trong nhưng ngôi chùa lớn nhất Trung Nguyên, hơn cả Ngũ Đài sơn.
Thiếu Lâm tự có một lịch sử lâu dài như vậy, dĩ nhiên phải qua nhiều đời sư trưởng.

Trong nghĩa trang, nơi an nghỉ ngàn năm của các hòa thượng trụ trì và những người khác giúp việc nhà chùa, ở chân Thất Thái Sơn trông về hướng Nam. Khách dưng hương thường qua bên đó lễ phần mộ Đạt Ma sư tổ.

Theo luật lệ nhà chùa, các tiểu tăng trụ trì khi từ giã cõi trần đều được hỏa táng bên Thái Thất sơn, thể xác còn lại chỉ là đống tro và chôn nổi trong mộ phần. Cũng vì Thiếu Lâm tự có nhiều thân chủ, nên khu luyện võ của các môn đồ được ngăn ra riêng biệt không bận rộn vì du khách lễ chùa.

Trong khu bảo điện thập phần rộng rãi, cột cây súc lớn hàng ôm, có thờ tượng đức Thích Ca Mâu Ni, cao mười bốn thước. Pho tượng lớn thứ hai là Đức Di Lặc, thếp vàng nuột, ngồi hai tay ôm bụng phệ hở rốn ra mà cười. Tiếp đến tượng Thập Bát Kim Cương và trăm linh tám vị La Hán cỡ lớn bằng người thật. Thập Bát Kim Cương đứng theo mười tám thế võ của bài Kim Cương lôi quyền. Trăm linh tám vị la hán cũng vậy, mỗi pho tượng biểu danh một thế võ, họp lại thành bài La Hán quyền, một bài võ danh nổi tiếng của chùa Thiếu Lâm tự. Tượng hai ông Thiện, Ác đặt ngay bên hiên rộng lớn Đại Hùng bảo điện. Phía trong bảo điện, là khu thờ đức Đạt Ma sư tổ. Tượng đức Đạt Ma tham thiền cao bảy thước sơn son thếp vàng. Một bên bày linh vị sư trưởng, một bên linh vị chư tăng.

Tam Quan xây toàn thạch. Trên tầng thứ nhất bắc ngang hai cây xà bằng gỗ súc chịu được sức nặng của mỗi cái chuông lớn cao mười hai thước nặng ngàn bốn trăm cân. Chuông này có bốn núm vú. Khi đánh chuông, bốn vị tăng phụ trách khu Tam Quan phải dùng bốn chiếc chầy bằng cây, đầu bịt da treo thòng từ xà nhà ròng xuống lần lượt dộng vào trái chuông khổng lồ ấy. Tiếng chuông vang động quanh vùng, dội khắp trong dãy núi Thiếu thất, Thái thất vang đến tận Đăng Phong huyện và các thôn ở quanh vùng.

Tam hiệp vào đến Thiếu Thất sơn bèn rẽ ngựa lên núi. Đi tới đâu, Âu Dương Nữ giải thích tới đó cho Lam Y và Chu Đức Kiệt nghe. Đường núi đi vòng. Khi sang tới hướng Nam, Âu Dương Nữ chỉ tay mà rằng :
- Hiền huynh và cô muội coi kìa. Mặt nước sáng như gương kia là Lạc Nhạn đầm. Mỗi mùa thu, đứng trên núi trông bày nhạn bay qua rồi bỗng nhiên chúng nhào xuống mặt đầm, quả là một cảnh hiếm có.

Chu Đức Kiệt hỏi :
- Có con nào lên được không?
- Hiền huynh biết rằng chiếc nhạn khi bay thì hai cánh thả xuôi, như cánh chiếc tên thành thử chúng lao đầu xuống nước sâu quá bị ngụp mất tới quá nửa.
- Nhạn là giống sơn điểu không chịu nước, những con nào bay lên được. Rốt cuộc chẳng được bao xa, và nhào nữa để chẳng bao giờ lên được nữa.

Lam Y vui vẻ ròn rã :
- Chúng ta lên Thiếu Lâm tự trúng mùa, chắc sẽ được xem cảnh lạc nhạn.
Âu Dương Nữ gật đầu :
- Phải đó! Chúng nhằm mùa này đây.

Ba người thủng thẳng buông lỏng cương ngựa ngắm cảnh sắc tuyệt vời, lòng nhẹ lâng lâng thoát tục.

Lam Y nói :
- Mỗi chuyến gặp cảnh đẹp đăng sơn, ngu muội cảm thấy sung sướng thư thái và chẳng quên được kỷ niệm xưa. Rừng cây bạt ngàn, đá núi chênh vênh nhắc lại cả quãng đời ấu xa nhà giữa chốn sơn cao vực thẳm, phần nhớ cha, anh, phần lo thân thế. Cũng may Đức Võ thúc thúc chăm lo cho như một người con, vừa khuyên bảo, vừa truyền nghệ mới nguôi được sầu hoài hương, thọ đạo chuyến đầu suốt sáu năm trường đằng đẵng.

Chu Đức Kiệt thở dài :
- Ba năm nay xa cách quê hương, phần mộ song thân đã đành có người trông nom hương khói, nhưng tâm can vẫn thắc mắc không khuây.

Âu Dương Nữ cảm động khi nghe anh em họ Chu nhắc nhở chuyện xưa mà chẳng khỏi cạnh lòng phận gái rồi đây theo chồng, xa cách song thân, gia đình Nam Bắc xa xôi.
Nhát nhìn thấy Âu Dương Nữ chiêu đăm, Lam Y biết câu nàng vừa nói ảnh hưởng, xúc động cô gái họ Âu Dương.

Nàng tươi cười nét mặt cười vang :
- Gớm, mới có thế mà hiền tẩu đã chạnh lòng mất vui! Chúng ta là khách giang hồ, nay đó mai kia thì sự xa xôi, chẳng thành vấn đề. Khi cần gặp cứ đi là tới, lo gì? Thời gian hoàn toàn trong tay ta mà.
Bị đoán trúng tâm lý, Âu Dương Nữ hơi đỏ mặt, bắt chước Lam Y cười ròn rã vui vẻ như thường. Nàng nói :
- Chuyến này khi rời Yên Kinh, chúng ta về Bình Dương huyện và thăm thú đất Sơn Đông.
Chu Đức Kiệt âu yếm nhìn Âu Dương Nữ, nhưng vội quay đi ngay vì bốn mắt vừa gặp nhau trong khoảnh khắc.

Lam Y sung sướng nhìn hai người. Đó là ước vọng của nàng. Bao lâu nay, nàng ao ước dòng họ nhà nàng có người nối dõi. Mộng đó giờ đây đã gần thành hiện thực. Lam Y nói lớn như muốn xua đuổi nét buồn khoảnh khắc vừa bao phủ ba người.
- Chà! Toàn thể gia đình là chúng ta đây, luôn có nhau mà, buồn cái nỗi gì!

Dứt lời, nàng cười vang khiến hai người cũng cười theo. Ba người đi tới hướng Bắc đến một khu quang đãng trông thẳng Thái Thất sơn. Âu Dương Nữ xuống ngựa, buông cương thả cho ăn cỏ quanh đó. Lam Y, Chu Đức Kiệt hành động theo. Gần đấy có mấy gốc lão tòng hình thế tuyệt đẹp. Tam hiệp ngồi lên tảng đá lớn bên gốc tòng. Âu Dương Nữ chỉ định trơ đá của Thái Thất sơn mà rằng :
- Hiền huynh và cô muội hãy nhìn kỹ xem giống hình gì?
Anh em Chu gia ngắm kỹ giây lát, không ai bảo ai mà cùng nói :
- Sọ người!

Âu Dương Nữ gật đầu :
- Phải đó. Và đám mây trắng che phủ hẳn phía trên giống thứ gì?
Lam Y nói ngay :
- Giống hệt mớ tóc trắng xóa dính trên đỉnh sọ người.

Bởi vậy đỉnh ngọn Thái Thất sơn có tên là Hoa Cái phong. Đứng đâu cũng nhận ra nếu không đứng nguyên chỗ này. Dù rằng đứng ngay trên đỉnh Thiếu Thất sơn, cũng nhìn về một phương hướng như chúng ta đang nhìn đây cũng không thể nào nhận thấy Hoa Cái phong, ngoại trừ riêng một chỗ này. Thế mới lạ chứ?
Trong cuốn Cổ thư của riêng phái Thiếu Lâm tự truyền lại từ ngày thành lập chùa do các vị Sư trưởng giữ, truyền từ đời nọ cho đời kia có ghi rằng phía dưới Hoa Cái phong hướng Tây bắc có Tiên Cô động lấp sau rừng cây.
Hồi nãy mới ra khỏi Đăng Phong huyện, ta có cảm tưởng như rừng cây chỉ mọc dưới chân Thất Sơn. Nhưng bây giờ khác hẳn, đứng đây, ta thấy rừng cây lan tràn lên tới gần Hoa Cái phong.

Chu Đức Kiệt nói :
- Hiền muội nói phải. Vì từ phía Đăng Phong huyện, tầm mắt bị toàn thể Thiết Thất Sơn che lấp, người ta chỉ thấy có Hoa Cái phong nhô lên qua Thiếu Thất, nên tưởng như không có cây mọc bên Thái Thất, nhưng Tiên Cô động có gì?

Âu Dương Nữ lắc đầu :
- Đạt Ma sư tổ ghi sơ lược về Tiên Cô động trong cuốn Cổ thư nhưng cho đến nay chưa có vị Sư trưởng nào chú thích thêm điều gì về ải động ấy cả, tuy rằng có tổ chức đăng sơn tìm kiếm.
Rừng cây chi chít, rễ cây đan vào nhau chằng chịt lẫn gai, lá cây dày đặc, càng vào sâu càng tối om không còn biết Đông, Tây, Nam Bắc là đâu nữa có lẽ Tiên Cô động bị cây lấp lối đi rồi nên không ai thấy. Hoặc giả là không có chăng?

Chu Đức Kiệt không chịu :
- Đã ghi trong Cổ thư là chuyện đại, nhất là do Đạt Ma sư tổ ghi chép đâu phải chuyện chơi? Không thể nào không có được.

Âu Dương Nữ nói :
- Về Tiên Cô động, năm thứ hai đời Nguyên Võ Tông, vị Huyền Không sư trưởng thời ấy có ghi một đoạn như tiểu muội kể đây.

Năm Võ Tông đệ nhị nguyên niên, có một vị đạo sĩ không biết là bao nhiêu tuổi, đạo hiệu Khinh Hạc, da đỏ bóng lên như trái táo, cao lênh khênh lên Thiếu Lâm tự ngủ nhờ một đêm.

Sáng hôm sau, Khinh Hạc đạo sĩ hỏi thăm Huyền Không sư trưởng lối sang Thái Thất sơn.

Sư trưởng nhìn đạo sĩ hồi lâu :
- Đạo trưởng sang Thái Thất làm gì?
Khinh Hạc điềm nhiên đáp :
- Bần đạo phảng phất mê thấy có vị tiên cô bạch y dẫn đường vào động trong Thái Thất nên muốn vào đó thăm thử xem sao.

Huyền Không sư trưởng mỉm cười khuyên vị đạo sĩ nên bỏ ý định đó đi.

Khinh Hạc hỏi :
- Bần đạo chỉ yêu cầu Sư trưởng cho biết hai điều. Thứ nhất, bên Thái Thất sơn có Tiên Cô động hay không? Thứ nhì lối vào Thái Thất?

Huyền Không chăm chú nhìn đạo sĩ y thể một quái nhân :
- Tiên Cô động hữu thanh nhưng vô hình, bần tăng khuyên đạo trưởng bỏ ý định khám phá đó đi.
- Tại sao Sư trưởng không muốn bần đạo tìm hiểu?
- Đạo trưởng nên biết rằng hiện thời người đang đứng trên phần đất Thiếu Lâm tự, Thái Thất thuộc phần Tung Sơn, Thiếu Lâm tất bần tăng hiểu vụ Tiên Cô động hơn ai hết.

Khinh Hạc đạo sĩ cứng cổ :
- Vị tất! Nếu hiểu hơn ai hết thì phải biết Tiên Cô động.

E Khinh Hạc đạo sĩ không hiểu ý nghĩa câu mình nói, Huyền Không sư trưởng giảng giải:
- Bổn tự đã tổ chức nhiều lần thám thính. Không những hiện đại mà ngay từ các thời đại trước cũng đã có những cuộc thám hiểm tương tự như vậy, rút cuộc vô hiệu quả và còn tai hại là khác nữa. Bởi vậy, bần tăng khuyên Đạo trưởng đừng cố công vô ích.
- Đoàn tổ chức có những ai?

Huyền Không sư trưởng mỉm cười :
- Nhân viên thám hiểm toàn bộ là “người của Thiếu Lâm tự”.
- Đại sư quên không nói thám hiểm gì mới được chớ?
- Thám hiểm Tiên Cô động.

Khinh Hạc tươi hẳn nét mặt :
- A! Nếu vậy cái kỳ động ấy không còn ở trong khu vực “giấc mơ” mà là việc có thật rồi.
Huyền Không bực mình :
- Cả đoàn thám hiểm Thiếu Lâm suốt bao đời nay còn chẳng đạt nổi kết quả tốt nữa là Đạo trưởng đơn thân xông xáo? Bần tăng chỉ biết khuyên như vậy, nếu Đạo trưởng khăng khăng mực không ngại hiểm nguy thì xin cứ việc tiến hành.

Khinh Hạc đắc chí cười ha hả :
- Một việc hữu hình như thế, lại thêm có Bạch y tiên cô thỉnh tay lẽ nào bần đạo bỏ cho được! Vậy xin Sư trưởng vui lòng chỉ lối vào Thái Thất.

Huyền Không thiền sư trả lời :
- Đạo trưởng quyết tâm đi lẽ nào bần tăng giữ mãi! Vậy hãy vui lòng nán lại chốc lát để bần tăng kịp sửa soạn lương khô thân tặng. Rừng hoang dày đặc, đạo trưởng phải đem theo các dụng cụ cần thiết chớ.
- Sư trưởng đã có tâm giúp đỡ, bần đạo vui lòng nhận lương khô. Còn dụng cụ thì chỉ xin lãnh một thanh đoản đao.

Huyền Không thiền sư hối tiểu tăng lấy lương khô bầu nước, đá lửa, một cuộn đuốc và một thanh giới đao, đích thân đưa tặng Khinh Hạc mà rằng :
- Một lần cuối, bần tăng tha thiết mong đạo trưởng bỏ ý định vào Thái Thất sơn. Nên nhớ rằng đây là một trong năm ngọn núi cao nhất Trung Nguyên.

Khinh Hạc lãnh tặng vật và thay vì câu trả lời, đạo sĩ hỏi đường vào Thái Thất sơn.
Huyền Không thiền sư đành dẫn Khinh Hạc đạo sĩ ra phía sau núi chỉ đường qua Lộng Nguyệt hồ vào Thái Thất sơn.
Sư trưởng Thiếu Lâm tự tiễn biệt đạo sĩ như thể tiễn một người đi không bao giờ về nữa.

Người dặn với :
- Nếu Đạo trưởng bị trở ngại, cứ trở về đây nhé.
Khinh Hạc vẫy tay chào đi thẳng. Huyền Không có ý chờ, một ngày, hai ngày, ba ngày, tưởng thế nào vị đạo sĩ kỳ dị ấy cũng thoái chí trở về, chẳng dè Khinh Hạc đi biệt tích. Muốn tránh thắc mắc, Huyền Không tổ chức các môn đồ theo người đi kiếm lục lạo khắp những nơi mà chân người có thể len lỏi tới được.

Nhưng vô hiệu, Khinh Hạc hoàn toàn mất tích. Một số người trong chùa đồ rằng có lẽ Khinh Hạc là một vị đại tiên đã tìm thấy Bạch y tiên cô ngộ đạo thiệt thọ chăng. Trái lại, một số đồng ý với Thiền sư cho rằng thám hiểm Tiên Cô động chỉ là một ảo ảnh. Khinh Hạc đã chết bỏ xác trong rừng hoang rồi. Thuyết nào cũng có nghi vấn và câu chuyện Khinh Hạc chìm lắng trong lịch sử Tiên Cô động của nhà Chùa.

Anh em Chu gia nghe Âu Dương Nữ kể chuyện xong vị đạo sĩ kỳ dị vào Tiên Cô động lấy làm ngậm ngùi, không biết phê bình ra sao cả.
Lam Y hỏi :
- Từ ngày ấy không còn vị nào thám hiểm Thái thất sao?

Âu Dương Nữ lơ đãng nhìn lên Hoa Cái phong, chậm rãi :
- Có chứ! Một vụ thám hiểm do người ngoài tổ chức sau vụ Khinh Hạc đạo sĩ ngót hai năm sau.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Và chuyến này nhân viên đoàn thám hiểm cũng là giới đạo mơ Tiên?

Âu Dương Nữ lắc đầu :
- Không. Gọi là đoàn thì quá đáng vì họ chỉ có... hai người, và hai người thường không thuộc đạo, giáo nào cả. Họ gốc người Quảng Chi di cư lên Tuyền Châu đã lâu năm, sau lại vào Tân Mật huyện, giáp ngọn Thái Thất sơn. Cả hai cùng trạc tam tuần trang phục theo lối võ trang khỏe mạnh.

Một người họ Lý tên Thành, còn người kia là Vương Đắc Thông. Lý Vương rủ nhau lên Thiếu Lâm tự xin phép Huyền Không thiền sư cho thám hiểm Thái Thất sơn Tiên Cô động. Thiền sư từ chối:
- Bần tăng không muốn cấm ai hỏi, song rất tiếc không thể làm hài lòng nhị vị.

Vương Đắc Thông phản đối :
- Trước kia, Sư trưởng còn thuận cho Khinh Hạc đạo sĩ vào Thái Thất sơn thám hiểm, lẽ nào chúng đệ đủ dụng cụ đăng sơn, địa bàn phong đăng, lương thực cần thiết mà Người từ chối ư?

Thiền sư nhất quyết lắc đầu :
- Chính vì bần tăng quá nể Khinh Hạc nên việc y mất tích ngày nay còn nặng nề trong tâm. Nếu hồi ấy bần tăng cương quyết như lúc này, có lẽ Khinh Hạc đạo sĩ còn sống. Thôi bỏ ý định điên rồ ấy đi kẻo lợi bất cập hại.

Biết cố nài nỉ cũng vô hiệu quả, Lý Thành, Vương Đắc Thốn đành ra về nhưng không thể bỏ được tánh hiếu kỳ ấy, hai người bèn sửa soạn dụng cụ đăng sơn thiệt đầy đủ lẻn vào chân núi Thái Thất, cố len lỏi vòng ra phía ngoài Lộng Nguyệt hồ là nơi có đường leo lên ngọn núi ghê gớm, đầy vẻ bí mật ấy. Đi vòng chân núi từ phía Tân Mật huyện vào đến gần Lộng Nguyệt hồ cũng hết trọn một ngày rồi. Sáng hôm sau, Lý, Vương khởi sự vào rừng, quyết khám phá kỳ được Tiên cô động.

Đến xế chiều, hai người thất thểu ra khỏi rừng, quần áo rách bươm, mày sứt đầy máu, đầu tóc rối bù, diện mạo phờ phạc. Họ lê bước vào chân ngọn núi Thiếu Thất, mệt quá đi không nổi nữa và té gục ngay ở đó.

May thay, vừa lúc đó có mấy tăng đồ ở rìa núi Thiếu Thất trông thấy một người thất thểu đi qua Lộng Nguyệt hồ liền chạy vào báo cho Sư trưởng. Huyền Không vội chạy ra xem, nhưng vì cao quá, không thể nào nhìn rõ được. Hai người chỉ là hai chấm nhỏ li ti lúc chuyển lúc ngừng trên thảm cỏ xanh rờn bên Lộng Nguyệt hồ.

Xưa nay, nếu có người đi qua con đường nhỏ từ Thiếu Thất sang tất phải qua Thiếu Lâm tự và phần nhiều là du khách, sau khi phương tiện đường xuống phía sau chùa mới ra được Lộng Nguyệt hồ.

Thắc mắc, thiền sư liền phái ba tăng đồ bản lãnh đã khá cao rồi xuống xem. Ba người này chuyền thẳng xuống núi theo đường tắt, vừa tới nơi thì đúng lúc Lý Thành, Vương Đắc Thống kiệt sức té khuỵu xuống đó. Họ bèn cõng hai người lên Thiếu Lâm tự. Xuống dễ, lên khó, gia dĩ lại hai người, mãi tối mịt mới về tới chùa.

Thiền sư nhận ra Lý, Vương là hai người đã có lần lên núi xin phép được thám hiểm Thái Thất. Biết rằng họ đã trộm phép mình tự ý thực hiện chương trình đăng sơn, nhưng không hiểu họ đã làm thế nào lần mò được lên chân ngọn núi Thái Thất vì phải công phu lắm mới đi vòng được lối huyện Tân Mật. Thiền sư cho đồ đệ đem họ vào phòng dùng thuốc cấp cứu ở trên chùa ba ngày mới lành mạnh.

Lý, Vương thoát chết lên Phương trượng lạy tạ Thiền sư và thú thật cuộc phiêu lưu mạo hiểm đăng sơn. Thì ra, họ cố len lỏi qua rừng cây gai góc dầy đặc, luôn tay chặt, phát lấy đường đi. Càng vào sâu cành lá càng rườm rà tối mịt không còn chút ánh sáng, nhưng nhờ có ngọn phong đăng, họ cố tiến. Bất đồ đi tới một nơi đá mọc thẳng lên theo thế bích lại chắn ngang lối đi. Tuy có ngọn phong đăng chiếu sáng, nhưng sức sáng không đủ tỏa lên cao, Lý Thành, Vương Đắc Thống bảo nhau là đã tới chân núi rồi, nay chỉ còn việc... leo cao. Hai người nghỉ ngơi chốc lát và sát đầu bám vào thành đá leo lên. Đá rêu trơn như mỡ, cố leo lên được vài thước lại tụt xuống như trước.

Lý Thành bảo họ Vương :
- Đi vòng xem sao, tất sẽ gặp lối thoát dễ đi hơn.

Thì ra, đấy chỉ là tảng đá lớn mọc ở giữa đám cây chằng chịt, sức sáng phong đăng soi không thấu nên họ tưởng là đã tới chân núi. Đi vòng hồi lâu mới thoát qua tảng đá đó. Len lỏi không bao xa, họ gặp tảng đá thoai thoải dốc, dễ trèo hơn. Chuyến này, kinh nghiệm hơn Lý, Vương bảo nhau đi vòng tìm đường. Mãi cũng không thấy đường nào khác, mà kim địa bàn thì cứ chỉ thẳng về phía tảng đá ấy.

Vương Đắc Thống bảo họ Vương :
- Đây là chân núi rồi, đăng sơn thôi.

Hai người lại hì hục leo, được độ hơn một trượng, rêu trơn quá. Lý Thành ở trên té trước chạm phải Vương Đắc Thống theo sau, nên cả hai cùng lăn xuống mặt rừng. Ngọn phong đăng rớt theo tắt ụp tối mò.
Lý, Vương hoảng sợ, quờ quạng lần mò tìm mãi mới thấy.

Đánh lửa đốt phong đăng, hai người nhìn nhau lắc đầu, thoái chí.

Vương đắc Thống nói :
- Lý đại ca ơi, thôi, kẻo mục xương trong này mất.

Lý Thành nhìn bạn, y phục may bằng thứ vải dày đến thế mà rách tả tơi vì bị gai rừng móc thủng, chân tay sứt sát, rớm máu. Nhìn lại mình cũng vậy. Họ Lý rút trong bọc ra lấy ve thuốc bôi vào các vết thương cho bạn và mình.

Khí núi, hơi rừng ẩm ướt lạnh thấu xương. Tiếng thú lạ lùng, gớm khiếp từ từ phía vọng tới, khiến hai người có cảm tưởng như đang sống giữa địa ngục trần gian.

Nghỉ xả hơi, Lý Vương thất thểu len lỏi trong đường cũ trở rêu. Chẳng dè vừa đi được một quãng, thì bỗng nghe tiếng ào ào trên vòm lá gần đó. Cả hai cùng nghĩ bụng: “Quái, không gió sao lá cây động mạnh!”.

Sắc diện tái mét, Lý Vương cố nhận xét mới thấy một khúc mình con trăn lớn bằng thân cây nhỏ đang trườn trên cành cây... Thôi không ai bảo ai, hai người chạy bừa trở ra bất cần gai góc, văng mất cả đồ lề, vật dụng. Cũng may chạy đúng đường, hai người ra thoát khu rừng đen tối, kinh khủng! Thở hồng hộc, Lý Vương cố chạy một quãng ngắn nữa mới lăn cả ra mặt đất nằm đại hồi lâu, mới dắt nhau lần về phía Thiếu Thất sơn... Thiệt ra, Lý Thành, Vương Đắc Thống không đi được bao xa. Những tảng đá mà họ cố leo đó là thứ đá mọc ở rừng sâu chớ làm chi đã vào được tới chân Thái Thất. Trái núi này tứ phía vách đá bích lập không có lối lên, riêng từ hướng Lộng Nguyệt hồ đi tới, đứng xa trông thấy sườn núi thoai thoải khả dĩ đăng sơn được, thì lại vướng u lâm nguy hiểm.

Lam Y lơ đãng nhìn Thái Thất sơn, nàng nói :
- Đạt Ma sư tổ đã nói tới động Tiên Cô tất phải có, lẽ nào người chỉ một việc vu vơ ảo ảnh.
Chu Đức Kiệt gật đầu :
- Trải bao thế kỷ, cây rừng lan tràn lấp hẳn cửa động. Bây giờ, muốn kiếm ra, ít nhất phải đốt phá hết cây rừng. Trong trái núi cao lớn, hùng vĩ nhường kia, tìm cửa động quả thiệt vạn nan.

Bỗng chàng ngừng nói, lắng tai nghe. Lam Y cũng vậy.

Một tiếng chuông vang liên tiếp chấn động cả một vùng. Tiếng đó kéo dài, rền rĩ lịm dần trong gió thổi phần phật tung cả những khóm lá thiết mộc dày đặc. Lam Y ngơ ngác.

- Trên chùa đánh chuông chăng? Chuông lớn lắm hả tiểu muội?
Âu Dương Nữ lắc đầu :
- Không. Trên Tam Quan có chuông lớn thiệt, nhưng những hồi chuông bình minh hay thu không âm thanh ấm áp, truyền cảm nhẹ lâng lâng như ru hồn thế nhân.

Trái lại tiếng vang vừa rồi khởi đầu như núi đổ thác gầm, sau lại rền rĩ oán than tựa muôn vạn tiếng khóc vọng phu... Đó là tiếng sóng hồ lùa vào hốc đá bên phía bắc Thái Thất sơn.

Nguyên phía ấy, núi Thái Thất có một cái hồ diện tích có tới trăm mẫu. Nước ăn vào chân núi thành hang rộng, hốc sâu. Nhưng buổi êm trời, gió yên sóng lặng, mặt hồ trong vắt tựa khối pha lê. Nhưng gặp cơn gió lốc, đột nhiên sóng bốc cao, dồn vào hang núi ầm ầm như muôn vạn chuông khánh gõ vang khua động toàn khu. Khi sóng rút ra khỏi hang, không khí bị dồn ép trong hang cuộn theo bật lên tiếng rền rĩ oán than như chúng ta vừa nghe thấy.

Kìa, hiền huynh và cô muội coi kìa, gió còn lùa mạnh xào xạc trong khóm lá, bởi đây là chút dư phong từ phía Thái Thất lọt về đấy.
Bởi vậy người ta mệnh danh vùng nước bạc bên Thái Thất là Thạch Chung hồ.

Nghe Âu Dương Nữ giảng giải rõ rệt, tỉ mỉ về toàn khu Tung Sơn Thiếu Lâm tự, anh em Chu gia thấy quý mến nàng thêm về đức tánh chịu khó sưu tầm tìm hiểu. Nàng quả xứng danh là một cao đồ Thiếu Lâm phái.
Tam hiệp lên ngựa tiến bước, không bao lâu tới mộït ngọn suối róc rách chảy. Trong lòng suối ngâm đầy những khúc thiết mộc đủ cỡ.

Âu Dương Nữ chỉ những khúc cây ấy mà rằng :
- Những khúc cây này ngâm trong nước cho tới khi nào vỏ cây mục ra hết mới được Thiền sư cho đem về chùa tạc khí giới. Dùng ngọn Hồng côn nhẹ nhàng, đằm tay hơn các thứ côn khác nhiều, hơn hẳn Thiết côn một điểm.

Ba người vượt qua thạch kiều rẽ sang tay hữu đi vào khu vực tam quan thì vừa gặp hai vị tăng đeo mỗi người một bọc hành lý đi tới.

Đó là Khinh Thanh và Kỳ Dương Tăng. Nhận ra người quen, hai vị tăng đó dẹp vào bên đường chắp tay vái chào. Kỳ Dương Tăng nói :
- Mô Phật. Âu Dương tiểu thư chuyến này về Thiếu Lâm có một mình sao?

Tam hiệp xuống ngựa đáp lễ. Âu Dương Nữ nói :
- Mô Phật. Gia phụ và gia huynh mắc bận không về Tung Sơn được. Đây là Chu gia Bắc Hiệp. Sư trưởng có nhà không?
- Thưa có, hồi nãy Người nhắc tới Âu Dương lão bá luôn. Mời nhị vị và tiểu thư vào chùa, anh em bần tăng phải xuống Đăng Phong huyện tụng kinh bên Đằng gia trang.

Tam hiệp cúi đầu tiến bước. Chờ ba người đi khỏi, hai vị tăng mới tiếp tục xuống núi.
Qua tam quan, Âu Dương Nữ dẫn Lam Y, Đức Kiệt theo lối đi vòng sang bên tả vào phía sau chùa cho ngựa vào tầu giao cho hai tiểu tăng phụ trách khu ấy, rồi mới đeo hành lý lên thẳng thiền phòng.
Các tiểu tăng và môn đồ đều niềm nở chào hỏi.

Một người nói :
- Sư trưởng hiện đang ở sân giữa, mời ba vị tới đó.
Lam Y, Đức Kiệt theo Âu Dương Nữ đi vòng vào, qua mấy dãy nhà dọc tới sân lớn Chiêu Đức thiền sư ngồi xếp bằng tròn trên phiến đá bên gốc cổ tùng cực lớn, bóng tỏa mát giữa sân. Thiền sư thấy có cả anh em Chu gia cùng đi với Âu Dương Nữ liền đứng lên. Tam hiệp tiến tới lạy chào, thiền sư đỡ dậy, nói với anh em Chu gia :
- Chẳng mấy khi nhị vị hiền điệt qua chơi hân hạnh cho bổn tự biết nhường nào. Mời về phòng cất hành lý đã. Bần tăng chờ trên khách sảnh.

Nói đoạn, Chiêu Đức vỗ tay gọi tiểu tăng truyền lệnh sửa soạn phòng ốc cho ba người mới đến. Lát sau, Tam hiệp lên khách sảnh ngồi hàng dưới, hầu Thiền sư.

Chiêu Đức hỏi thăm Trại Mạnh Thường, Âu Dương Nữ thong thả trình bày mọi sự và nói luôn việc Minh Thành tổ tứ hôn Âu Dương Tòng Đức và Nhạc Lan Anh.

Thiền sư hân hoan :
- Tiếc quá, bần tăng không tiện dịp đi hội. Yên Kinh ở xa, không thể mỗi lúc rời chùa đi được.

Âu Dương Nữ đưa trình phong thư của Trại Mạnh Thường :
- Thưa sư phụ, trước khi khởi hành lên Bắc, phụ thân con có thiết đãi tiệc kính mời sư phụ thế nào cũng lên Tô Châu chủ lễ.
Thiền sư đón cây phong thơ mở ra xem, đoạn hỏi :
- Đức Võ Thượng Nhân không về dự sao?

Lam Y thưa :
- Gia thúc trước khi vào Côn Luân có dặn rằng sẽ cố về cho kịp đại lễ ở Tô Châu. Đệ tử tính ngày đi chắc thế nào cũng về trước ngày khởi lễ.
- Ba vị hiền đồ vãng cảnh chùa ít ngày rồi về trước sửa soạn, bần tăng sẽ đi sau. Nhân đây có hai món tặng vật mừng vợ chồng Tòng Đức và Chu Hiệp cùng Âu Dương hiền đietä, xin vui lòng nhận trước, tập luyện cho quen sử dụng.

Tam hiệp ngơ ngác không hiểu món tặng vật gì kỳ lạ phải tập luyện sử dụng ngay tại chùa.
Thiền sư biết vậy mỉm cười, đi thẳng về thiền phòng. Lát sau, Người cầm ba chiếc túi vải đỏ đựng một vật gì dài hơn cánh tay đặt lên trên án kêu đánh “cộp” một tiếng.

Thiền sư mở miệng túi rút ba cây đồng giản bóng loáng, mỗi cây một kiểu: vuông, lục lăng, chín đốt.
Người nói :
- Thứ giản này do bần tăng mới chế ra và tạo thành. Sau hai năm nghiên cứu, sự sử dụng hiện thời thập phần hoàn hảo. Giản này còn một kiểu bát giác, dành cho Tòng Đức. Trong ba cây trên án đây, hai cây là tặng vật nhân dịp vui mừng của Âu Dương hiền điệt cùng Chu đại hiệp. Cây thứ ba, bần tăng thân tặng Lam Y nữ hiệp để đánh dấu cuộc viếng thăm Thiếu Lâm tự lần thứ nhất.

Bây giờ tùy ý ba hiền điệt lựa chọn, bần tăng sẽ giảng giải sau, ba cây cùng một hiệu lực, chỉ khác nhau về hình dáng.

Âu Dương Nữ vui vẻ hai tay nưng ba thanh đồng giản hình thức cực kỳ trau chuốt, đồng cân lượng, đưa đến trước mặt Lam Y :
- Mời cô muội lựa trước.

Lam Y cười mà rằng :
- Thứ gì hiền tẩu cũng nhường, y hệt tánh cách hiền huynh như vậy.

Chiêu Đức thiền sư vui lây :
- Dĩ nhiên, huynh tẩu bao giờ cũng nhường cô muội, nhất là vị cô muội ấy lại là Lam Y.

Lam Y đứng lên vái Thiền sư :
- Đại sư ban cho, đệ tử xin bái lãnh.
Nói đoạn, nàng lựa cây chín đốt, xoay đi, xoay lại xem thấy đúc một hàng chữ chìm ở cán giản: “Liên Khúc Cửu Châu”.

Âu Dương Nữ đến trước mặt Chu Đức Kiệt. Chàng đứng lên bái tạ Thiền sư, rồi lựa cây lục lăng đưa lại Âu Dương Nữ, còn chàng cầm lấy câu giản vuông.

Tam hiệp ngắm nghía ba cây giản. Đầu giản có ba lỗ nhỏ bằng đầu đũa, đầu giản có bốn nút, một chính giữa, ba nút ở bên đều đặn thành hình tam giác. Cây giản của Âu Dương Nữ có khắc dòng chữ: “Liên Châu Lục Lăng Đồng Giản”. Cây giản của Chu Đức Kiệt khắc: “Liên Châu Phương Đồng Giản”. Lam Y hỏi Chiêu Đức thiền sư :
- Bạch sư trưởng, cách sử dụng liên châu giản như thế nào?

Thiền sư đón lấy cây Liên Khúc Cửu Châu của nàng mà rằng :
- Ba vị hiền điệt coi kỹ. Trong lúc giao tranh, sử dụng thứ giản này vẫn mạnh mẽ như các thứ giản thường ngày. Duy trong lúc cấp bách, giản liên châu có công dụng như cây: “Đồng Sang: súng đồng” đáng lẽ bắn bằng đạn thì ta bắn bằng thứ tên nhỏ xíu như đây.

Thiền sư lấy trong tay áo cà sa ra một hộp đựng đầy tên nhỏ, cật bằng đồng lớn hơn chiếc trâm gài tóc dài độ hơn một tấc, để lên án thư. Người lấy ba mũi tên bỏ vào ba cái lỗ ở đầu giản, vỗ vào chân giản mấy cái cho tên tuột hẳn vào trong. Đoạn, Thiền sư đưa ngón tay cái bấm vào nút giữa, và xoay nút đó sang bên hữu nghe “cách” một tiếng Như thế này, ba mũi đã vào đúng ổ của nó trong cán giản rồi, sẵn sàng để bắn và trong lúc giao đấu, người dùng thứ giản tha hồ quật vụt không sợ tên văng đi mất. Nếu muốn bắn, cứ bấm ba cái nút nhỏ này. Bắn mũi một hay bắn “liên châu” cũng được.

Lam Y hỏi :
- Bạch sư trưởng sức mạnh của mũi tên bao xa?
- Trong vòng hai mươi bước, sức mạnh của mũi tên dù gần xa vẫn nguy hiểm như thường. Cơ quan đặt trong cán giản rất giản dị chắc chắn, không bao giờ hư được. Bần tăng thử lại đi thử lại nhiều lần bằng quất giản vào thân cây trai liên tiếp cả trăm cái thiệt mạnh, mà sức phát tên vẫn điều hòa như ý muốn.
Âu Dương Nữ nói :
- Thưa sư phụ, liên châu giản này nặng tới mười lăm cân?
Thiền sư gật đầu :
- Đúng mười lăm cân, không hơn, kém. Thứ đồng này được lọc rất kỹ không bao giờ bị lan. Chất lan đã được lọc hết. Hãy coi lối phát tên!

Nói đoạn, Thiền sư cầm giản đứng lên ra giữa sảnh hoa lên mấy vòng, rồi bất chợt bắn luôn một phát tên nhằm lưng chiếc ghế bằng gỗ thường dựng trong góc sảnh.
Mũi tên phát lại cắm phập vào lưng ghế sâu tới một đốt ngón tay. Người bắn luôn hai phát liên châu nữa, cũng vậy.
- Ba vị hiền điệt coi. Cách sử dụng giản dị lắm. Thử xem sẽ biết!

Thiền sư trao cây cửu khúc trả Lam Y. Tức thì, Tam hiệp nạp tên vào giản theo cách thức Thiền sư vừa chỉ bảo và lần lượt bắn thử vào lưng ghế, đoạn đến cả đó xem. Sức cắm sâu của từng mũi tên một đều đặn như nhau.

Thiền sư lần lượt rút bật cả mười hai mũi tên nhỏ ra, mũi nào cũng thẳng tắp không hề bị cong veo. Người cầm cây giản của Đức Kiệt tháo cái “hoa sen” ngắn cán và thân giãn.
- Các hiền điệt coi. Cán và thân giản có khớp khít khao, khớp này được bao bọc bởi cái hoa sen đầy đặn này thành toàn thể cây giản liền nhau chắc chắn như thể có một khối. Bây giờ, vặn cái khớp này, cán giản sẽ rời hẳn ra và ta trông thấy cơ quan phát tên ở bên trong. Lần đồng đúc bao bọc dầy như thế này, bần tăng cả quyết không khi nào sức gạt đánh trong lúc giao đấu có thể phương hại tới cơ quan giản dị phát tên đặt trong cán giản.

Tam hiệp nhận xét tỉ mỉ, khen thầm cách chế hóa tinh vi liên châu giản của Thiền sư.
Ba người sẵn có căn bản luyện tập nên sử dụng cách thức phát tên được như ý ngay.

Chiêu Đức lấy ba hộp tên khác đưa cho Tam hiệp :
- Mỗi hộp này đựng một trăm mũi tên, các hiền điệt bản lãnh cao siêu, chắc không bao giờ dùng hết. Chỉ cần thỉnh thoảng nhỏ mấy giọt dầu vào trong cán giản cho cơ quan đặt trong đó được trơn, có thế thôi.
Tam hiệp nhận mỗi người một hộp tên và lồng liên châu giản vào túi như cũ.

Âu Dương Nữ là cựu môn đồ quen thuộc rồi không kể. Thiền sư coi anh em Chu gia là nhân vật đã có thành tích giang hồ, là bậc thượng khách của nhà chùa, nên đích thân hướng dẫn đi thăm các nơi trong khu vực Thiếu Lâm tự, giới thiệu với chư tăng và các môn đồ.

Lúc bấy giờ tại Thiếu Lâm tự có hai vị hòa thượng đồng niên tứ tuần, y bát cao hơn cả, bản lãnh cũng đứng vào bậc trưởng tràng. Một vị đạo hiệu là Mã Định tăng, vị kia là Dã Vân tăng. Mã Định lực lưỡng, nở nang như hộ pháp. Trái lại, Dã Vân cao lênh khênh, mảnh khảnh như chiếc hạc, nhưng quắc thước lạ lùng. Hai vị hòa thượng này vẫn thay thế Chiêu Đức thiền sư trong khi người vân du đây đó.

Họ thay phiên nhau mỗi người một tuần trông coi khu vực thuộc thành phần nhà chùa, nghĩa là kinh lễ, truyền đạo cho chư tăng hàng dưới. Hết tuần, họ lại chuyển sang khu vực truyền võ nghệ cho các môn đồ cả tăng lẫn tục bên võ đường hoặc tự lực, hoặc dưới sự kiểm soát của Chiêu Đức thiền sư tùy trong trường hợp.

Cho nên, theo sự nhận định của toàn thể mọi người trong Thiếu Lâm tự thời bấy giờ, Mã Định Tăng, và Dã Vân Tăng là hai người có hy vọng sẽ được thay thế Thiền sư giữ ghế sư trưởng, khi Chiêu Đức tịch, nếu không có vị tăng nào khác vượt bậc.

Vượt được Mã Định và Dã Vân không phải là chuyện dễ dàng mà bất cứ nhân viên nào trong chùa cũng có thể đạt được.

Trước hết, hai hòa thượng này quy y từ nhỏ. Kinh kệ làu thông, đạo hạnh cực dày, đủ tư cách đảm nhiệm một ngôi đại thiền viện.
Về phần công phu, cả hai cùng khổ luyện trên mười năm từ quyền thuật, thập bát ban đến các môn phi hành, khinh thân, nội ngoại công, điểm huyệt đều thâu nhận được đầy đủ.

Nói về công phu khổ luyện, nhà chùa không cứ gì truyền riêng cho các môn đồ quy y với mục đích đào tạo người thay thế Sư trưởng viên tịch. Môn đồ không quy y đủ sức, kiên tâm chịu theo đến cùng bực cũng có thể ở lại chùa cho tới khi nào hoàn toàn thành công, thâu nhận, thực hành được hết các môn, pháp võ thuật. Đạt tới mức độ siêu đẳng này, môn đồ còn phải theo đủ về y khoa, nội y cũng như ngoại y thuộc ngành võ, mới có thể gọi là hoàn toàn.

Sau khi thành đạt, môn đồ không quy y sẽ được hạ sơn tùy ý. Đó là trường hợp của Trại Mạnh Thường Âu Dương Tòng Thiện và các con. Nhiều khi, các môn đồ này phần ở chùa đã lâu, mến cảnh, mến thầy, quy y luôn không huyền tục nữa. Nhưng không phải ai cũng đi tới mức siêu đẳng này. Thường thường các môn đồ không quy y chỉ ở lại chùa trong thời hạn năm, sáu năm, chuyên luyện các môn võ nghệ thực hành, đủ sức tự vệ là đến thời kỳ hết hạn học, xin từ thầy xuống núi về nhà lập nghiệp hoặc ra thi võ làm quan binh, hoặc đi buôn, hoặc mở phiêu cuộc nhận lãnh bảo đảm việc chuyên chở hàng hóa cho khách thương, hoặc mở võ đường thâu nhận học trò. Số môn đồ này không ít, cho nên hàng năm Thiếu Lâm tự tung nổi ra ngoài đời một số người “thuộc phái Thiếu Lâm” thuộc hàng bản lãnh võ sư.

Cũng bởi Thiếu Lâm là “lò” sản xuất võ sư, nên các vị Sư trưởng mới đặt ra cách khảo thí bắt buộc môn đồ nào muốn hạ sơn sau thời gian chuyên luyện võ nghệ thực hành phải qua hàng “Mộc nhân, Mộc mã” mới tới cửa Xuất sơn.

Qua được con đường khảo thí này, Sư trưởng an tâm rằng vị môn đồ hạ sơn ấy ít nhất đủ sức tự vệ, trong khi giao đấu không đến nỗi bị hạ ngay, làm mất tiếng môn phái. Với trình độ qua “Mộc nhân, Mộc mã” môn đồ xuất sơn được liệt vào hạng trên cỡ trung bình, khả dĩ tin cậy được việc “giao tiếp” với các ngươi của môn phái khác. Nhưng họ chưa được liệt vào mức thượng thặng tiêu biểu cho toàn phái Thiếu Lâm. Cách đào tạo luyện môn đồ của các võ phái khác cũng tương tự như vậy, song thường thường các môn phái khác không thâu nhận môn sinh đông như Thiếu Lâm nên cách tổ chức lựa lọc không được quy củ như môn phái này.

Dưới thời Chiêu Đức ở Thiếu Lâm, các võ phái danh tiếng như Côn Luân mà vị Sư trưởng tiền bối là Đức Võ Thượng Nhân tiêu biểu cho toàn thể Bắc phái. Nga Mi, Không Động, Võ Đang, Sơn Đông (tức Bắc Thiếu Lâm) chưa thành lập.
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 2
 
Posts: 295
Joined: Mon Nov 28, 2011 11:46 pm
I am: Professional

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp

Postby Editor 2 » Sun Aug 17, 2014 10:27 pm

Lam Y Nữ Hiệp
Tác Giả: Tề Phong Quân
Dịch giả: Trường Giang Mạnh Vũ

Hồi 41

Tiệc yến linh đình, hiệp khách anh thư phỉ nguyện
Lạc nẻo mai thôn, Tam hiệp rong ruổi hồi hương


Trong thời gian thăm viếng Thiếu Lâm tự, Tam hiệp nhàn rỗi khắp đó đây. Anh em Chu gia nhận xét tỉ mỉ cách thức trong chùa rất lấy làm ưng ý, khen thầm thập phần hoàn hảo.

Năm hôm sau, Tam hiệp lạy từ Chiêu Đức thiền sư và từ giã chư tăng để lên đường. Giữa lúc ấy, thì có viên giáo đầu huyện Đăng Phong với đoàn tùy tòng lên núi yết kiến Sư trưởng Chiêu Đức tiếp Giáo đầu ở phương trượng. Giáo đầu đưa trình Thiền sư một bức công văn :
- Huyện quan đặc phái chúng tôi lên núi vì tánh cách quan trọng của bức công văn, mong Sư trưởng trả lời cho biết ngay.

Không hiểu việc gì, Thiền sư vội bóc công văn đọc, thì ra đó là huyện quan chuyển lời của Nội bộ phủ Bắc Kinh thỉnh Sư trưởng lại Kinh dự vương yến trong dịp Vĩnh Lạc hoàng đế chủ hôn Âu Dương Nữ, Chu Đức Kiệt.

Đọc xong Sư trưởng nói với Giáo đầu :
- Bần tăng sẽ hồi âm và phái người cầm xuống huyện cho đúng lễ.
Giáo đầu từ tạ ra về. Trở lại thiền phòng, Chiêu Đức đưa bức công văn cho Tam hiệp coi mà rằng :
- Bần tăng đã tính chuyện dự tiệc buổi tiệc gia đình tại Tô Châu thôi, chẳng dè có điệp văn đây, tất thế nào cũng phải đi. Vậy các hiền điệt khá về Tô Châu trước nói với sư huynh bần tăng rằng, bần tăng sẽ tới sau, nhé!

Tam hiệp vâng lời, xuống núi nghỉ lại Môn Sinh quán, hôm sau mới ra khỏi Đăng Phong huyện cho đúng độ đường.
Đường tuy xa nhưng vó câu rong ruổi, chẳng bao lâu đã về tới Âu Dương trang. Ba người vào thẳng hậu đường chào Trại Mạnh Thường và phu nhân. Âu Dương Bích Nữ trình bày cho lão anh hùng nghe việc thăm chùa Thiếu Lâm.

Trại Mạnh Thường hỏi Lam Y và Chu Đức Kiệt về vụ giúp Trương Tam Sơn xuống Trường Sa. Hai người kể rõ chuyện đánh thủy khấu ở Lăng Lý giang, xuống Thập Vạn Đại Sơn thăm Võ Đang.
Âu Dương Nữ thấy trong trang nhộn nhịp làm tiệc, lấy làm lạ bèn hỏi Âu Dương phu nhân :
- Mẫu thân hình như nhà ta sử soạn tiệc tùng có việc chi vậy?

Phu nhân mỉm cười, bảo con gái và anh em Chu gia :
- Từ nãy các con về mãi chuyện đường xa nên ta chưa báo cho một tin mừng. Các người có cháu trai rồi đấy, cháu đã được một tháng.
Tam hiệp ngơ ngác nhìn nhau, nhưng cũng phá ra cười ngay vì chợt nhớ rằng vợ Âu Dương Tòng Cát là Phương Tú Kiều có bầu đã mãn nguyệt khai hoa.

Âu Dương Nữ vội hỏi :
- Song thân đặt tên cháu là gì?
Trại Mạnh Thường đáp :
- Tòng Hiển. Ngày mai đầy tháng nó. Các con liệu về phòng thay áo, rồi sang nhà Tòng Cát thăm cháu đi. Tòng Đức ở cả bên ấy.

Tam hiệp vội về tư phòng sửa soạn đoạn kéo cả sang khu nhà riêng của Tòng Cát. Anh em Tòng Cát đang ngồi uống rượu suông thấy ba người đã về thì vui mừng chào hỏi, lấy thêm mấy chiếc ly mời cùng uống.

Tam hiệp chắp tay, hướng về phía Tòng Cát chúc mừng sanh con trai. Giữa lúc ấy, Phương thái thái cho thị nữ ra mời Lam Y và Âu Dương Bích Nữ vào nhũ phòng. Tại đó, có cả Nhạc Lan Anh đang ngồi bên giường Phương Tú Kiều trò chuyện.

Thăm hỏi xong, Lam Y và Âu Dương Bích Nữ mở mùng xem cháu trai. Chú bé Âu Dương Tòng Hiển bụ bẫm, mắt to đen như hột nhãn, tóc rậm, má đen láy, hai chân đạp tung cả chiếc mềm nỉ xuống dưới nôi. Âu Dương Bích Nữ âu yếm vuốt hai má đỏ hồng của chú nhỏ.

Lam Y nhẹ nhàng bồng Tòng Hiển lên tay quấn mền ấm, rồi bế ra khỏi phòng cho Chu Đức Kiệt. Nàng nựng chú nhỏ :
- Ra thúc thúc bế nào, bế để lấy hên nào. Bao giờ thúc thúc có chú nhỏ họ Chu cũng kháu khỉnh như thế này đây?
Đức Kiệt vui vẻ bế Tòng Hiển khen giống cha như đúc. Nhưng chàng chợt bỗng thần mặt ra ngồi im lặng.

Lam Y hỏi :
- Hiền huynh sao vậy?
Đức Kiệt vẫn im lặng, đứng lên. Nước ở trên đùi chàng chảy dốc xuống gạch bông.

Lam Y và mọi người cười vang, hiểu tại sao Đức Kiệt thần mặt im lặng.
Tòng Đức nói :
- Chà, cháu bé láu lỉnh thật! Nhè ngay Chu hiền đệ mà...

Lam Y ngắt lời Tòng Đức :
- Một tí thế đã sao? Càng mau lây... hơi chớ gì...
Nói đoạn, nàng đỡ lấy Tòng Hiển trở vào phòng vừa đi vừa nựng nịu như một bà mẹ... lành nghề. Lát sau, nàng trở ra cùng Âu Dương Bích Nữ rủ Đức Kiệt đánh xe ra Tô Châu mua mấy lễ vật mừng đầy tháng Tòng Hiển.

Hôm sau, Âu Dương trang thết đãi tiệc. Khách khứa đầy nhà, đông đủ cả gia đình Hàn Kỳ, Tam Mã và Địch Lân, vợ chồng Hoài Ngọc, Địch Phượng Tiên, cùng Lâm Diêm Bá. Các người quen thuộc ở Tô Châu cũng không thiếu một ai, duy có các quan trong trấn là không mời vì Trại Mạnh Thường muốn dành việc hiện diện của toàn dinh Tổng trấn đến kỳ thết tiệc thuộc phạm vi vụ cưới Âu Dương Tòng Đức và Âu Dương Nữ.

Sau đó ít ngày, Thiết Xích Tử cùng Thiết Hoàn Tử về tới Âu Dương trang.
Trại Mạnh Thường nói :
- Hai túy tửu vương gặp nhau ở đâu mà lộng hành thế này.
Hồng Trường Hải cười khà :
- Thế mới hay chứ? Đang uống ở Ngọc Lan lầu thì ông bạn lò rò tới.

Thiết Xích Tử vỗ ngực :
- Có thế mới là tửu tầm tửu chứ! Nơi nào có hơi “nhậu” là thấy có mặt Trương mỗ ngay.

Trại Mạnh Thường phì cười :
- Đánh hơi như vậy còn kém! Mấy hôm trước đây có tiệc lớn sao không thấy đến?
- Ủa, tiệc vào việc chi vậy?
- Đầy tháng đích tôn. Nhưng đừng lo, tôi còn để phần rượu đó.

Hai ông vua rượu vội chắp tay chúc mừng Thiết Hoàn Tử Hồng Trường Hải nói :
- Dịp lớn như vậy, lão huynh cũng đáng cho bọn tiểu đệ uống say thiệt.
Trại Mạnh Thường khoác tay hai người vào đại sảnh.

Hồi đó vào hạ tuần tháng mười một, Trại Mạnh Thường ấn định thết tiệc đại hỷ nhân dịp tứ hôn Âu Dương Nữ, Chu Đức Kiệt và Âu Dương Tòng Đức, Nhạc Lan Anh vào ngày mồng năm tháng chạp. Việc sửa soạn cuộc tiệc hỷ hai cặp trai tài gái sắc thiệt là nhộn nhịp. Âu Dương phu nhân cho gia đinh thỉnh hẳn mấy người thợ may có tiếng giỏi ở Tô Châu về trang trại may một loạt y phục mới để dùng khi tiến kinh và hỷ hảo cho tân lang, tân nương. Trại Mạnh Thường đưa hồng thiệp mời toàn thể các quan sở tại và thân hữu.

Trước ngày đại tiệc, lễ vật mừng hỷ do các nơi gửi đến chất đầy cả một kho. Gấm vóc lụa là, vàng bạc châu báu không thiếu một thứ gì. Chiêu Đức thiền sư từ Thiếu Lâm tự đến trước ba ngày. Thiền sư tặng cho Tòng Cát, Tòng Đức và Nhạc Lan Anh trước mỗi người một cây Liên Châu giản.

Sư trưởng Thiếu Lâm tới được một hôm thì Đức Võ Thượng Nhân cũng về đến nơi. Người mua được ở Thanh Hải nhiều cặp võ hài thiệt quý, mặt hài tết bằng lông đuôi voi, đế bằng da tê giác tẩm dầu vừa mềm mại vừa bền bỉ đi không ngấm nước, tặng tân lang, tân giai nhân, Trại Mạnh Thường và Tòng Cát.

Tiệc tùng thiệt linh đình. Toàn thể Âu Dương trang treo đèn, kết bông muôn màu, muôn sắc, vô cùng ngoạn mục. Đêm đến thắp đèn, xa trông lấp lánh như cả một rừng tinh tú.

Hôm khai tiệc, quan Tổng trấn nói với Trại Mạnh Thường :
- Kinh sư trao cho tôi nhiệm vụ báo cáo ngày khởi hành và địa chỉ của lão huynh tại Yên Kinh. Vậy lão huynh đã lựa nơi nào chưa?

Trại Mạnh Thường đáp :
- Mồng năm tháng giêng, chúng tôi sẽ lên đường. Ngụ tại Phong Hạc lầu, Trường Uyển lộ tại kinh sư.

Gian tiệc nào cũng có dàn nhạc và các đoàn vũ nữ Tô Châu lộng lẫy yêu kiều ca múa giúp vui. Thêm vào những vũ khúc nghê thường, còn có những đoàn làm trò rối chọc cười quan khách. Đại tiệc kéo dài tới năm ngày mới chấm dứt. Thời giờ thấm thoắt, chẳng bao lâu đã Tết Nguyên Đán, Âu Dương tụ họp đông vui, hạnh phúc song toàn.

Hôm mồng năm, Trại Mạnh Thường và phu nhân, Đức Võ, Chiêu Đức thiền sư, ba anh em Âu Dương, anh em Chu gia, Thiết Xích Tử và Thiết Hoàn Tử, Nhạc Lan Anh và bốn thị nữ theo hầu, tổng cộng mười sáu người đem theo nhiều rương y phục vật dụng, kẻ xe, người ngựa lên đường tiến kinh. Âu Dương phu nhân muốn đem Phương Tú Kiều theo, hiềm vì đích tôn Tòng Hiển còn nhỏ quá, mà chú bé lại mến mẹ không thể giao nhờ bà ngoại trông nom được, đành phải để nàng ở nhà cùng Phương thái thái điều khiển mọi việc trong trang.

Trước khi đi Tòng Cát thân sang bên Địch gia trại trong Tam Môn cốc xin phép Địch Lân và Đới Ngọc Hoàn cho Địch Phượng Tiên đến Âu Dương trang bạn bầu cùng Tú Kiều cho vui.

Đoàn người ngựa, xe rong ruổi không bao lâu đã tới Yên Kinh Trong khi đi đường, qua mấy địa hạt Hồ Nam, Trực Lệ, Hà Bắc, bọn lục lâm đại đạo chuyên “làm ăn” ở những vùng vắng vẻ thuộc mấy đại hạt ấy, thấy đoàn ngựa sang trọng đem nhiều rương nặng nền thường dòm ngó. Nhưng tới khi chúng nhìn kỹ các nam nữ anh hùng hào hiệp, thấy người nào cũng võ trang đầy đủ, uy dũng khác thường, nên chúng đành “bỏ qua” không dám động tới. Tuy vậy, cũng xảy ra một chuyện khá tức cười.

Nguyên một hôm đi tới địa giới Thanh Định huyện thuộc tỉnh Trực Lệ, gia đình Âu Dương qua một vùng hẻo lánh, bốn bề toàn rừng rậm núi non hiểm trở là nơi khách trường hành cần phải tiểu tâm phòng bị. Bọn lục lâm đại đạo thường cướp của giết người ở khu vực ấy, bởi vậy mới thành tên Triệt Lộ Khẩu.

Triệt Lộ Khẩu dài tới hai ngày đường hiểm trở. Bọn lục lâm thường phái đồng bọn đón ở các tửu điếm dò thăm xem khách qua đường người nào đem theo nhiều tiền của thì cướp. Tên đại đạo cầm đầu toàn khu Triệt Lộ Khẩu là Mã Kim Sang nổi danh trong giới lục lâm là Tru Hồn Thái Tuế, giết người không biết tanh tay. Phụ lực với Mã Kim Sang còn có hai tên đại đạo nữa là Huỳnh Thiên Hồ và Trương Đồng cùng người Hồ Nam. Chúng tụ tập được chừng trăm đồng đảng sống lén lút trong rừng núi khu Triệt Lộ Khẩu.

Trưa hôm ấy, đoàn xe nhà Âu Dương dừng lại tửu điếm bên đường dùng bữa. Khi mọi người đang ăn uống chuyện trò vui vẻ, thì có mấy người từ xa đi tới, trang phục y hệt khách bộ hành, kéo nhau vào quán gọi rượu uống vội mấy ly rồi hớt ha hớt hải đi.

Trước khi ra khỏi quán, họ lấm lét nhìn các xe ngựa chở đầy nhóc hành trang thì thầm nói nhỏ với nhau gì không hiểu rồi đi liền.
Lam Y nói với Chu Đức Kiệt :
- Mấy tên vừa rồi cố ra vẻ thản nhiên nhưng vẫn không khỏi lòi đuôi thám mã.

Chu Đức Kiệt mỉm cười :
- Ờ, bọn chúng trà trộn đến đâu cũng không khỏi lộ chân tướng.
Mọi người dùng bữa xong, sửa soạn lên xe ra đi. Chủ quán là một người có tuổi, ái ngại nhìn các khách hàng sang trọng. Chu Đức Kiệt ra sau cùng đang sắp sửa lên ngựa thì chủ quán tiến tới gần nói nhỏ :
- Khách quan có để ý gì không?

Đức Kiệt vờ hỏi :
- Có điểm gì đáng để ý?
Chủ quán chép miệng, lắc đầu :
- Đi đường xa đem nhiều hành trang thế kia, mà khách quan bất cẩn không đem thêm người hoặc mướn tiêu sư phòng vệ thì thiệt là nguy hiểm.
- Chắc tiên sinh thấy sự lạ nên mới nhắc chúng tôi điều ấy?

Chủ quán ngần ngừ, giây lát hạ giọng mà rằng :
- Nói ra e tai vách mạch rừng, im lặng thì trái với lương tâm. Chúng tôi buôn bán trong khu vực nên hiểu tình thế hơn quý khách viễn phương. Đây thuộc Trực Lệ và hiện thời quý khách đang ở trong Triệt Lộ Khẩu. Nghe tên đó quý khách có ngán không?
Chu Đức Kiệt nhắc lại :
- Triệt Lộ Khẩu! Ờ... nghe danh từ ấy để cũng... ngán thật! Ai khéo đặt tên thế?
Chủ quán tặc lưỡi :
- Người nào đặt tên Triệt Lộ Khẩu cho khu vực này khéo và đúng thật. Nghe danh từ ấy, quý khách thừa sức luận ra sự an ninh của quãng đường này rồi.
- Tiên sinh muốn nói rằng khu vực này có lục lâm đại đạo?

Chủ quán gật đầu :
- Chính vậy. Hồi nãy quý khách có để ý mấy người vào quán gọi rượu suông uống vội vàng, rồi đi ngay không?
- Có. Họ đi đường bị lạnh, gặp tửu quán rẽ vào uống rượu cho ấm bụng rồi vội đi ngay thì có gì lạ?
- Quý khách không chú ý đó thôi! Tôi ở trong khu vực này nên rõ lắm. Tuy không biết mặt bọn lục lâm, cứ nhác nhìn qua tôi cũng biết ngay. Mấy người ban nãy chú ý rất nhiều đến hành trang để ngổn ngang trong xe ngựa. Chúng có thể là nội bọn thám mã của cường đạo vẫn chặn đường cướp của hành khách qua khu vực này. Tôi thành thật “mách” quý khách. Liệu có thể qua được hẵng đi. Bằng không thì nên trở lại chừng có hộ vệ chắc chắn sẽ qua chẳng muộn.

Hôm nay bổn quán vắng người, tôi mới dám “phá lệ” mách bảo đó. Có người lại ngồi trong quán, quý khách cho tôi trăm lượng bạc cũng không dám hé răng.

Chu Đức Kiệt hỏi :
- Chúng tôi đi đông thế này còn sợ, những người đi một mình hoặc giả chỉ có vài người thì sao?
- Nhưng họ ít hành trang hơn nhiều, không đến nỗi bị bọn lục lâm nhòm ngó.
- Trên con huyết lộ này mà quan quân đành để lục lâm lộng hành ư?
- Bọn chúng lưu động rừng sâu, không ngang nhiên giáp chiến, quan quân lùng bắt sao được?

Chu Đức Kiệt nói mấy lời cảm ơn, đoạn thúc ngựa đuổi theo đoàn xa mã. Chủ quán nhìn theo thở dài lững thững trở vào quán.
Chiều hôm ấy, đoàn xe đỗ lại quán trọ chặng chiều. Chu Đức Kiệt để nguyên các hành trang trong xe dồn gọn vào trong sân. Đêm ấy, chàng cùng Âu Dương Tòng Cát, Tòng Đức thay phiên nhau ngồi trên lầu canh phòng.

Đêm trường lặng lẽ trôi qua không hề xảy ra chuyện gì. Chủ quán thấy khách hàng võ trang đầy đủ, nam cũng như nữ uy dũng khác thường tưởng lầm là có tiêu sư hộ vệ, nên không thắc mắc như chủ quán chặng trên.

Hôm sau, mọi người điểm tâm xong tiếp tục hành trình. Mỗi bước đường, cảnh sắc một thêm hoang vu, rừng cây san sát chen lẫn núi đá chênh vênh. Đường đi vòng vèo, mỗi khi tới khúc rẽ, khách trường hành đều có cảm tưởng như bọn lục lâm lẩn quẩn rình mò đâu đấy.

Trời lạnh căm căm, gió bấc thổi từng đợt buốt thấu xương. Đến giờ Tị, đoàn xe ngựa tới chặng nghỉ thứ ba trong khu Triệt Lộ Khẩu.

Dưới cây đại thọ trước quán trọ đã có ba con ngựa cột sẵn đó. Trong quán, ở thồi góc thực phòng, ba hảo hán đều trạc ngoại tam tuần đang thong thả uống rượu. Họ võ trang đơn đao như mọi khách thương hành, ăn uống trò chuyện tự nhiên không hề để ý tới đoàn người mới đến Xong bữa, ba hảo hán trả tiền hàng, lên ngựa ra đi theo hướng Bắc. Ba người ấy không phải ai xa lạ, chính là Tru Hồn Thái Tuế Mã Kim Sang, Huỳnh Văn Hổ và Trương Đồng. Được thám mã báo từ hôm qua rằng có bọn hành khách sang trọng ngược đường lên Bắc, trong xe chất nhiều rương hành trang có vẻ quý giá, họ Mã bèn sắp đặt chặn đánh nhưng trước khi khởi sự, gã cùng Huỳnh, Trương hai người đến tửu quán uống rượu, quan sát cho dễ tiện bề hành động.

Lúc trở ra, Trương Đồng hỏi Mã Kim Sang :
- Thám mã báo đúng thật. Bọn hành khách đem nhiều rương hành trang y hệt đoàn người thiên cư.

Họ Mã cười khẩy :
- Thám mã của ta bậy quá, chúng không tinh tường chút nào cả!
- Không tinh tường thế nào?
- Chúng chỉ báo là có khách sang trọng qua Triệt Lộ Khẩu, nhưng không phân biệt kẻ hay người hèn. Chúng đã vậy, chớ nhị vị hiền đệ cũng không biết nhận xét người ư?

Huỳnh Thiên Hổ phản đối :
- Đại ca định nói về bọn chủ nhân chiếc xe đó chứ gì? Tổng cộng, chúng có ba thanh niên, tráng sĩ, ba thiếu nữ võ phục, ba người trung lão, chín người này đều võ trang. Ngoài ra, còn một đạo sĩ, một hòa thượng, còn thì toàn phụ nữ lóc nhóc cả.

Mã Kim Sang nhìn Huỳnh Thiên Hổ :
- Đã bao giờ hiền đệ thấy một đoàn người tổng hợp kỳ dị như vậy chưa? Chín người võ trang ấy, dưới mắt ngu huynh đều kiêu dũng dị thường. Hai người đeo thiết xích, thiết hoàn tuy xấu tướng, nhưng sặc mùi quái hiệp. Vị đạo sĩ dong dỏng và hòa thượng nhỏ bé kia nữa, hiền từ thật, nhưng dáng điệu cử chỉ vào hạng sư phụ cả. Mười một người ấy chắc chắn toàn là nhân vật có thành tích trong làng võ nghệ chớ chẳng chơi! Ngu huynh “bắt tướng” người ta không mấy khi sai lầm đâu. Có biết người biết mình mới làm ăn trôi chảy.

Huỳnh Thiên Hổ cười gằn :
- Phân tích như đại ca, thà chúng ta giải nghệ đi cho rồi. Xưa nay, biết bao đoàn khách thương được hộ vệ đàng hoàng bởi tiêu sư oai dũng. Chẳng nói gì các tiêu sư ngay đến khách thương và bọn tùy tòng, tên nào cũng võ trang đầy đủ mà chỉ mới thấy bóng chúng ta chúng đã nhốn nháo sợ sệt rồi. Bọn này bất quá chỉ là một gia đình có viễn hành thôi chứ gì!

Mã Kim Sang lắc đầu :
- Sai! Hoàn toàn sai! Hiền đệ khinh thường quá. Nhấn mạnh điểm này, chúng đem theo nhiều hành trang chắc chắn là quý báu như thế, mà không mướn người hộ vệ chuyên môn thuộc khúc đường này, đủ thừa hiểu là chúng “không lo” chuyện đường trường. Ngu huynh cảm tưởng như đã gặp mấy người đàn ông này ở đâu đó rồi. Quen mặt lắm. Có lẽ cũng trên con đường này.

Huỳnh Thiên Hổ nói :
- Đại ca không muốn hành động thì thôi, nhưng yêu cầu đại ca để tôi tự kỷ điều khiển vụ đánh này có được không?
Mã Kim Sang gắt :
- Không được! Lợi hay hại chung cả, không riêng gì cho một ai cả. Nhị vị muốn được vĩnh viễn làm ăn nơi đây hãy nghe lời tôi. Chớ đặt tự ái cá nhân lên trên mọi sự mà hư đại sự. Rắn đầu cứng cổ không suy tính chẳng những thất bại mà còn có thể mất mạng như chơi.

Huỳnh Thiên Hổ im lặng cho đến lúc về tới sào huyệt trong rừng sâu. Chờ lúc Mã Kim Sang bận việc khác sơ ý, Huỳnh Thiên Hổ rủ Trương Đồng :
- Mặc Mã đại ca ở nhà, chúng ta ra đón đường hành động cho y biết tay.
Trương Đồng ưng thuận. Hai người lựa hai mươi tên lâu la thân tín, ngầm bảo đi theo. Chúng đi đường tắt ra tới đại lộ, Huỳnh, Trương nhìn vết trên đường biết là đoàn xe chưa qua, bèn phân tán lâu la leo núp lên sau các mô đá ở sườn núi bên đường.

Huỳnh Thiên Hổ ra lệnh :
- Chừng nào đoàn xe đi qua, ta vẫy tay làm hiệu, các ngươi cứ việc giương cung chĩa tên vào đám đông người uy hiếp, chỉ khi nào có lệnh mới được bắn.

Bọn lâu la nhất nhất vâng lời. Chúng đã quen kiểu phục kích các đoàn khách thương, yên trí rằng lần này cũng như bận trước. Huỳnh Thiên Hổ và Trương Đồng núp sau khe núi.

Đoàn xe họ Âu Dương đi tới khúc quanh. Chu Đức Kiệt dóng ngựa cùng Tòng Cát, Tòng Đức đi trước. Lam Y, Âu Dương Nữ, Nhạc Lan Anh đi bên tả đoàn xe. Hai xe trước chở đầy hành trang. Xe thứ ba có Âu Dương phu nhân ngồi cùng bốn thị nữ, Trại Mạnh Thường, Đức Võ, Chiêu Đức, hai tửu vương Trương Tam Sơn, Hồng Trường Hải ngồi xe sau cùng. Thế núi hiểm hóc ở gần mé đường bên tả, còn mé bên hữu có bãi có ngăn rừng cây chi chít hẳn mặt đường tới sáu bảy trượng.

Âu Dương Tòng Cát nói :
- Khúc này, núi ở sát đường dễ phục kích lắm.

Chu Đức Kiệt gật đầu :
- Tôi qua lại con đường này nhiều lần mà không hề xảy ra chuyện gì cả, nhưng hiện tại có xe kềnh càng theo sau, tình hình có thể biến chuyển khác, chúng ta phóng ngựa lên trước xem sao.

Tòng Cát, Tòng Đức khen phải, rút sẵn cung tên phòng bị, đoạn thúc ngựa theo Chu Đức Kiệt. Ba người cho ngựa chạy kiệu nhỏ tách xa hẳn đoàn xe, vừa được một quãng đường, thì bỗng từ khe đá, Huỳnh Thiên Hổ và Trương Đồng nhảy vút ra chặn lối đi.

Huỳnh Thiên Hổ cầm ngang đơn đao, quát :
- Ai qua đó, biết điều ngừng bước!
Vì đã trót nghe tiếng vó ngựa, hấp tấp nhảy ra chặn đường, thì phải nạt nộ, thiệt ra chúng không hài lòng bởi lẽ đoàn xe chưa chạy tới khúc ấy. Ba anh em Tòng Cát nhận ngay ra hai người gặp tại tửu điếm hồi ban nãy trưa. Đưa mắt nhìn quanh một lượt, ba người thừa hiểu thế nào cũng có quân giặc phục sau các mô đá trên sườn núi.

Tòng Cát nói :
- Đường ai nấy đi! Sao lại chặn đường chúng ta?
Huỳnh Thiên Hổ vẫy tay ra hiệu cho lâu la uy hiếp ba kỵ sĩ bằng cung tên. Ba người nhìn theo hướng tay vẫy, có đúng hai mươi cung thủ chĩa tên về phía mình.

Tòng Đức bảo hai tên lục lâm :
- Các ngươi chỉ có lèo tèo mấy đứa thế này mà học đòi chặn đường cướp của ta ư?
Huỳnh Thiên Hổ quát :
- Lèo tèo cũng đủ sức gài tên vào xác các ngươi nếu không biết điều bảo đoàn xe liệng các rương hành trang xuống bên đường. Ta sẽ sanh phúc cho đi khỏi.

Tòng Cát đưa mắt nhìn Tòng Đức và Đức Kiệt, đoạn bảo Huỳnh Thiên Hổ :
- Các ngươi muốn đoạt hành trang, cứ việc tới đoàn xe mà lấy. Hãy coi đây!

Tức thì anh em Âu Dương lẹ như cắt, Tòng Cát phát luôn hai mũi tên Liên Châu trúng hai mối khăn mỏ rìu của hai tên tặc đạo, khiến khăn tung ra rớt xuống đất, Huỳnh Trương hoảng sợ, nhảy lùi mấy bước. Đồng thời, Tòng Đức phát một loạt năm mũi tên Liên Châu hạ luôn năm tên lâu la cung thủ nhào xuống sườn núi. Tòng Cát quay bắn tiếp luôn ba mũi tên trúng ba tên giặc nhào theo đồng bọn.

Mọi sự trên đây chỉ xảy ra trong chớp mắt, bọn lâu la không kịp nhận định tình thế, thấy bên mình bất lợi, một lúc tám tên trúng thương nhào xuống núi kêu la vang dậy, thì cũng bị hai tay thần tiễn đàn áp, bèn hè nhau bỏ chạy ngược cả lên sườn núi. Có tên núp hẳn xuống sau mô đá không dám dậy nữa.
Huỳnh Thiên Hổ, Trương Đồng không ngờ chặn đường trúng phải thần thủ, không ai bảo ai, cùng co chân chạy sang khu rừng cây.

Anh em Âu Dương nhằm bắn luôn hai mũi tên nữa. Tên bay vút như hai lằn chớp gài trúng búi tóc ngược trên đầu của hai tặc đạo. Sợ quá, Huỳnh Trương chúi ra phía trước mặt, rồi lại lồm cồm bò dậy chạy tuốt vô rừng thoát chết.

Lúc đó, Mã Kim Sang dẫn lâu la đuổi theo Huỳnh Thiên Hổ, Trương Đồng quyết ngăn cản trận phục kích, nhưng vừa ra tới ven rừng Kim Sang chỉ kịp mục kích tài xạ tiễn của hai tráng sĩ qua đường. Y mừng thầm rằng đã khôn khéo đoán trúng đoàn hành khách không phải hạng tầm thường. Nếu theo lời đồng bọn chặn đường thì y đã bị nhục như Huỳnh, Trương rồi.

Tới Yên Kinh, mọi người kéo thẳng đến Trường Uyển lộ trọ tại Phong Hạc lầu. Viên quản lý nhận ra khách quen bèn hỏi :
- Quý vị từ Tô Châu lên, phải không? Xin mời nghỉ tạm tại đây, đã có nhà riêng dành ở trong khu Hoàng Thành.
Trại Mạnh Thường ngạc nhiên :
- Nghĩa là thế nào?

Viên quản lý lắc đầu :
- Chính tôi cũng không hiểu. Chỉ biết rằng, Tổng thái giám phái gia nhân ra dặn rằng bao giờ có đoàn khách từ Tô Châu lên phải cấp báo cho người biết ngay.

Nghe vậy, Trại Mạnh Thường hiểu rằng quan Tổng trấn Tô Châu đã báo cáo ngày khởi hành của mình nên về kinh Tổng thái giám Lý Tuyên được lệnh của Vĩnh Lạc hoàng đế chờ ở Phong Hạc lầu. Viên quản lý mời mọi người vào phòng khách tiếp trà nước trong khi chờ đợi quan Tổng thái giám.

Hồi lâu, Lý Tuyên đi ngựa cùng bốn người tùy tòng đến tửu lầu. Viên quản lý cung kính hướng dẫn họ Lý vào khách phòng. Gặp mọi người, Lý Tuyên vui vẻ niềm nở chào hỏi. Trại Mạnh Thường giới thiệu Tam hiệp, Thiết Xích Tử và Nhạc Lan Anh.

Lý Tuyên nói :
- Thánh thượng dành riêng một đại dinh để quý vị dùng trong thời kỳ ở Yên Kinh. Bây giờ xin theo tôi về đó nghỉ ngơi kẻo đường xa nhọc mệt.

Trại Mạnh Thường cảm động :
- Hoàng đế chú trọng đến chúng tôi nhiều thế này, biết đến bao giờ đền ân Thánh thượng!
- Hoàng thượng trọng người hiền đó chớ! Sự chú trọng này chưa tương xứng với đại công của quý vị! Nào ta đi!
Gia đình Âu Dương theo Tổng thái giám về khu Hoàng Thành, đến một đại dinh ba từng lầu, hoa viên rộng rãi, trăm hoa đua nở khoe ngàn tía muôn hồng. Cổng dinh có quân lính canh phòng. Trong dinh đã có sẵn gia nhân, thị nữ nhất nhất thứ gì cũng hoàn toàn đầy đủ. Phòng nọ phòng kia trang hoàng cực kỳ lộng lẫy.

Lý Tuyên nói với Trại Mạnh Thường :
- Quý vị nghỉ đây hai ngày, tôi sẽ trở lại.

Hồng Trường Hải vốn đặc thân với Lý Tuyên bèn hỏi giỡn :
- Hoàng đế không có hiệu triệu, bọn quỷ chúng tôi theo quấy chắc sẽ bị quở?
Lý Tuyên nheo mắt :
- Thánh thượng sẽ giam Thiết Xích Tử tiên sinh và hiền đệ vào... kho rượu.
Thiết Xích Tử vỗ ngực cười vang :
- Giam kiểu ấy, anh em tôi đâu có ngán.

Mấy hôm sau, Vĩnh Lạc hoàng đế phái Tổng thái giám mời mọi người vào điện Vĩnh Hưng để xem mặt Tam hiệp, Nhạc Lan Anh và Thiết Xích Tử. Trại Mạnh Thường, Âu Dương phu nhân, anh em Tòng Cát, Tòng Đức, Hồng Trường Hải và Nhạc Lan Anh đều vận đại bào yết kiến vua. Riêng Đức Võ, Chiêu Đức là hai nhà tu hành không kể, Tam hiệp vận võ phục đeo báu kiếm Thất Tinh đao như thường nhật.

Lam Y mang bộ võ phục bằng nỉ lam tuyền, ủng nỉ đồng màu viền đen. Âu Dương Bích Nữ vận võ phục nỉ đỏ thẫm, ủng đỏ viền đen.
Chu Đức Kiệt vận phục nỉ đen tuyền. Thiết Xích Tử vận bộ áo giang hồ lôi thôi lếch thếch như khi phiêu bạt một mình, lưng đeo thiết xích.

Khi mọi người ra khách sảnh nơi Tổng thái giám Lý Tuyên ngồi chờ, Âu Dương phu nhân giật mình khi thấy Tam hiệp trang bị võ phục, bèn nói :
- Vào cung hầu vua, sao ba con không dùng đại bào cho hợp lễ Vua tôi?

Trại Mạnh Thường mỉm cười, bảo phu nhân :
- Họ trang phục như vậy trúng ý Hoàng đế rồi. Xưa nay Người luôn luôn thấy toàn cân đai bố tử sang trọng, nay muốn mục kích khách giang hồ thì Tam hiệp dĩ nhiên không thể mang mũ cao áo dài như mọi người. Họ vận võ phục yết kiến Thiên tử mới lột được tư cách cá nhân.

Phu nhân nói :
- Đã vậy, nên bỏ đao, kiếm lại nhà. Được phép đeo kiếm bên Vua chỉ là đặc cách của Nguyên nhung khi diễn binh hoặc khi chiến thắng hồi triều.
Trại Mạnh Thường vuốt râu cười :
- Phu nhân nói phải nhưng mà trật. Tam hiệp được nhà vua phong tước Điện tiền kiếm sĩ. Bỏ khí giới lại nhà thì làm gì còn tư chất kiếm sĩ nữa.

Tổng thái giám Lý Tuyên thấy Âu Dương phu nhân thắc mắc về vấn đề y quan, khí giới của Tam hiệp thì vội nói :
- Xin phu nhân an tâm. Hoàng đế muốn xem mặt Giang Hồ Kiếm Khách thì Tam hiệp và Quái khách trang phục như vậy chắc người vừa ý hơn.
Nghe lời Lý Tuyên, phu nhân mới an tâm không chỉ trích nữa. Mọi người lên kiệu vào Vĩnh Hưng điện trong hậu cung.

Nhà vua đã có dịp trước đây hội kiến tất cả, nay được gặp Tam hiệp nên rất đẹp ý.
Trong khi bái kiến, Chu Đức Kiệt nhường Lam Y nữ hiệp đứng giữa, cả ba người cùng anh hùng khí phách, lễ phép nhưng không quỵ lụy khúm núm khiến nhà vua rất đỗi quý chuộng. Nhưng người không khỏi cười thầm cũng như mến thầm Quái hiệp Thiết Xích Tử trong bộ áo lôi thôi và ba vòng thiết xích quấn quanh đai lưng.

Sau khi bàn bạc cùng Đức Võ Chiêu Đức, Trại Mạnh Thường, Vĩnh Lạc hoàng đế ấn định ngay cho mọi người công khai triều kiến trước sự hiện diện của bách quan tại Kim Loan điện. Còn ngày thành hôn của Chu Đức Kiệt, Âu Dương Bích Nữ và Âu Dương Tòng Đức cùng Nhạc Lan Anh sẽ thông báo sau khi Thông thiên giám lựa chọn ngày giờ tốt hạp với tuổi của hai cặp tân lang, tân nương. Cùng ngày hôm ấy, Nhà vua ban cho mọi người năm mâm vừa vàng vừa bạc, châu báu, gấm vóc toàn hảo do Tổng thái giám Lý Tuyên đem đến tận tư dinh.

Buổi triều kiến công khai trước mặt bách quan, tiếp theo là bữa đại yến cực kỳ sang trọng. Hôm ấy, Nhà vua tuyên bố vụ chủ hôn và ấn định hôn lễ vào ngày hai mươi tháng hai.

Trại Mạnh Thường, tước Trung Dũng Hầu, vừa đứng cho cả nhà trai lẫn nhà gái. Phía Chu Đức Kiệt có Đức Võ Thượng Nhân. Phía Nhạc Lan Anh thì Thuận Vương. Hai Thế tử, Trấn Quốc, Bảo Quốc cùng được triệu từ Kim Lăng về trước hôn lễ mấy ngày.

Từ hôm hôn nhật ban bố, khách quan đưa tặng vật mừng đến tư dinh Âu Dương không biết bao nhiêu mà kể. Trong dinh còn có hai căn đình lớn ở hậu viên trang hoàng lộng lẫy dùng làm động phòng hoa chúc cho hai cặp anh hùng kỳ nữ.

Hôm chính lễ, nhà vua có bách quan tùy tòng, ngự đến dinh Âu Dương làm chủ hôn. Buổi lễ được diễn ra giản dị nghiêm trang.

Sau khi hành lễ, Vua hồi cung. Đã được mời từ trước, bách quan đến Phong Hạc lầu, hôm đó dành riêng cho họ Âu Dương dự tiệc. Toàn thể ba từng tử lầu sang trọng ấy được treo đèn kết bông vô cùng ngoạn mục, đàn sáo xông xênh ca nhạc vang lừng, xe hoa đến đại tửu lầu, nào xe, nào kiệu, dàn đầy hai bên đường. Dân chúng đứng xem bữa tiếp tân hiếm có ấy nghẹt cả lối đi.

Bên Thuận Vương ít người, tiếp tay không đủ. Mã nguyên soái và quan Ngự sử Tôn Gia Trọng phải huy động quyến thuộc đến thù tiếp thêm.
Ngày qua... Chu Đức Kiệt trở về biệt đình hậu viên.

Lam Y đứng sẵn ở cửa đón vào. Nàng đon đả vui vẻ :
- Bao lâu ngu muội ước mong hiền huynh thành gia thất, và nay mộng đó đã thành.
Chu Đức Kiệt âu yếm nhìn em :
- Nếu có buổi hôm nay, một phần lớn cũng do công hiền muội tác thành. Nhưng chính ngày vui đã khiến ngu huynh nghĩ rất nhiều... về hiền muội.

Lam Y cười vang :
- Nào hiền huynh lại sắp sửa nhắc lại một câu mà hiền huynh đã nói cả trăm ngàn lần...
- Mời hiền muội vào phòng cho ngu huynh được mời một ly rượu chung vui.
- Thế thì được, nhưng cấm hiền huynh không được nhắc chuyện gì khác nữa nhé.

Hai anh em lững thững vào hoa phòng. Cửa phòng hé mở. Âu Dương Bích Nữ cực kỳ diễm lệ trong bộ hôn phục màu hướng dương đang đứng bên bình sứ sửa lại mấy nhánh phù dung.

Nàng xây lưng lại chúm chím cười nhìn tân lang và cô muội.

Lam Y đứng ở giữa căn phòng u nhã :
- Chu huynh cho phép tiểu muội nhập phòng cụng ly đây?
Âu Dương Nữ nhẹ nhàng tiến tới cầm tay em chồng dắt đến bên thồi rượu động phòng. Chu Đức Kiệt kéo ghế để hai người ngồi, tự mình ngồi xuống bên Lam Y.

Hai thị nữ nhón nhén vào phòng hầu. Chu Đức Kiệt bảo chúng :
- Cho phép các ngươi chờ cả ngoài đó, ta tự khắc rót rượu lấy.

Đoạn chàng rót ba ly rượu đầy. Âu Dương Bích Nữ thân mến hai tay đưa mời Lam Y :
- Mời cô muội cạn ly rượu biết ơn của chúng tôi!

Lam Y tiếp lấy đặt ly rượu xuống thồi :
- Hiền tẩu cho phép tiểu muội mời hiền huynh, tẩu trước mới khỏi sái lệ.

Nàng cung kính nâng hai ly mời vợ chồng Đức Kiệt :
- Tiểu muội hằng mong có cháu bé bồng bế nâng niu, ước rằng giờ này năm tới sẽ được toại nguyện.
Đức Kiệt Âu Dương Bích Nữ đỡ cạn ly rượu.

Lam Y ý tứ đứng lên từ tạ :
- Riêng phần tiểu muội chung vui với huynh, tẩu thế này là đủ lắm rồi. Bây giờ xin kiếu vào phòng nghỉ ngơi, mấy hôm bận rộn tiệc tùng mệt lắm.

Lam Y tiếp lấy đặt ly rượu xuống thồi :

- Hiền tẩu cho phép tiểu muội mời hiền huynh, tẩu trước mới khỏi sái lệ.

Nàng cung kính nâng hai ly mời vợ chồng Đức Kiệt :
- Tiểu muội hằng mong có cháu bé bồng bế nâng niu, ước rằng giờ này năm tới sẽ được toại nguyện.
Đức Kiệt Âu Dương Bích Nữ đỡ cạn ly rượu.

Lam Y ý tứ đứng lên từ tạ :
- Riêng phần tiểu muội chung vui với huynh, tẩu thế này là đủ lắm rồi. Bây giờ xin kiếu vào phòng nghỉ ngơi, mấy hôm bận rộn tiệc tùng mệt lắm.

Dứt lời, nàng vái dài hai người đoạn thoăn thoắt bước ra khỏi hoa phòng. Chu Đức Kiệt mỉm cười nhìn tân nương, Âu Dương Bích Nữ bảo chồng :
- Chu lang à, tiểu muội mến và ái ngại cho Lam Y quá chừng.
- Thấy chúng ta hạnh phúc, Lam Y an tâm vui vẻ lắm. Ngu huynh rất hiểu tánh nó.

Âu Dương Nữ nghi ngờ :
- Phàm là nữ nhi thành niên cũng nhiều lúc nghĩ đến thân thế mình, tiểu muội lo rằng cô muội.
Chu Đức Kiệt âu yếm cầm tay tân nương ngắt lời :

- Lam Y trong trắng hồn nhiên như thiên thần. Nếu lúc này, Lam Y có nghĩ gì thì dám quyết chỉ nghĩ đến việc mau có... cháu bồng cháu bế.

Âu Dương Nữ đỏ mặt rót đầy hai ly rượu nâng đưa tân lang :
- Chúng ta phải uống rượu hợp cẩn cho đúng phép chớ! Nào... mời Chu lang!
Hai vợ chồng nhìn nhau thong thả ăn uống. Bỗng Âu Dương Bích Nữ hỏi :
- Lam Y ưa có cháu trai hay gái trước?
- Dĩ nhiên là cháu trai rồi, nhưng cháu nào mà Lam Y chẳng quý?

Nàng thỏ thẻ :
- Chừng nào chúng ta... có con sẽ nhường Lam Y đặt tên, chắc cô muội bằng lòng lắm nhỉ?

Chu Đức Kiệt mỉm cười :
- Đúng vậy, Lam Y đã nghĩ đặt tên cháu từ trước rồi.
- Ủa, từ hồi nào? Và cô muội đặt tên là gì?

Chu Đức Kiệt nhắp hụm rượu :
- Từ hồi Kỵ mã hội Kim Lăng. Con trai sẽ đặt tên là Chu Đức Hùng.
- Còn con gái là gì?
- Tục danh Lam Y Chu Tú Anh. Tục danh hiền thê là Âu Dương Bích Nữ, nên Lam Y muốn phối hợp hai chữ Bích và Anh. Vậy con gái sẽ tên Chu Bích Anh.

Âu Dương Nữ hồn nhiên reo lên :
- Chu Đức Hùng, Chu Bích Anh, thiệt hay! Nội tổ là Đức Văn, thúc tổ là Đức Võ, phụ thân là Đức Kiệt, con là Đức Hùng. Văn Võ Kiệt Hùng. Đẹp quá! Lam Y thiệt hóm hỉnh và sâu sắc...

Nhưng nàng bỗng im bặt, sắc diện hồng vì tân lang đang say đắm tha thiết nhìn nàng. Chu Đức Kiệt chậm rãi :
- Ngu huynh mong rằng Chu Bích Anh sẽ được cân quắc anh thư như hiền thê.

Âu Dương Nữ nói theo qua hơi thở :
- Và Chu Đức Hùng cũng tuấn kiệt anh dũng như lang quân.

Hai hôm sau, vợ chồng Chu Đức Kiệt và vợ chồng Âu Dương Tòng Đức vào triều tạ ơn. Và cũng từ hôm đó, các đại thần luân phiên thết tiệc mời toàn thể gia đình Âu Dương, nhị vị đại sư và hai tửu vương. Tiệc liên miên đến hạ tuần tháng hai. Nhị vị tửu vương uống đã khỏe mà cũng phải say thường trực hết ngày nọ qua ngày kia.

Sau đó, được rỗi rãi, mọi người lần lượt thăm các thắng cảnh nơi Đế kinh và không quên ra Lư Cầu kiều thăm Tề Quân Bảo, người tặng Trảm Lư hùng kiếm cho Âu Dương Nữ.

Một hôm, Trại Mạnh Thường hỏi Tam hiệp :
- Nhân dịp Bắc du này, lão phu nhân muốn theo Thượng nhân và Thiền sư lên thăm cảnh sắc Vạn Lý Trường Thành, các con có cùng đi không hay về Sơn Đông?

Chu Đức Kiệt đáp :
- Tiểu tế rời Bình Dương cũng đã lâu ngày, nên muốn về xem xét trang trại mộ phần song thân. Vả lại sang hạ tuần tháng tư là húy nhật gia phụ, tiểu tế mong rằng sẽ được tiếp đón nhạc phụ và nhạc mẫu tại gia trang.

Trại Mạnh Thường gật đầu :
- Sau khi vãn cảnh Sơn Hải quan, lão phu sẽ cùng Thiền sư về Bình Dương

Lam Y hỏi Đức Võ :
- Thúc phụ về thẳng Cửu Huyền sơn hay trở lại Sơn Đông.
- Ta về Bình Dương kịp húy nhật cố huynh.

Âu Dương Nữ nói với Trại Mạnh Thường :
- Hôm ở Tô Châu ra đi đem nhiều hành trang vì cần dùng, nay song thân vãn du Vạn Lý không lẽ đem theo, kềnh càng quá.

Lão anh hùng chưa kịp trả lời thì Nhạc Lan Anh đã đỡ lời :
- Trong hai hôm nữa, Thế tử Trấn Quốc, Bảo Quốc về Kim Lăng đằng nào cũng qua Tô Châu, chi bằng gửi hộ tống dùm, có tiện không?

Mọi người còn đang bàn tán thì hai Thế tử tới thăm từ tạ khởi hành. Nhạc Lan Anh ngỏ lời nhờ hộ tống hành trang về Tô Châu. Hai người nhận lời. Trấn Quốc nói :
- Chuyến này ngu huynh đi có đem theo một số quân hầu, vậy sự chuyên chở cũng dễ dàng. Hiền muội sửa soạn đi, sáng ngày mốt sẽ qua đây lấy.

Âu Dương phu nhân chia các tặng vật ra làm hai phần, một gửi về Tô Châu, phần vợ chồng Tòng Đức, phần của vợ chồng Đức Kiệt thì để Tam hiệp đem về Bình Dương. Chu Đức Kiệt nói :
- Nhạc mẫu cứ gửi cả về Tô Châu cho tiện, chúng con sẽ qua lại luôn luôn, chia ra làm chi thêm mất công.

- Không được! Đành rằng tiện, nhưng con gái lấy chồng mà không có của riêng tây là sai phép. Hiện thời còn không biết bao nhiêu tặng vật quý giá để lại Tô Châu. Mẹ sẽ gửi lên Sơn Đông cho các con sau.

Biết tánh thân mẫu thường nhất quyết điều gì, ai ngăn cản cũng không nổi, Âu Dương Bích Nữ ra hiệu bảo Đức Kiệt im lặng. Chàng nói riêng với vợ và em :
- Ngu huynh muốn được rảnh rang hành trình, mùa Xuân đất Bắc tuy lạnh nhưng cảnh sắc ngoạn mục, phải hộ tống bao nhiêu rương thế kia bận bịu quá.

Lam Y suy nghĩ giây lát :
- Có khó gì! Chúng ta mướn bảo tiêu chuyên chở đi trước, tiện biết bao nhiêu.
Âu Dương Nữ hỏi :
- Nếu vậy phải kiếm tiêu sư hữu danh mới được. Đường Trực Lệ, Sơn Đông có nghịch không?

Đức Kiệt la :
- Trời ơi! Cái “nghịch” của Trực Lệ Sơn Đông thì đáng liệt vào hạng nhất Trung Nguyên.
- Tất phải có tiêu sư giỏi dang chớ! Binh ngặt thế nào chả có thuộc hay? Mai ta ra phố tìm coi thế nào?

Luôn ngày hôm ấy, Tam hiệp ra phố kiếm Bảo phiêu cuộc. Các phiêu cuộc thì nhan nhản đường gần có, đường xa cũng lắm hiền vì không biết ai hay dở. Chu Đức Kiệt nói :

- A, hay ta đến thẳng Phong Hạc lầu, viên quản lý tất phải biết?
Ba người đến nơi ngỏ ý. Viên quản lý nói :
- Tiêu sư giao dịch với chúng tôi để lấy khách thì khá nhiều, nhưng hiện thời danh tiếng nhất Yên Kinh có Tiểu Lý Quảng Chúc Thiên Thanh là hay hơn cả, nhất là đường trường.

Lam Y hỏi :
- Tiểu Lý Quảng có bị cướp chuyến nào không?

Viên quản lý đáp :
- Ngoài ra thế nào không dám nói, theo như tôi hiểu biết thì y không bị thất bại lần nào cả.
- Chúc Thiên Thanh chắc có tài xạ tiễn?
- Dạ, có thế. Xạ tiễn biệt tài và bản lãnh khá. Y giương nổi thiết cung tạ rưỡi, xử đại đao hay lắm. Quý vị ra Nam Môn, Văn Huê, Vạn Thắng phiêu cuộc sẽ gặp họ Chúc, trừ phi y đi áp tải rồi.

Tam hiệp tìm đến nơi. Mấy tiêu sư phụ tiếp đón cho biết rằng Chúc Thiên Thanh ra phố, chiều mời về. Chu Đức Kiệt cho họ biết địa chỉ và dặn thêm :
- Tôi có món hàng cần gửi về Sơn Đông, làm ơn nhắn đại tiêu sư tới, tôi chờ nhé.

Sẵn tối hôm ấy, Chúc Thiên Thanh đến dinh Âu Dương. Chu Đức Kiệt ra tận cổng đón vào khách đường.

Họ Chúc hỏi :
- Nghe nói thiếu gia có món hàng cần hộ tống về Sơn Đông?
- Có vậy.
- Thưa hàng gì và bao nhiêu thứ?
- Năm rương lớn lễ vật quý giá.
- Thiếu gia có cùng đi không? Hộ tống đến khu vực nào ở Sơn Đông?
- Tôi không cùng đi nhưng sẽ về ít hôm. Gửi về Chu gia trang, Bình Dương huyện.

- Chu gia trang, Bình Dương huyện! Phải chăng đó là trang trại của vị tiền bối trong nghề chúng tôi là Đơn Đao Thất Bảo khi xưa?
Chu Đức Kiệt gật đầu :
- Cố tiêu sư Chu Đức Văn là gia phụ.

Chúc Thiên Thanh vội đứng lên vái Đức Kiệt mà rằng :
- Chết rồi! Với đường đao vô địch danh lừng Sơn Đông, Trực Lệ, thiếu gia cần gì mướn chúng tôi hộ tống?

Chu Đức Kiệt mỉm cười đáp lễ :
- Như tôi đã nói là có việc phải đi sau, vì vậy phiền hà tiêu sư thân hành đi giúp một chuyến.
- Thiếu gia đã sai bảo, tất nhiên phải đích thân hộ tống và có thể tin ở tôi được. Sáng mai tôi lãnh hàng về được không?
- Được lắm, rương nào cũng đóng chắc chắn rồi, chỉ có việc cho lên xe tải đi.

Chúc Thiên Thanh từ tạ ra về.

Hôm sau, họ Chúc đem xe ngựa tới làm giấy lãnh hàng. Chu Đức Kiệt cũng trả công ngay và trao cho Chúc Thiên Thanh một bức thư nhờ đưa cho quản gia Vương Bình. Việc gửi các lễ vật về Sơn Đông và Tô Châu thế là giải quyết xong. Âu Dương Tòng Thiện dâng sớ cảm tạ Vĩnh Lạc hoàng đế trước khi lên đường. Nhà vua ủy quyền cho Nguyên soái điện tiền cố vấn thay mặt bày tiệc tiễn hành. Bên Thuận Vương cũng vậy, ân cần mời mọc.

Từ ngày về Yên Kinh, Thuận Vương ăn năn hối cải xử sự rất khá, nên Trại Mạnh Thường cũng vui vẻ nhận tình thông gia. Thuận Vương và Vương phi quyến luyến Nhạc Lan Anh không nỡ chia tay.

Hôm rời Yên Kinh, Tam hiệp tiễn đoàn người lên biên ải đến tận Lư Cầu kiều, rồi mới rong ruổi theo lối Lưu An Trấn, qua Phi Long cốc thuộc địa hạt Trực Lệ về Sơn Đông. Phong cảnh trên đường ngoạn mục như bức tranh sơn thủy hữu tình liên miên vô tận.

Một hôm, Tam hiệp đi đến một khu núi non hiểm trở cực kỳ hùng vĩ, ngọn khuất chân mây, tòng bách cổ thụ rườm rà reo trong gío lạnh bên những thành đá chênh vênh ngạo nghễ. Tam hiệp buông lỏng cương men độc đáo dọc chân dãy núi hùng dũng như những võ sĩ khổng lồ vươn mình hiên ngang nhìn vũ trụ.

Âu Dương Nữ ca ngợi luôn miệng :
- Đẹp tuyệt! Cảnh sắc không thua gì Tung Sơn và Thập Vạn! Đây là đâu thế cô muội?

Lam Y đáp :
- Toàn khu này là Mã Dương Cường, còn ngọn núi lớn nhất ta vừa vòng qua là Thái Sơn, danh tiếng của đất Sơn Đông.
- Hồi nãy, khi ta mới trông thấy dãy núi là thuộc đất Trực Lệ, bắt đầu từ chân núi thuộc đất Sơn Đông.

Tới trưa mới ra khỏi núi và bắt đầu vào khu vực huyện Hình Thai. Độc đạo gập ghềnh quanh co giữa vùng sơn cước, thông reo suối bạc, gió ngả lưng đồi. Đây đó, mấy nếp tranh ẩn hiện dưới rặng trúc, liễu xanh rờn lả lướt. Bầy hạc trắng lượn chán quanh vùng ngả cánh đậu xuống rừng tòng bát ngát vi vu tiếng sáo ngàn muôn thuở. Dưới gốc hòe cành lá um tùm cao ngất, bên phía đá nhẵn như mài, mấy vị lão trượng râu tóc bạc phơ, cốt cách thần tiên, ung dung thư thả đạo mấy ván cờ bên hồ rượu cốc. Không ai bảo ai, các lão trượng cùng ngừng nhìn đoàn người ngựa lộp cộp đi qua.

Chu Đức Kiệt xuống ngựa, tiến đến bên cung bái :
- Thưa lão trượng, gần đây có thôn xóm nào khả dĩ khách viễn hành có thể ngừng chân dùng bữa.

Lão trượng nhìn qua tráng sĩ, đoạn chỉ tay qua phía trước :
- Tráng sĩ sắp ra khỏi dãy núi rồi. Cách đây vài chục trượng, là Dĩ Sơn thôn có tửu điếm, thịt rừng.
Đức Kiệt bái tạ lên ngựa cùng Lam Y, Âu Dương đổ dốc, quả nhiên tới một thôn sơn vài mươi nếp tranh gọn ghẽ. Ngay đầu thôn, lá chiêu kỳ Dã Sơn điếm phất phới bên khóm trúc.

Tam hiệp cột ngựa dưới gốc trúc, vào tửu điếm gọi rượu thịt uống. Lam Y nhìn quanh, đoạn hỏi Đức Kiệt :
- Hiền huynh, mấy năm trước qua đây hình như không có điếm này.
- Phải, mới mở đó. Trước đây, khu này chỉ lác đác vài nếp tranh suông.

Vừa lúc ấy, chủ điếm ra tới nơi, nghe vậy liền nói xen vào :
- Thưa tráng sĩ và nhị vị nương tử, trước kia chúng tôi ở sâu trong núi, sau thấy người qua lại nhiều hơn, nhất là từ Trực Lệ vào Hình Thai huyện nên dọn cả tới đây là nơi trú chân đón khách diễn hành.

Đường xa đói bụng, Tam hiệp ăn uống một chặp no nê. Lúc trả tiền, chủ điếm nói :
- Từ đây vào tới Hình Thai qua một chặng đường dài mới tới quán trọ, quý khách nên lấy thêm một ít thịt khô, bánh nướng đem theo.

Lam Y, Âu Dương Bích Nữ ưng thuận lựa chọn mấy thứ và hồ rượu lớn đem theo. Nghỉ ngơi giây lát cho ngựa ăn lá tre non uống nước. Tam hiệp lên đường nhằm nẻo Hình Thai.

Đến cuối giờ Mùi, đường bằng phẳng dễ đi hơn toàn rừng thưa, đồi thấp. Bỗng từ ven rừng, một con cáo đen tuyền lông dài bóng nhẫy chạy vụt qua mặt Bích Nữ. Rút vội cung tên, nàng la :
- Chú cáo này bạo thật!

Con thú lanh lẹ đã chạy được một quãng xa.

Tách! Tiếng dây cung khô khan buông. Mũi tên bay theo trúng mông cáo, nhưng con thú cắp tên chạy mải miết. Bích Nữ xô ngựa rượt theo. Anh em Chu gia cũng phóng ngựa theo luôn. Con cáo lẹ lắm, lúc ẩn lúc hiện trong các khóm cỏ mải miết chạy dài. Tam hiệp không bỏ nhất định đuổi... đuổi mãi... Bích Nữ lăm lăm tay cung sẵn sàng bắn nữa, nhưng con thú lẩn trong cỏ rậm khó nhìn, bắn cũng vô ích. Nàng dừng ngựa nói :
- Thôi, tha cho nó. Đáng tiếc, bộ da lông đen tuyền ấy thuộc chắc đẹp lắm.

Đức Kiệt, Lam Y dừng ngựa. Bích Nữ quay đầu Bạch Hồng mã toan trở lại lối cũ, thì Lam Y đã ngăn lại :
- Hiền tẩu khoan đã. Kìa, xa xa thứ gì như muôn vạn bướm cánh bướm trắng thế kia.

Hai người cùng nhìn ra phía Lam Y vừa chỉ. Quả nhiên sau mé đồi thật xa, một đàn bướm trắng tinh, lớn bằng đám mây, đang bay nổi bật trên nền lá xanh rì. Chu Đức Kiệt nói :
- Ủa, bướm bay mà sau cả đàn cứ đứng nguyên chỗ vậy? Kỳ quá.

Lam Y bứt bạch mã lên trước :
- Lại đó xem sao đi?
Tam hiệp phi ngựa xuống dốc. Bầy bướm trắng bị trái đồi gần đó che khuất hẳn.

Tam hiệp cứ thẳng hướng ấy vượt luôn ba trái đồi thoai thoải cỏ xanh rờn. Tới đỉnh đồi thứ ba, Lam Y reo lên :
- Ồ! Cả một rừng mai lớn!

Mà thế thật, một rừng mai lớn dàn ra trước mắt ba người, ngay mé dưới chân đồi. Gió ngược chiều tạt hương mai thanh khiết lên tận chỗ Tam hiệp.

Bích Nữ hít một hơi dài :
- Chà! Hương mai nhẹ nhàng quá! Ta vào rừng mai xem có gì không đi.

Chu Đức Kiệt, Lam Y đồng ý. Ba người bỏ lỏng cương ngựa đủng đỉnh xuống đồi vào thẳng rừng mai chi chít. Những gốc cổ mai khúc khuỷu uốn éo tuyệt đẹp, cánh mai rụng đầy trên mặt cỏ làm nổi bật cả hai màu xanh trắng.
Lam Y nhìn quanh nhận xét :
- Từ nãy đến giờ, tiểu muội chú ý nhận xét, tuyệt nhiên không thấy vết chân người. Chẳng lẽ không một ai qua đây ư?

Chu Đức Kiệt nói :
- Có thể lắm. Hai ba ngả đường thông ra Trực Lệ ở cả ngoài xa. Còn lối này có lẽ không thông đi đâu hết nên không người qua lại, và chưa biết chừng chẳng ai biết nơi này có rừng mai. Ngay như chúng ta, nếu Bích Nữ không ham đuổi cáo thì đâu có khám phá ra khu vực kỳ lạ này.

Lam Y nhìn trời :
- Sắp hoàng hôn rồi. Đêm nay có lẽ chúng ta ngủ ngoài trời, giữa muôn vạn bông mai thơm ngát.

Nàng bỗng lắng tai nghe :
- Kìa, hình như có tiếng suối róc rách đâu đây!

Bích Nữ nói :
- Ngựa chạy một thôi dài chắc khát nước. Ta buông cương tự khắc nó theo hơi nước tìm đến nơi có suối.

Ba con tuấn mã nối đuôi nhau vượt qua hai trái đồi thấp nữa. Bích Nữ reo lên :
- Suối kia rồi!
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 2
 
Posts: 295
Joined: Mon Nov 28, 2011 11:46 pm
I am: Professional

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp

Postby Editor 2 » Sun Aug 17, 2014 10:39 pm

(Tiếp chương 41)

Làn suối nhỏ trong vắt, róc rách chảy ngay chân đồi. Ba tuấn mã hí lên mấy tiếng mừng được giải khát. Chúng rảo bước xuống bên bờ suối. Tam hiệp xuống ngựa, mặc ba con tuấn mã tinh khôn uống thỏa thuê.

Ba người cùng quỳ cả bên bờ suối vực nước uống, vót nước rửa mặt, dễ chịu. Xem chừng ngựa đỡ khát rồi, Tam hiệp cầm cương kéo lại không cho uống thêm nữa. Theo phép nuôi ngựa, khi đi đường trường, kỵ sĩ chỉ cho ngựa uống đã khát chớ không được mặc chúng uống đến no mới thôi vì có hại cho sức dẻo dai của chúng. Ba người dắt ngựa đi vòng theo bờ suối, được một quãng dài thì bỗng không ai bảo ai mà cùng la lên :
- Ồ! Có nhà kia rồi.

Sau bức tướng thấp loang lổ rêu phong, chồi lên mấy dãy nhà mái ngói. Gần chân tường có nhiều cây lớn um tùm.

Chu Đức Kiệt nói :
- May quá ta xin vào trọ qua đêm, khỏi phải ngủ ngoài trời sương hôm lạnh lẽo.
Tam hiệp dắt ngựa vòng theo bờ suối sang tới đầu bên kia, thì có chiếc thạch kiều rêu phủ.

Lam Y nhìn quanh :
- Lạ nhỉ, có nhà tất phải có người. Cớ sao không có lấy một đường mòn nhỏ?
Cổng trại lặng lẽ đó ở bên kia thạch kiều, cách đầu cầu dài bốn trượng. Ba người dắt ngựa lên cầu. Bích

Nữ đi trước. Đến giữa cầu, nàng chỉ lên gầm cầu mà rằng :
- Kìa, lạ chưa, có nhiều thỏi kim khí ngâm rải rác trong lòng suối.

Nàng đứng nguyên chỗ cũ, xua con Bạch Hồng mã xuống cầu vào lối cổng để lấy chỗ cho Lam Y, Đức Kiệt.
Anh em Chu gia chăm chú nhận xét những thỏi kim khí xam xám màu thép qua làn nước trong veo.
Chu Đức Kiệt nói :
- Chắc chắn đây là những thỏi thép.
Lam Y đồng ý gật đầu. Bích Nữ hỏi :
- Thép ngâm nước mà không han sắt tất là nguyên chất. Thứ này người thường đâu có đúc nổi.

Lam Y nhìn Bích Nữ :
- Hiền tẩu định nói về lối luyện thép của thuật gia?
- Đúng thế. Chiêu Đức thiền sư có giảng cho ba anh em tôi phương pháp luyện thép nguyên chất không bao giờ bị han.

Lam Y hỏi :
- Nhưng những thỏi ngâm dưới suối này cũng chưa hẳn nguyên chất đâu. Thúc thúc rành nghề này lắm. Ngôi trại nhỏ này có lẽ của thuật gia luyện thép? Nếu không, tại sao có những thỏi thép quý giá này? Lát nữa vào trọ, ta sẽ biết.

Tam hiệp xuống thạch kiều, đi thẳng vào cổng trại. Hai cánh gỗ dày dặn đóng kín, cỏ mọc che kín cả khe dưới cửa. Tam hiệp cố tìm tòi quanh cổng nhưng không thấy tên trang, trại chi cả. Lam Y nghi ngờ :
- Tiểu muội có cảm tưởng như ngôi tiểu trại này hoang phế, không vết chân người qua lại nơi cửa. Ngay cả chiếc thạch kiều cũng rêu phong mặt đá...

Chu Đức Kiệt bảo :
- Để ngu huynh gọi cổng xem sao.
Dứt lời, chàng đập cổng gọi lớn :
- Mở cổng dùm! Có ai trong nhà không?

Chàng gọi nhiều lần. Bên trong hoàn toàn im vắng.

Lam Y lắc đầu :
- Gọi đến khản cổ cũng thế thôi. Hiền huynh tẩu cùng tiểu muội lên cả mặt tường xem sao.
Tam hiệp phi thân lên mặt tường nhìn vào.

Cảnh hoang phế rõ rệt. Sân đất rộng có lẽ trước kia phẳng lì nay cỏ mọc loang từng đám lớn. Ba dãy nhà cất theo hình chữ “môn” còn chắc nguyên không hề suy chuyển. Đức Kiệt nhảy xuống sân rút hai then chặn mở một cánh cổng đủ người, ngựa đi lọt. Cánh cổng mở ra đến đâu cỏ mọc bị dạt ngang ra đến đấy.

Lam Y Bích Nữ nhảy xuống phía ngoài dắt con ngựa qua sân cột ở lan can hiên nhà chính giữa. Màng nhện chăng dài cả trong hiện. Tam hiệp nhìn quan, đoạn đủng đỉnh lên thềm nhà mở cửa bước vào. Mùi mốc xông lên khó chịu, mấy chiếc nhện kếch sù bị động bò lung tung mé bên cánh cửa. Bên trong là sảnh đường hình chữ nhật, choán cả chiều dọc căn nhà. Đồ đạc bị xô lệch nhưng con nguyên, bụi bặm gớm khiếp.

Nhìn qua cách bày trí đủ biết ngôi sảnh đường này trước kia trang nhã. Mấy chiếc đèn lồng kính còn treo cả trên cột, trên tường. Đức Kiệt vớ tay lấy một chiếc xuống mở lồng kính lắc bầu đèn lắc thử :
- Dầu cạn rồi, giá kiếm được thùng dầu thì hay quá.

Tam hiệp sang dãy nhà ngang bên tả, đẩy cửa từng phòng vào xem :
- Phòng nào đồ đạc cũng nguyên duy có rương, màn, chiếu chăn đệm thì biến đâu mất hết.
Bích Nữ nói :
- Có lẽ người nào ở đây trước kia đã dọn dẹp đi nơi khác?

Hai gian cuối cùng là nhà bếp và kho chứa các vật dụng, nhất là sắt, thép chất thành đống lớn. Lam Y chỉ mấy đống kim khí.

Chủ nhân tất là người chuyên đúc các vật dụng bằng thép. Chắc là nấu thép ở dãy nhà bên hữu.

Bích Nữ gật đầu :
- Đồng ý với cô muội. Có điều lạ là sao người đúc dụng cụ bằng thép lại ở riêng biệt trong giữa rừng mai kín đáo vắng vẻ này?
Chu Đức Kiệt bê mấy chiếc vò để trong góc nhà lên lắc thử thấy còn nước, liền mở nút coi :
- A, dầu đây rồi.

Trong khi chàng xách vò dầu lên nhà giữa đổ vào đèn, Lam Y, Bích Nữ xem xét nốt căn bếp. Mấy thạp gạo còn đầy nguyên nhưng gạo thì mốc mục hết trọi. Hai người trở lên nhà giữa. Chu Đức Kiệt đã đánh lửa thắp cả mấy chiếc đèn lồng sáng trưng. Ngoài trời tối hẳn, sương đêm phủ mờ mờ lạnh lẽo.

Chu Đức Kiệt nói :
- Có lò đốt lửa trong góc nhà kia kìa. Lam Y và Bích Nữ hãy xuống nhà kho tìm xem có củi không, lấy lên đốt cho ấm, trong khi ngu huynh ra đóng cổng và dắt ngựa lên hiên nhà tháo hành lý, yên cương. Xong xuôi, ta sẽ sang xem nốt dãy nhà bên kia.

Người nào việc nấy, lát sau lò lửa đã cháy lớn sưởi ấm căn khách sảnh. Bích Nữ nóng ruột giục :
- Nào, bây giờ đi xem nốt dãy nhà ngang kia rồi sửa soạn ăn tối đi chứ? Đói rồi!
Nàng với tay lên tường lấy hai chiếc đèn, đưa cho Đức Kiệt một, đoạn cả ba người ra khỏi khách phòng, qua sân sang dãy nhà ngang,. Tam hiệp nhằm căn phòng đầu có cánh cửa hé mở tiến tới. Gió lạnh thổi từng cơn lùa vào trong phòng ấy, cánh cửa đưa đi đưa lại bật lên những tiếng cọt kẹt, rên rỉ khung cảnh cô liêu càng khiến khu trại hoang phế thêm phần ảm đạm.

Rầm! Tam hiệp vội quay lại xem chuyện gì. Chu Đức Kiệt, Bích Nữ giơ đèn lên soi. Thì ra cánh cửa phòng đầu bên kia bị gió lùa tung ra, cánh quật vào tường.

Ba người vội rảo bước sang đầu nhà ấy trước soi đèn nhìn vào. Đó là căn phòng nhỏ có hai chiếc giường, nhưng bụi bậm gớm khiếp màng nhện chằng chịt. Vào hẳn trong phòng, Chu Đức Kiệt nhìn qua các vật dụng bày trên mặt bàn, mở ngắn rút tìm xem có cuốn sổ sách nào khả dĩ giúp ba người tìm ra lịch sử khu trại hoang phế này chăng. Lam Y cũng mở cánh cửa tủ nhỏ bầy trong góc nhà. Một con chuột lớn, không biết trú trong ấy từ bao giờ, nhảy vụt ra vội quá chúi phải chân nàng... nhưng nàng thấy kịp nhảy sang bên lánh. Đức Kiệt giật mình quay phắt lại :
- Gì thế?

Lam Y cười rúc rích. Bích Nữ cũng cười theo :
- Con chuột kếch xù.
- Trời ơi! Thế mà nhảy vội làm ngu huynh tưởng có sự gì nguy hiểm.

Lam Y, Bích Nữ lại tiếp tục kiểm soát trong tủ. Lam Y lấy mũi kiếm gạt mấy thứ áo quần bị chuột nhấm nát nhừ xuống đất, thấy trên mặt ngăn tủ chỉ có mấy quan tiền. Hai nàng đã toan bỏ qua thì Chu Đức Kiệt đứng xa để trông lên ngăn trên hơn, la :
- Kìa, ngăn trên cùng có cuốn sổ sách gì đó, lấy xuống coi!

Lam Y với tay lấy được hai cuốn sổ, đập hết bụi bậm đưa cho Đức Kiệt. Nhìn qua không thấy gì lạ, Tam hiệp ra khỏi nơi ấy, sang đầu nhà bên kia. Chu Đức Kiệt nói :
- Căn phòng vừa rồi không có cửa thông bên trong mà có vách ngăn bắn ra, nhỉ?

Bích Nữ lẩm bẩm :
- Có lẽ chủ nhân và nhân viên trại nhỏ này bị phường lục lâm bắt đi hết. Chắc chắn không phải họ tự ý dọn đi nơi khác, các vật dụng thường ngày còn nguyên cả, đồ đạc cần thiết cũng vậy.

Chu Đức Kiệt đính chính :
- Không hẳn thế. Đồ đạc, vật dụng kềnh càng bị bỏ lại, nhưng các vật nhỏ có được đem đi. Do đó, ngu huynh chắc không phải bọn lục lâm tặc đạo đã tới đây. Không khi nào chúng màng tới các vật dụng vặt ấy. Kết luận rằng chính người nhà đã bỏ đi sau một vụ biến chuyển gì đó.

Đẩy rộng thêm cánh cửa kêu kẽo kẹt, Bích Nữ soi đèn đi trước rồi tới Lam Y, Đức Kiệt lần lượt kẻ trước người sau bước vào bên trong, nhưng không ai bảo ai mà cùng lùi lại một bước. Rải rác trên mặt gạch trong căn phòng khá rộng, toàn là thứ xương người khúc thì vàng ệch, khúc thì trắng hếu. Ba chiếc sọ người trơ trọi, bên mấy đống tóc rối bù, lỗ mắt đem ngòm, hai hàm rằng ngoạc đến mang tai, chỏng chơ trên mặt gạch. Một chiếc ở ngay gần cửa ra vào, hai chiếc kia gần góc phòng có cửa ra vào ăn thông sang căn phòng xép.

Chu Đức Kiệt bước vào cầm đèn soi qua thấy trong ngăn ấy có mỗi chiếc giường chõng trơ trọi, bèn quay trở ra tìm đinh mắc ngọn đèn lồng lên rồi cùng với Lam Y, Bích Nữ quan sát. Lam Y chỉ cái lò lửa xây kiểu bát quái choán một phần ba căn phòng rộng rãi bày trí sơ sài mà rằng :
- Với cái lò này, ta có thể chắc chắn chủ nhân nhà này là một người chuyên môn nghề đúc kim khí. Hai bên tả, hữu đều có cửa và đường dần cho thép chảy ra, thoát ra.

Nàng cúi xuống nhìn vào cửa lò ở phía trước, không thấy gì lạ, ngoại trừ tiếng chuột lúc nhúc bên trong. Bích Nữ chỉ chiếc sọ gần cửa bảo Đức Kiệt :
- Hai cái sọ trong kia nguyên vẹn không nói làm gì, nhưng chiếc này đúng bị chém, trông xương cổ thì biết phải không Chu lang?

Đức Kiệt khẽ gật đầu :
- Tại đây đã xảy ra một vụ giết người ghê gớm. Hai cái sọ trong kia tuy không bị vết chém ở cổ nhưng có lẽ nạn nhân đã bị đâm chết ngoại trừ cái cán cây đã mục nát kia, không có một món vũ khí nào khác bỏ lại trong phòng, đủ biết nhưng người này bị giết trong tình trạng không được tự vệ. Xương cốt lẫn lộn lung tung, không khéo còn những xác bị chuột, cáo, mèo rừng lôi đi cũng không biết chừng.

Lam Y mở hai cánh tủ đứng kê giáp tường. Nàng gọi :
- Huynh tẩu coi này!
Hai người vội tiến tới coi. Trong tủ bày toàn dụng cụ luyện thép.

Lam Y nói :
- Chắc chủ nhân trại này đã bị hạ sát và là một trong mấy xác chết ngổn ngang trong phòng.
Bích Nữ gật đầu :
- Cô muội nói chí phải. Vì nếu chủ nhân còn sống dọn đi tất phải đem hết các dụng cụ cần thiết nhà nghề này theo.

Chu Đức Kiệt nói :
- Người chuyên môn luyện thép nào đây hẳn là một thuật gia chớ không phải người thợ rèn thường đâu. Người đó và gia đình ở trong khu vắng vẻ không người qua lại này hẳn không ngoài ý định thành ẩn sĩ. Vậy kẻ nào đã lần mò tới đây gây cuộc đổ máu đầu rơi? Một việc báo thù huyết hận chăng?

Tam hiệp không tìm được dấu tích gì hơn bèn rủ nhau trở ra lên cả nhà trên. Lam Y cho thêm củi vào lò lửa.
- Huynh tẩu lấy túi da ra suối múc ít nước vào dùng, sẵn lửa đây tiểu muội nướng thịt bánh lại cho nóng dễ dùng hơn.

Lát sau, ba người trải khăn da ra, ngồi ngay ở giữa nhà dùng bữa, vừa ăn vừa uống hồ rượu mà Lam Y mua đem theo hồi trưa. Xong bữa, Chu Đức Kiệt lấy hai cuốn sổ lượm được trong tủ lúc nãy xem. Đó là hai cuốn sổ tay, chữ xấu. Ghi những số thép cân lượng bao nhiêu, cho vào lò nấu ngày nào, lấy ra ngày nào.

Cũng có khoản ghi những số thép hạ thủy ngoài suối, loại tốt, trung bình, xấu được ghi chép rất rõ ràng.

Chu Đức Kiệt mở đi mở lại các trang sổ cố tìm xem người viết có ghi tên tuổi gì không.

Đức Kiệt đưa cuốn sổ cho Lam Y, Bích Nữ xem. Chàng nói :
- Tính từ năm ghi lần cuối cùng trong sổ này cho đến nay được mười năm rồi. Người giữ cuốn sổ này là kẻ chịu trách nhiệm về phần thép và đã mệnh chung cùng chủ nhân trong căn phòng có lò nấu kim khí.

Bích Nữ nói :
- Những nhân vật trong trại nhỏ này trước đây đã làm gì? Giả thuyết họ rèn các vật dụng này bằng thép, sắt không đứng vững vì người thợ rèn dù chuyên môn đến đây cũng không cần đến một lò nấu thép xây dựng có phương pháp như lò lửa ở nhà ngang kia, hơn nữa họ không cần lọc sắt, hay thép, kỹ càng đến nỗi ghi tỉ mỉ số thép đã nấu, lọc ngâm nước từng năm một như chủ nhân cuốn sổ này.

Lam Y gật đầu :
- Phải rồi, tẩu tẩu suy nhận trúng ý tiểu muội. Những kẻ bạc phước chết phơi xương trong căn phòng kia chắc chắn là những thuật gia rành môn đúc, luyện thép để tạo thành một thứ báu khí chi đó. Báu khí ấy tất là những món võ khí chớ chẳng sai. Họ đã bị kẻ thù hạ sát ư?

Chu Đức Kiệt nói :
- Không. Nói đến thù thì không đúng. Giả thuyết ấy không phù hợp. Chẳng lẽ mấy người bị hạ sát bên lò đúc thép cũng có thù ư? Nếu kẻ thù muốn hạ sát toàn gia cớ sao chúng ta không thấy nhiều bộ xương khác rải rác chỗ này chỗ nọ?

Bích Nữ hỏi :
- Suy luận như vậy, Chu lang muốn đặt giả thuyết nào? Phải chăng định nói rằng tên sát nhân đã len lỏi vào tới đây đoạt các báu khí, bị ngăn cản nên ra tay hạ sát luôn?

Lam Y nói :
- Ta có thể suy đoán thế này: sát nhân tất là một người bản lãnh mới biết ưa thích báu khí. Sẵn có bản lãnh, len lỏi được tới đây, kẻ đó có thể chờ đêm khuya khoắt, trổ tài nghệ vào lấy mấy thứ võ khí quý báu, ao ước đó rồi đi thẳng, cần gì phải hạ sát mấy người.? Theo ngu ý tên sát nhân sau khi đoạt được báu khí ròi, đâm ra ích kỷ hạ sát luôn mấy thuật gia chuyên môn là những người đã tạo ra các món võ khí quý báu đó, nhưng mong được chiếm độc quyền báu vật. Huynh tẩu nghĩ phải không?

Chu Đức Kiệt vừa giở từng tờ một cuốn sổ thứ nhì vừa nói :
- Kết luận thế, theo tình trạng, đúng hơn cả các giả thuyết khác. Sát nhân là một kẻ bản tánh thâm độc. Bực mình không thể suy luận ra các thuật gia ấy đã tạo nên những bảo khí gì!

Lam Y, Bích Nữ im lặng suy nghĩ. Đức Kiệt chăm chú đọc cuốn sổ tay hồi lâu, bỗng chàng giật mình kêu lên một tiếng “a”.
Lam Y vội hỏi :
- Thấy gì vậy hiền huynh.
- Thiệt không ngờ! Hiền muội và Bích Nữ coi này!

Nói đoạn, chàng đưa cuốn sổ, chỉ vào trang giấy cho hai người coi :
- Thiệt là không ngờ! Hoàn toàn không ngờ!

Lam Y, Bích Nữ hai nàng châu đầu cùng đọc mấy dòng chữ nguệch ngoạc ghi trên trang giấy:
“Đệ tứ Thái bình chỉ Đại gia tử hoàn tất
Canh Tuất niên: Ngũ Nguyệt sơ thật nhất”.

Lam Y trao cả hai cuốn sổ cho Đức Kiệt :
- Hừ! Quả thật không ngờ nơi đây lại là lò sản xuất Thất Tinh đao. Cây đao thứ tư ghi trong cuốn sổ tay hẳn không phải là Chu huynh...

Nàng chìa bàn tay ra tính năm, đoạn nói :
- Phải rồi. Cây đao của hiền huynh do Sư phụ ban cho đã có từ trước. Từ năm Canh Tuất giáp trước đến đây bây giờ vừa chẵn mười năm

Tiếng mười năm đã nhắc Lam Y nhớ lại một sự kiện xảy ra tại Bình Dương huyện. Nàng hỏi :
- Hiền huynh có nhớ hôm anh em ta đi dưng hương Bình Sơn tự không?
Đức Kiệt gật đầu :
- Có chứ. Ngu huynh nhớ vụ đó như mới xảy ra ngày hôm qua. Bữa ấy sau khi từ tạ Minh Chiêu hòa thượng, ra về thì gặp Lôi Vân Long và trận đánh đã diễn ra ác liệt.
Lam Y nói :
- Hiền huynh không ngờ Lôi Vân Long có bản đao Thất Tinh.
- Ai mà ngờ nỗi thường ngày y vẫn dùng đao thường. Hôm đó, y định bất ngờ hạ ngu huynh, dùng Thất Tinh đao chém đôi thanh đơn đao của ngu huynh, thì vừa hay hiền muội đến kịp tiếp tay dùng Thất Tinh trị Thất Tinh.

Lam Y suy nghĩ giây lát :
- Có lẽ cây đao đệ tứ ghi trong cuốn sổ này là cây ta đoạt được của họ Lôi. Trước kia Vân Long không có báu đao và bỗng dưng hôm đó dùng Thất Tinh muốn nhờ sức bảo đao hại hiền huynh. Vậy y mới có thanh đao ấy chớ gì?
- Tính thời gian, tiểu muội thấy hoàn toàn phù hợp với lúc Lôi Vân Long có báu đao. Vậy ta có thể đặt câu hỏi: “Phải chăng Lôi Vân Long kẻ sát nhân đã hạ sát mấy thuật gia trại này?”.

Chu Đức Kiệt gật đầu :
- Thất Tinh đao đệ tứ là thanh đao của Lôi Vân Long chăng. Có thể lắm. Y ngẫu nhiên được thanh đao ấy, hay chính y đã lần mò tới đây hạ sát mấy người dưới nhà ngang kia đoạt báu khí?

Lam Y nói :
- Xưa nay Vân Long vẫn ghen tị với Chu huynh về Đơn đao pháp, tất nhiên y phải nghĩ rằng nếu có báu đao y sẽ giành thắng lợi. Họ Lôi lên đường tìm kiếm và đã thành công. Trở về Bình Dương huyện, Vân Long vẫn tự theo dõi hiền huynh. Hôm xảy ra vụ giáp chiến trên đường Bình Sơn tự, y cố ý gây chiến cũng vì cậy có báu đao Thất Tinh, chẳng dè bị thất bại nặng nề. Nếu chúng ta không có cây Thất Tinh của thúc phụ ban cho thì có lẽ cán cân tranh đấu đã nghiêng hẳn về bên Lôi gia rồi.

Đức Kiệt suy nghĩ giây lát :
- Vân Long tánh tình độc ác, có lẽ y đã lạc vào khu rừng mai, vô tình khám phá ra trại nhỏ này, đoạt bảo đao, hạ sát các thuật gia với mục đích duy nhất tiêu diệt người đã tạo ra nổi thứ bảo khí đó để giữ độc quyền Thất Tinh đao. Với thứ đao đặc biệt này, Đơn đao pháp sẽ vượt bực Chu gia đao trở thành vô địch Sơn Đông, Trực Lệ, Hà Bắc.
- Thời gian ghi sau cùng trong hai cuốn sổ phối hợp với thời gian vụ chiến đấu trên đường Bình Sơn tự. Ta có thể lượng đoán tên sát nhân khát máu kia là Lôi Vân Long.

Lam Y đáp :
- Giả thuyết ấy đúng. Tiểu muội cũng nghĩ vậy.
Từ nãy, Bích Nữ nghe hai anh em Chu gia suy luận, không hiểu câu chuyện thế nào bèn hỏi :
- Lôi Vân Long là ai? Đầu đuôi câu chuyện thế nào?

Lam Y kể chuyện hai họ Chu, Lôi ở Bình Dương cho nàng nghe.

Bích Nữ nổi giận, mặt đỏ bừng bừng :
- Chuyến này về Bình Dương, ta sẽ tìm Lôi Vân Long đánh cho y thất điên bát đảo một trận.

Lam Y nói :
- Sau trận trên Bình Sơn, Lôi Vân Long theo Bát Quái đạo sĩ đi mất rồi. Nhờ sự dàn xếp khéo léo của huyện quan Thẩm Ngọc Thụ, dân Bình Dương hiện thời hòa hợp, không còn chia thành hai khu vực gây lộn với nhau như trước nữa.
- Tuy vậy, nếu gặp Vân Long, chắc thế nào y cũng gây chiến báo thù cái nhục trên đường Bình Sơn tự.
Nàng chưa nói dứt câu, bỗng Chu Đức Kiệt vùng dậy chạy vụt ra cửa giữa, băng qua hành lang xuống sân.

Ngạc nhiên, Lam Y, Bích Nữ cũng chạy ra theo xem việc gì.
Chu Đức Kiệt đứng giữa sân nhìn quanh.

Bích Nữ toan hỏi thì chàng đã nói nhỏ :
- Hai người thử lên nóc nhà xem có gì lạ không? Lẹ lên!

Tức thì, Lam Y phi thân lên nóc nhà giữa chạy sang nóc dãy nhà ngang bên hữu. Bích Nữ hành động theo, chạy sang nóc dãy nhà ngang bên tả nhìn xuôi, ngó ngược hồi lâu không thấy chi lạ, mới nhảy xuống sân cùng Đức Kiệt trở vào nhà.

Trời tối như mực, gió phần phật lạnh. Tiếng côn trùng ầm ỹ thê lương.
Lam Y hỏi Đức Kiệt :
- Việc gì thế, hiền huynh?

Vừa rồi chợt nhìn ra sân, ngu huynh thấy một bóng lom khom nhưng đi khá lẹ qua sân ngay chỗ ngu huynh đứng. Chạy vội ngay ra xem thì tuyệt nhiên không thấy gì cả.
Lam Y lẳng lặng nhìn Đức Kiệt.

Bích Nữ nói :
- Hay là chợt nhìn ra ngoài rồi, Chu lang hoa mắt chăng?

Đức Kiệt lắc đầu :
- Làm gì có chuyện hoa mắt! Cửa mở, ánh sáng đèn trong nhà xuyên ra tận quá giữa sân. Bóng người mà ngu huynh trông thấy đi rất lẹ, vút qua ánh sáng mờ mờ.
- Lạ quá nhỉ! Dù bóng đó đi hay chạy nữa, lẹ tới đâu cũng không thể qua nổi sân rộng trước khi Chu lang ra tới thềm nhà.
- Theo ý ngu huynh thì dù bóng đen ấy có lẹ cũng chỉ đi qua ánh đèn sáng được chừng vài bước là ngu huynh xuống tới sân rồi.

Lam Y chậm rãi :
- Tiếc quá! Giá biết chuyện ngay lúc ấy thì tiểu muội lục soát lại ngay cả nhà ngang có mấy bộ xương đó xem sao.

Đức Kiệt nói :
- Vô ích! Dù có bay, bóng người nào đó cũng không vào tới căn nhà đó trước khi ngu huynh ra đến sân. Nên để ý sự kiện này: không có cây cối gì ở sân khả dĩ bóng đen ẩn núp được cả nhé.

Bích Nữ buông xõng :
- Ma chăng! Hừ... Lúc mới đến chúng ta lục soát khắp mọi nơi, hoàn toàn không thấy dấu vết gì hết. Khu trại bị hoang phế từ lâu... Nay bỗng nhiên có bóng người đi ngang sân! Người khác nói thì còn nghi ngờ họ bị hoa mắt, nhưng người nhìn thấy rõ ràng đây là Chu lang, chắc chắn không mơ hồ. Kết luận, trừ ma ra, người thường không thể nào “biến” ngay như vậy được!

Lam Y tiếp lời Bích Nữ :
- Tỉ dụ bóng đen đó là một tên gian tế ẩn núp trong khu trại hoang phế này cũng không khi nào dại dột bằng qua sân như vậy. Chúng ta ngồi trong nhà sáng, y ở ngoài tối thiếu chi nơi núp? Có lẽ ma thật sự rồi! Tuy tiểu muội chưa bao giờ gặp ma, nhưng cũng kết luận và tin rằng bóng đen đi lom khom mà lẹ làng đó là... ma!

Bích Nữ nói :
- Nhà bỏ hoang ngay giữa nơi hẻo lánh có lẽ quanh năm không có bước chân người! Hồn ma bóng quế thường hay trú ẩn quanh quẩn trong các nhà này... Kìa, Chu lang nghĩ gì mà thần người ra vậy?

Đức Kiệt đang vòng hai tay ra trước đầu gối, chăm chú nhìn mũi ủng, nghe Bích Nữ nói, bèn ngửng đầu nhìn giây lát mới chậm rãi nói :
- Bóng đen qua sân hồi nãy có lẽ là hồn oan một trong mấy người bị hạ sát mà ta đã thấy. Oan hồn của vị thuật gia chủ nhân khu tiểu trại này chăng? Có lẽ! Bị chết oan, linh hồn mất kẻ bạc phước ấy không tiêu tan, lẩn quất không ra thoát nơi mà họ đã sống êm đềm cùng gia đình thân mến. Hồn ma u uất, suốt bao năm trường lẩn quẩn trong khu nhà rộng rãi hoang phế giữa rừng mai. Nay bị bọn ta làm nhộn, vong hồn chủ nhân đã hiện ra trước mắt cho mà trông thấy đó! Biết đâu, đêm đêm hay những đêm mưa dầm gió bấc tối âm u, mấy oan hồn kia không thơ thẩn khắp đó đây trong khu trại hoang phế nhớ tiếc mấy sự gì, nhớ tiếc thế giới loài người mà những hồn oan ấy đã bất chợt phải từ bỏ một cách đột ngột dưới lưỡi đao sát nhân.

Ngoài hiên ba con tuấn mã ngủ yên, thỉnh thoảng lại thở phì nghe rõ mồn một. Bỗng chúng giật mình, loạc choạc móng đập xuống sàn gạch dưới hiên. Chúng xao động mãi không thôi y hệt như đánh hơi thấy lạ...

Tam hiệp chú ý lắng nghe lẳng lặng nhìn nhau. Lam Y nóng ruột không nghe ngóng nữa. Nàng vẫy tay, êm ả ra hiệu cho Đức Kiệt, Bích Nữ tắt đèn. Đèn tắt phụt. Trong nhà ngoài sân đều tối om, cái tối đem lại ghê rợn cho những kẻ nhát gan. Bầy tuấn mã vẫn lục sục bất thường.

Tam hiệp nhón nhén không một tiếng động nhỏ, lần lượt lẻn ra ngoài hiên.

Lam Y đi trước. Nàng rẽ sang đầu hiên nhà bên hữu lặng lẽ êm ru. Nếu lúc bấy giờ, có ai ẩn núp quanh đấy, trông thấy họ cũng phải rùng mình gáy rợn tưởng là ba bóng ma đen chùi chũi.

Hình như đánh thấy hơi chủ, bầy tuấn mã yên trí hơn không xáo động nữa. Tam hiệp nhìn tối rất tinh tường, núp cả sau cây cột gạch lớn ngoài đầu hiên nhà, quan sát khắp mọi nơi. Màn đêm dày đặc, sương mờ phủ, cảnh vật tiêu điều u ẩn giữa một nơi hoang phế. Gió thổi từng đợt nhẹ quyện hương mai ngây ngất.

Đứng nhận xét hồi lâu, Tam hiệp không thấy gì lạ cả. Lam Y vừa toan ra hiệu trở về nhà thì cùng một lúc với Đức Kiệt, Bích Nữ trông thấy ở trên hiên đầu nhà dãy nhà ngang phía đối diện, nơi có lò bát quái và mấy bộ xương người phảng phất bóng ai chập chờn qua lại...

Tưởng mình hoa mắt, Lam Y dụi mắt, đoạn ghé tai hỏi Bích Nữ :
- Có thiệt mấy bóng đen đang lởn vởn ngoài hành lang bên dãy nhà kia không, hay là chúng ta hoa mắt?
Bích Nữ thì thào :
- Đúng thế chớ hoa mắt gì! Coi kìa!

Mấy bóng đen mờ mờ, không rõ rệt, vẫn chậm chạp, lả lướt, lần quần trên hành lang. Có lúc chúng châu đầu vào nhau như bàn tán thì thầm những gì, rồi chập chờn đi vào căn phòng có lò bát quái. Như vậy, nhiều lần vào lại ra, ra lại vào. Lần này chúng vào phòng lâu lắm, mãi không thấy ra.

Chu Đức Kiệt nói nhỏ :
- Không tin ma quỷ bất chợt được thấy bóng ma nhé!
Bích Nữ chưa tin hẳn :
- Chắc không?

Lam Y nói :
- Chắc chứ!
- Chúng ra lại vào trong phòng hoài.

Chu Đức Kiệt vỗ vai hai người :
- Nói nhỏ chớ, kẻo chúng biến thì mất xem... Ồ, coi kìa!

Ba bóng đen lả lướt đi hàng chữ nhật từ trong phòng qua hành lang chập chờn xuống thềm, đoạn ngất ngưởng cùng leo lên bục đá xây cất ngang nóc nhà. Bóng đi giữa bưng một vật gì đó. Leo tới nơi các bóng ẻo lả quay đi quay lại tứ phía trông thiệt kỳ lạ. Bỗng nhiên bóng đứng giữa cử động mạnh, vung tay lên bật thành một vệt sáng xanh lè vạt ngang giữa đêm tối... Tam hiệp chưa nhận được vệt sáng xanh đó là thứ gì thì ba con tuấn mã bị giật mạnh xô đẩy mạnh lẫn nhau, một con hí vang lên xé tan sự tĩnh mịch âm u của canh trường đêm lạnh.

Ba bóng đen vội vàng bỏ mặt bục cao chập chờn chạy dồn theo bậc xuống sân và dông thẳng vào trong phòng. Cùng lúc ấy, một cơn gió từ phía Bắc thổi tới lùa vào trong phòng xác, cánh cửa đưa đi đưa lại “kèo kẹt” xa nghe y hệt tiếng nghiến răng hận oán của oan hồn...

Tam hiệp chờ hồi lâu không thấy các bóng đen trở ra nữa. Lam Y nói :
- Mấy con ngựa quái ác này giật mình động mạnh, hí lên khiến các bóng ma dông mất. Sang bên kia xem chúng làm gì trong căn phòng đi.

Đức Kiệt, Bích Nữ đồng ý. Ba người lặng lẽ đi trên hành lang dãy nhà ngang bên này, xuống sân, vòng ra phía cổng rồi đi ngược lại đầu dãy nhà ngang bên kia ngay nơi căn phòng đầu.

Vừa tới đầu nhà, ba người đã nghe rõ mồn một những tiếng động kỳ lạ như tiếng sột soạt, lạch cạch lắc rắc ở trong căn phòng định mệnh. Nhón nhén, Tam hiệp thận trọng bước lên thềm nhà, đứng sát vào tường nghe ngóng. Trong phòng vẫn dội lên những tiếng động bất thường.

Lam Y ra hiệu bảo Đức Kiệt, Bích Nữ cùng theo nàng vào phòng, đoạn nàng nhảy vút vào trong, đẩy tung cánh cửa ra đánh rầm một tiếng. Vợ chồng Đức Kiệt theo sát phía sau.

Bị động bất ngờ, một đoàn bảy tám con chuột cực lớn sợ hãi chạy mạnh ra cửa, kêu chíu cha chíu chít. Trong phòng hoàn toàn yên lặng. Một đống xương khô trắng hếu bị đàn chuột cống xô ngổn ngang trên đất. Biết ở lại cũng chẳng có gì đáng xem, Tam hiệp trở ra, kéo cánh cửa gài then ngoài lại rồi lên nhà trên.

Bích Nữ và Lam Y đi đến chỗ cột ba con tuấn mã xem xét. Đức Kiệt soi đèn lên nhà, Bích Nữ vỗ lên cổ Bạch Hồng mã :
- Ngươi hí vang làm hồn ma tan biến hết, ngủ đi mai còn đi!

Mừng chủ, con vật khôn ngoan ấy cất đầu lên cao thở phì phò, cất chân đập xuống gạch kêu lột bộp. Hai nàng vào nhà, đóng cửa lại cho khỏi lạnh. Đức Kiệt đã lên đèn sáng như trước sửa soạn trải ổ nằm. Lam Y nằm xuống kéo mền lên đến ngực :
- Đêm nay nhiều sương lạnh dữ.

Bích Nữ nằm xuống ở giữa. Nàng nói :
- Thì ra đêm nào trong khu trại hoang phế này, oan hồn cũng hiện lên nhởn nhơ đi đi lại lại trèo lên bực đá múa may nhìn bốn phương trời. Như vậy trong bao năm rồi. Nhưng hồn ma làm gì thế nhỉ?

Đức Kiệt đáp :
- Bóng ma đó là thuật gia và người phụ trong việc rèn đúc Thất Tinh đao. Vong hồn ấy không quên được công việc làm của họ trên trần gian nên mỗi khi hiện lên, họ vẫn nhại lại tất cả các cử chỉ xưa kia. Sống họ rèn đao báu, khi chết còn vương nghiệp chướng, đêm đêm vẫn rèn luyện như thuở nào.

Lam Y nói :
- Bóng người vút qua sân mà hiền huynh trông thấy hồi nãy chắc cũng là bóng ma đấy!
Đức Kiệt phì cười :
- Chẳng bóng ma thì còn gian tế nào vào đây nữa? Chúng ta cũng nặng bóng vía đầy! Người khác vô tình vào khu vực này thế nào cũng bị hồn ma quấy rầy. Đất này hoàn toàn thuộc phần các hồn oan rồi. Ai tới đây sang sửa cũng không thoát khỏi cảnh ma quấy phá đâu! Những oan hồn ấy không những biến hiện ở trong bốn bức tường trại này mà chắc còn xuất hiện cả ven suối, nơi ngâm thép, hoặc lởn vởn trong rừng mai Nói tóm lại, lúc sanh thời oan hồn làm gì, đi những đâu thì bây giờ hồn ma ấy cũng nhại lại y hệt khi trước. Họ bị đầy ải, sống cũng như chết, không bao giờ được ra khỏi khu vực này cả.

Lam Y nói :
- Khách lữ hành nào đêm hôm lạc vào rừng mai mà gặp những oan hồn ấy đang dạo chơi... dạo cảnh mời về nhà tái diễn cuộc luyện đao, thì có thể chết vì sợ được đấy! Từ trước tiểu muội không tin có chuyện ma quỷ hư vô, nay mới biết rằng quả có thế giới âm u đó thực sự!

Chu Đức Kiệt phản đối :
- Hiền muội nói thế không trúng. Trường hợp các oan hồn trong khu trại này hoàn toàn đặc biệt. Các thuật gia sinh thời chuyên môn làm một việc mà trên đời ít ai làm nổi. Tánh chất chuyên môn thâm nhiễm trong đầu óc họ hết ngày này sang ngày khác hết năm nọ qua năm kia, thành thử khi thác một cách đột ngột, oan hồn vẫn không quên nỗi nghiệp chướng trần gian tiêu tan vào cõi hư vô. Những vong hồn đó còn “Sống” mãi cho đến khi nào gặp một áp lực thần khí mạnh mẽ hơn họa chăng mới tiêu tan. Thiên hạ bao la, người chết không ít. Nếu vong hồn nào cũng không tiêu tan sống lẫn với người đời trên thế gian thì âm dương hỗn loạn mất. Ngu huynh tin rằng sanh vật biểu dương cho Dương khí mạnh mẽ hơn vong hồn u tối. Vừa rồi nghe tiếng ngựa hí vang, mấy oan hồn chẳng sợ hãi tiêu tan ngay đó là gì?

Tam hiệp chuyện vãn, ngủ quên đi lúc nào không biết, khi bừng mắt dậy thì trời đã hửng sáng. Ngọn đèn lồng cạn dầu chập chờn muốn tàn, hoa đèn nổi lên đỏ ửng.

Lam Y chỗi dậy liệng thêm củi vào lò lửa, gâu lửa gần tàn lớn thêm, đoạn cùng Đức Kiệt, Bích Nữ ra suối ngoài trại rửa mặt. Lam Y khoan khoái vực nước uống luôn mấy ngụm, đứng vùng lên vận động thân thể, hoa mấy đường quyền, phóng vài thế cước tuyệt đẹp uyển chuyển như con phụng hoàng giũ cánh. Đức Kiệt, Bích Nữ cũng vận động theo thường lệ. Chàng nhảy vút lên tường chạy lẹ. Nàng nhảy lên đuổi theo không rời nửa bước. Hai người chạy như biến hết một vòng, nhảy xô vào đánh Lam Y tới tấp. Lam Y cười khanh khách trổ các thế quyền Mai Hoa chống trả ráo riết. Cứ như vậy, ba người luân phiên hai đấu một quần thảo dữ dội.

Hồi lâu, Lam Y nhảy ra khỏi vòng chiến :
- Thôi, ngừng tay! Đủ rồi!

Tam hiệp trở về nhà giữa lấy lương khô điểm tâm thu xếp các thứ cần dùng, đóng yên ngựa, ra khỏi tiểu trại, đóng cổng lại như trước. Ba người theo đường cũ phóng ngựa, chiều tối hôm ấy về tới Hình Thai huyện.
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 2
 
Posts: 295
Joined: Mon Nov 28, 2011 11:46 pm
I am: Professional

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp - hồi 42

Postby Editor 1 » Mon Aug 18, 2014 12:04 am

Hồi 42

Đội lốt danh gia, cường tặc cướp ngọc Lam Vân
Nhận giúp huyện quan, hiệp khách một chuyến trừ gian


Trong thời gian thăm viếng Thiếu Lâm tự, Tam hiệp nhàn rỗi khắp đó đây. Anh em Chu gia nhận xét tỉ mỉ cách thức trong chùa rất lấy làm ưng ý, khen thầm thập phần hoàn hảo.

Nhàn rỗi, Tam hiệp qua huyện, trấn nào cũng nghỉ lại để Âu Dương Bích Nữ có thì giờ xem phong cảnh, quan sát nhân vật đất Sơn Đông. Chẳng bao lâu, ba người đã về tới địa phận huyện Bình Dương. Hai bên đường ngổn ngang đồi núi, hốc đá hiểm tuấn, hành khách qua lại khá đông.

Một buổi trưa nọ, Tam hiệp đi tới khúc rẽ ngang đồi. Lam Y dừng ngựa lại chỉ toàn khu thung lũng rộng bát ngát trước mặt mà rằng :
- Gần về tới nhà rồi. Bình Dương huyện ở ngay chính giữa khu đất phì nhiêu, nhà cửa san sát kia kìa. Bên tả này thuộc phần đất Lôi gia. Bên hữu kia là khu vực họ Chu nhà ta. Lạch Tả Giang án từ khe núi phía Tây bắc vòng vèo qua đất huyện, xuyên thẳng đến chân đồi Đông Lam, trước kia vì lạch nước ấy, dân hai khu thường xích mích khiến huyện quan nhiều khi phải luôn luôn can thiệp mới khỏi đánh nhau to.

Chu huynh tánh tình điềm đạm làm ngơ trước nhiều sự gây hấn bởi Lôi Vân Long và bọn thủ hạ đông đảo của y, thành thử nhiều khi cũng phải đích thân can thiệp tuy lòng không muốn. Huyện quan Thẩm Ngọc Thụ hòa hợp được cả hai khu dân chúng là điều Chu huynh ưng ý nhất.

Bích Nữ nói :
- Huyện nhà có vị liêm quan khá lắm nhỉ?
Chu Đức Kiệt gật đầu :
- Họ Thẩm quả là vị quan gương mẫu hiếm có, dân chúng hết lòng kính trọng. Chẳng thế mà tuy được thăng trật, quan Tuần phủ Tế Nam vẫn dưng sớ yêu cầu triều đình lưu giữ Thẩm Ngọc Thụ lại Bình Dương e dân chúng lại tương tranh khi có vị quan đó đi khỏi.
Hai vị giáo đầu Tiêu Hán, Vân Bưu tánh tình cũng khá lắm. Vân Bưu có người em là Vân Báo làm tiêu sư Kim Lăng. Hôm ấy Đường Trại Nhi và ngu huynh có đến thăm phiêu cuộc của va trong thành.
Bích Nữ âu yếm nhìn chồng :
- Nói tới con yêu nữ họ Đường ấy hãy còn thấy ghét! Nó luồn như rắn. Nếu một ngày kia bắt được nó, tiểu muội quyết moi xem gan nó lớn bằng nào mà dám trêu vào Chu lang.
Lam Y cười vang :
- Chà! Hiền tẩu dữ thế! Sao hồi nọ không hạ luôn Hoa cô nương có được không? Nó trêu Chu huynh mới dữ chứ.
- Hoa cô nương nào? Thế ra vị lang quân của tôi có đào hoa số quá nhỉ?
Lam Y nói :
- Hiền tẩu đã có dịp gặp Hoa cô nương rồi mà quên sao?
Bích Nữ ngạc nhiên :
- Đâu có! Gặp hồi nào mới được chứ?
- Hoa cô nương chính là Đới Ngọc Hoàn ở quán Sơn Phu đó.
- A! Ai bảo cô muội không nói trước?
Lam Y ròn rã :
- Nói chuyện đó thì tha nó sao nổi với hiền tẩu? Nhưng hiền tẩu khá an tâm, Chu huynh quân tử nhất bậc, trung chánh khôn bì.
Tam hiệp vào tới huyện Bình Dương. Anh em Chu gia tránh khu tả, đi vòng sang hữu khu. Bích Nữ hỏi chồng :
- Hai bên dân chúng đã hòa hiệp rồi, cớ sao còn tránh khu Lôi gia, hả Chu lang?
- Dân chúng đã đành, nhưng Lôi Vân Long thì không biết tâm địa thế nào. Lỡ y về nhà rồi thấy chúng ta đi qua manh tâm gây sự thì sao? Ngu huynh muốn tránh những vụ xích mích phiền phức ấy, nhất là mới đi xa về.
Bích Nữ nhận xét thấy Bình Dương huyện rất trù mật, nhà lầu san sát, dân cư đông đảo, thương mại chẳng kém chi một trấn ở giữa nơi nhiều người qua lại. Sang tới cựu khu phía hữu, dân chúng ai ai cũng biết anh em Chu gia nên gọi nhau ra trước cửa nhà niềm nở chào hỏi. Đức Kiệt, Lam Y luôn luôn giơ tay chào, đáp lời mọi người.
Qua khu doanh thương, ba người về tới gia trang. Mấy tráng đinh đang quét lá trước cổng thấy chủ nhân trở về vội vàng dựng chổi, khoanh tay cung kính chào. Chu Đức Kiệt tươi cười gọi tên từng người một hỏi han. Lam Y hỏi chúng :
- Vương quản trang và Trần nhũ mẫu có nhà không?
Một tên nói :
- Thưa tiểu thư, cả hai người cùng ở nhà cả ạ.
Tam hiệp xuống ngựa trao cương cho tráng đinh. Lam Y chỉ Bích Nữ và bảo các tráng đinh :
- Vị này là chủ phu nhân, chủ mẫu các ngươi đó.
Tráng đinh vội vã vái lạy, rồi dắt ngựa vào trang trước.
Chu Đức Kiệt chỉ khóm trúc lớn ở bên cổng ngói bảo Bích Nữ :
- Lần thứ nhất, khi Lam Y bị Đức Võ thúc thúc đem lên Cửu Huyền sơn truyền nghề luôn sáu năm, một hôm ngu huynh đi thăm mấy người bằng hữu về tới cổng trang thì chợt thấy một thiếu nữ nhìn mãi, lúc nàng đến nơi mới nhận ra cô muội hồi hương. Lúc đó, khóm trúc do ngu huynh trồng hãy còn nhỏ lơ thơ mấy gốc, nay rườm rà xanh tốt dày đặc như vậy đó.
Bích Nữ hỏi Lam Y :
- Thế ra cô muội lên Cửu Huyền sơn theo thúc thúc những hai đợt?
Lam Y gật đầu :
- Đợt thứ nhì cùng đi với Chu huynh sau trận đánh Lôi Vân Long trên đường Bình Sơn tự.
Tam hiệp lững thững vào trong, vừa lúc quản trang Vương Bình, Trần nhũ mẫu cùng toàn thể gia nhân nam nữ kéo ra chào mừng. Lam Y giới thiệu Bích Nữ với mọi người, và chỉ từng người giới thiệu lại với nàng.
Trần nhũ mẫu ôm chầm lấy Lam Y mừng rỡ hỏi han huyên thuyên.
Chu Đức Kiệt cười bảo vợ :
- Lúc nào nhũ mẫu cũng coi Lam Y như “em bé” vậy.
Ba người lên sảnh đường và ngay chiều hôm ấy đi thăm khắp trong trang trại và các nơi có ruộng canh điền.
Hôm sau, Chu gia trang làm tiệc linh đình để Bích Nữ cúng gia tiên và mừng ngày Tam hiệp hồi hương luôn thể. Vương Bình trình bày công việc trang trại với Chu Đức Kiệt. Chàng hỏi :
- Có tin tức gì bên Lôi gia không? Vân Long thế nào?
- Vân Long chỉ về qua nhà có vài ba lần, sa thải số đông gia tướng rồi lại đi ngay. Không chuyến nào lưu lại Bình Dương lâu ngày cả.
- Dân chúng đôi bên thế nào?
- Hoàn toàn hòa hợp. Có nhiều gia đình đã kết thông gia.
- Quản trang có thường sang tả khu không?
- Những năm đầu, tôi giữ gìn không qua lại, nhưng bây giờ thì như thường rồi. Người Lôi gia trang cũng thường qua hữu khu kết bạn bè, giao dịch uống rượu. Hình như bọn gia tướng trước kia ưa hùa theo Vân Long gây hấn đã đi nơi khác. Như vậy hơn vì thái độ của chúng đáng ghét lắm, muốn hòa bình cũng không ai điềm đạm nổi khi trông thấy bọn quỷ ấy.
Vương Bình châm thuốc lào rồi nói tiếp :
- Về sự an ninh trong toàn huyện, ít lâu nay hay xảy ra nhưng vụ trộm cướp, hiếp đáp, giết người. Vụ nào cũng bí mật không để lại dấu tích gì cả.
Lam Y nói :
- Thế trên huyện không điều tra, tìm cách trừ khử gian đạo ư?
- Thưa có. Nhưng chưa đi tới kết quả nào khả dĩ làm hài lòng các gia đình nạn nhân.
- Đáng lẽ trên huyện phải tăng cường phòng thủ, tuần tiễu đêm hôm thiệt ráo riết mới hòng giữ nổi an ninh cho dân chứ.
- Thưa có. Hai vị giáo đầu Tiêu Hán, Vân Bưu tuần phòng rất cẩn mật, nhưng hình như thủ phạm là một tên đại đạo có tài, xuất hiện không chừng, hành động êm ả, đi không ai biết về chẳng ai hay, thần xuất quỷ mạt. Như vậy, quan quân tuần phòng rầm rộ thì ngăn ngừa sao nổi.
- Tôi gặp Vân giáo đầu cho hay rằng ngoài việc tuần canh, trên huyện có sai phái nhân viên đi do thám tìm kiếm dấu tích đạo tặc.
- Khám phá được vụ nào không?
Vương Bình lắc đầu :
- Không. Đạo tặc biến hiện vô chừng, không để lại dấu vết gì cả thì điều tra tìm tòi bằng cách nào cho hữu hiệu.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Bao lâu nay, Bình Dương bất an như vậy rồi à?
- Suốt bốn năm tháng. Nhưng vụ đầu tiên lớn nhất xảy ra từ tháng mười một năm ngoái.
- Đại đạo hạ sát nhiều người lắm hay sao? Vụ ấy xảy ra ở đâu?
- Thưa, vụ đầu tiên xảy ra ngay tại Bình Sơn tự.
- A! Vậy hả?
Anh em Chu gia sửng sốt nhìn nhau.
Vương Bình châm thêm mồi thuốc, chậm rãi nói :
- Chủ nhân và tiểu thư có nhớ rằng Bình Sơn tự có một bảo vị không?
Anh em Chu gia gật đầu. Lam Y nói :
- Có chứ! Phải chăng quản trang định nói tới pho tượng Thích Ca tạc bằng Lam Vân ngọc đem từ Tây Tạng về.
- Dạ, đúng thế. Tượng Phật quý báu ấy được bày trong lồng kính để ở bực cao nhất trên điện và đêm đêm sư trưởng bắt chư tăng phải luân phiên ngủ ngay trong nội điện canh phòng.
Chu Đức Kiệt cắt ngang :
- ... Và pho tượng ấy đã không cánh mà bay?
- Thưa, không những pho tượng ấy đã biến mất mà sáng hôm sau, khi hòa thượng lên bảo điện thấy cửa vẫn đóng nguyên, thì tưởng hai vị chư tăng canh phòng ngủ quên sáng rồi chưa biết dậy. Đại hòa thượng giận lắm gọi cửa thì thấy cánh cửa chỉ khép thôi chứ không đóng then trong như thường lệ. Người liền đẩy cửa bước vào...
- Thì thấy hai vị tăng canh phòng bị muội hương ngủ say, còn pho tượng Thích Ca biến mất rồi, phải không?
- Thưa không, hai vị tăng không bị muội hương nhưng bị hạ sát. Một người bị chém rụng đầu, còn người kia trúng thương lủng yết hầu chết ngay, bởi vậy mới không la lối được.
- Chắc hai vị tăng ấy võ trang canh phòng?
Vương quản trang gật đầu :
- Dạ, mỗi người một thanh giới đao. Nhưng các tăng Bình Sơn tự không một ai biết võ thuật. Hai người ấy đã chống cự với tên đại đạo và bị hạ có lẽ rất mau lẹ.
Vương Bình hút mồi thuốc lào nữa.
Lam Y hỏi :
- Việc Bình Sơn tự về sau ra thế nào?
- Dạ, hòa thượng trụ trì phái người về Bình Dương báo huyện nhà. Cuộc điều tra tiến hành gấp rút bởi hai giáo đầu, nhưng chẳng đi tới kết quả nào hết. Tên đại đạo khát máu vẫn bặt tăm hơi cho tới nay.
- Sư trụ trì vẫn là Minh Chiếu phải không?
- Dạ, vẫn vị hòa thượng đó. Người thường hỏi thăm nhị vị luôn. Sau vụ ngọc Lam Vân nhà chùa Bình Sơn tự hơn hai mươi ngày sau xảy ra vụ con gái Liễu gia bị hiếp đáp và bị bóp cổ chết trong tư phòng nàng trên lầu.
- Liễu gia nào?
- Thưa đó là Liễu viên ngoại ở ngay bên lạch Tả Giang đó. Viên ngoại mãn phần từ mấy năm nay rồi. Người con trưởng là Liễu Chí Tôn kế vị.
Lam Y gật đầu ngắt lời :
- A, nhớ rồi. Họ Liễu có hai con trai, và một gái. Nhưng cô gái bé nhỏ ấy năm xưa còn ít tuổi lắm mà?
- Hồi xảy ra tai nạn cô lớn rồi và đau đớn hơn cho nhà họ Liễu là cô ấy đã hứa hôn với con trai Cảnh gia bên Đông thôn. Cảnh gia có một người con gái, em vị hôn phu của Liễu thị cũng bị chung hoàn cảnh với bên sui gia họ Liễu.
Lam Y đập bàn mà rằng :
- Thế này thì quá lắm! Đất Bình Dương xưa nay hoàn toàn an ninh, dân chúng an cư lạc nghiệp, chưa bao giờ xảy ra những chuyện bi đát như vậy.
Chợt nhớ ra điều gì, Vương Bình bèn nói :
- À, thưa ba vị, tôi quên không nói điều này. Sau mỗi vụ, tên đại đạo để lại một mảnh giấy nhỏ đề mỗi một chữ “Lôi”.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Trên huyện nhận xét các mảnh giấy có chữ “Lôi” ấy thế nào?
- Theo lời giáo đầu Vân Bưu thì mảnh nào cũng cùng một tuồng chữ, chắc chắn do một người viết. Nhưng mảnh giấy ấy có hậu quả lớn lao riêng đối với bên Hữu gia. Các gia đình nạn nhân và ngay cả Minh Chiếu hòa thượng cũng hồ nghi tên đại đạo là Lôi Vân Long.
Chu Đức Kiệt cau mặt :
- Sao lại nghi cho Lôi Vân Long?
Vương Bình đáp :
- Vì họ cho rằng chỉ có Lôi Vân Long mới đủ tài sức hành động như vậy?
- Vô lý. Lôi Vân Long có mặt tại trang trại Lôi gia không?
- Huyện quan có phái các giáo đầu đến Lôi gia trang xem thực hư thế nào, Lôi Vân Long không có nhà.
Lam Y bảo Vương Bình :
- Lôi Vân Long nhà giàu có như vậy, sanh quán Bình Dương quyết không khi nào y hành động dại dột như vậy, nhất là y bỏ nhà ra đi từ bao năm nay rồi, quản trang nghĩ phải không?
- Đành rằng ta thì suy luận như thế, nhưng các gia quyến nạn nhân cho rằng họ Lôi bỏ nhà đi xa biết đâu không giao dịch với bọn lục lâm trở về kín đáo hoành hành tại huyện nhà.
Lam Y phì cười :
- Cũng may là tên đại đạo kia dùng tên Lôi Vân Long, giả thử y đề ba chữ Chu Đức Kiệt vào mảnh giấy thì mọi người cũng tin rằng họ Chu là thủ phạm.
Vương Bình nói :
- Sở dĩ người ta ngờ Lôi Vân Long vì bổn tánh y nóng nảy, nham hiểm, đâu có điềm đạm từ tốn như Chu trang chủ.
Âu Dương Bích Nữ nói :
- Một huyện lớn như Bình Dương, quan Tuần phủ Tế Nam chỉ để vỏn vẹn có hai vị giáo đầu là quá ít ỏi.
Vương Bình thưa :
- Ấy thế mà từ bao năm nay, dân chúng Bình Dương sống trong cảnh an ninh an toàn. Từ ngày mà Tế Nam phủ bổ nhiệm thêm vị giáo đầu nữa, trẻ và có tài hơn, thì cũng là thời kỳ bắt đầy xảy ra bao nhiêu tai nạn cho huyện lỵ này.
Nghe vậy, Chu Đức Kiệt vội hỏi :
- Quản trang nói sao? Ngoài hai lão giáo đầu Tiêu Hán, Vân Bưu, có một giáo đầu nữa mới bổ nhiệm?
- Dạ, Vân giáo đầu có nói chuyện như vậy, thật ra tôi chưa gặp vị tân giáo đầu lần nào.
- Người đó mệnh danh là gì?
- Giản Tử Thôi tước hiệu Phi Hành Thái Tuế, hai mươi chín tuổi, hình như có bản lãnh ghê gớm lắm.
Lam Y nhìn vợ chồng Đức Kiệt mà rằng :
- Nghe tước hiệu cũng đủ biết rằng y giỏi phi hành thuật rồi, võ nghệ chưa kể. Có lẽ Tế Nam thấy Tiêu Hán, Vân Bưu có tuổi nên bổ thêm Giản Tử Thôi trẻ hơn phòng khi hữu sự chứ gì?
Chu Đức Kiệt nói :
- Đúng thế, nhưng bổ nhiệm một người tài cao hơn có thể làm phiền cho Tiêu, Vân hai người cũ. Trong giới giáo đầu bất phân thâm niên, ai bản lãnh cao sẽ đứng trên. Tiêu Hán, Vân Bưu bản lãnh khá nhưng kém thuật phi hành, tất thế nào cũng phải ở hàng dưới Giản Tử Thôi.
- Thế thì ức cho hai cựu giáo đầu quá nhỉ?
Xem xét việc nhà mấy ngày, Tam hiệp khoan khoái sống cảnh điền viên ấm cúng, khác hẳn với đời sống phiêu bạt giang hồ.
Thăm mộ song thân xong, một hôm Lam Y nói với Đức Kiệt
- Bữa nay tiểu muội đi thăm mấy người bạn gái khi trước, hiền huynh cho phép tẩu tẩu cùng đi, nhé!
Đức Kiệt mỉm cười :
- Chị, em cùng đi càng hay. Có lẽ không ăn cơm nhà, phải không?
- Chắc thế nào họ cũng giữ lại dùng bữa, hiền huynh khỏi chờ. Về trễ nếu chưa ăn thì ăn sau cũng được.
- Hiền muội đi thăm ai?
- Hiền huynh còn nhớ Trần Mỹ Phượng trước kia vẫn lại trang trại nhà không?
- Có lẽ, nhưng Mỹ Phượng lấy chồng rồi, hiền muội định thăm gia đình họ Trần hay là thăm Mỹ Phượng?
- Thăm vợ chồng Mỹ Phượng chứ, đến nhà Trần gia làm chi.
- Tiểu muội cũng định như vậy.
Giữa lúc ấy hai anh em đang bàn tán, Bích Nữ ở trong phòng đủng đỉnh đi ra đại sảnh tay cầm chiếc áo khâu dang dở.
Nàng hỏi :
- Hai anh em đang bàn chuyện gì thế Lam Y tươi cười :
- Giờ này mà hiền tẩu còn ngồi trong phòng khâu áo ư? Kiên tâm thật! Tiểu muội vừa xin phép trưởng huynh để tẩu tẩu cùng đi thăm người bạn cũ đó. Ta đi sửa soạn kẻo trễ. Đi kiệu đấy nhé, khỏi vận võ phục.
Bích Nữ cười vang :
- A, hôm nay chúng ta hoàn lốt phụ nữ. Vận xiêm y chắc lúng túng lắm nhỉ?
Lam Y phản đối :
- Đâu có! Chúng ta quen chống đối rồi, nên bất kể trường hợp nào cũng không ngượng nghịu, thường tình như các cô gái khác.
Nói đoạn, nàng cầm tay Bích Nữ cùng trở vào hậu sảnh. Vợ và em đi khỏi, Chu Đức Kiệt cũng vận thường phục rủ Vương Bình đi bộ ra phố chơi.
Bình Dương thành rất rộng lớn. Nội thành chia làm ba khu. Khu Chu gia trang, khu Lôi gia trang, nội thành chỉ có hai trang Chu gia, Lôi gia là lớn nhất vì hai họ kỳ cựu đất Bình Dương. Ngoài ra có hai khu cũng có mấy tiểu trang khác. Còn ngoại thành thì ruộng đất mênh mông không những của hai họ Chu, Lôi mà còn của nhiều địa chủ khác nội thành hoặc các Trang chủ ngoại thành.
Chu Đức Kiệt cùng Vương Bình vừa đi được một quãng thì gặp lão Trại chủ Phàn Kính đang đứng hóng gió ngoài cổng trang.
Hai bên chào hỏi, Phàn Kính nói với Đức Kiệt :
- Nghe nói Trang chủ mới hồi hương, tôi định sang thăm nhưng e Trang chủ còn bận tính việc nhà nên chưa qua được, nhân đây kính mời người quá bộ tệ trang dùng trà.
Chu Đức Kiệt muốn ra phố trước nên thoái thác từ chối :
- Hiện giờ tôi có việc phải ra phố, mai mốt sẽ sang bái kiến.
Phàn Kính vui vẻ :
- Nếu vậy chiều mai, kính mời Trang chủ, lệnh phu nhân, lệnh muội và Vương quản trang sang đây uống rượu.
- Như vậy không hợp phép. Chúng tôi chưa thiết tiệc trình diện tiện nội, lẽ nào dám phá lệ như thế? Phàn tiên sinh cho tôi được tùy nghi thì hơn. Sau đó sẽ qua tôn trang lãnh rượu.
Nói đoạn, Đức Kiệt cùng Vương Bình từ tạ Phàn Kính ra phố. Hai người la cà mua mấy thứ vật dụng vặt vãnh. Phố xá khang trang người qua kẻ lại tấp nập. Phần nhiều đều quen thuộc cả nên Đức Kiệt, Vương Bình phải chào hỏi luôn miệng.
Đi tới Dĩ An lộ, Chu Đức Kiệt thấy một tiệm đề Lưu Khánh Đạt Phiêu cuộc, hàng hóa chất đầy nhà bèn hỏi :
- Phiêu cuộc họ Lưu này khai trương hồi nào vậy, quản trang?
- Thưa được ba năm rồi, phát tài lắm. Lưu Khánh Đạt từ Khai Phong phủ tới Bình Dương huyện định cư lập nghiệp. Y trạc tứ tuần, tánh tình quảng giao dễ thương, chuyên áp tải hàng hóa đi Lao Sơn. Bên Nhân Toàn lộ cũng có một phiêu cuộc mới nữa của tiêu sư Sở Triệu Tường người Tế Nam phủ, chuyên áp tải đường Bình Dương - Kim Gia khẩu. Họ Sở trạc tam thập là môn đồ Thiếu Lâm tự. Trong khi Trang chủ vắng nhà, hai người này có lại xin yết kiến, bởi thế mới quen nhau và từ đó, họ thường qua lại thăm hỏi. Hôm đó có lẽ Lưu Khánh Đạt đi vắng, nếu không y chạy ra mời vào chơi rồi đó.
Qua phố nọ tới phố kia, Đức Kiệt, Vương Bình đến khu chợ thì vừng thái dương đã gần đứng bóng, bèn kéo nhau vào Ỷ Khánh Lâu. Chủ tửu lâu là Lý Ngũ đang ngồi quầy thấy hai người vội vàng ra chào đón :
- Chao ôi, Chu trang chủ! Lâu lắm mới được diện kiến. Trang chủ về Bình Dương hồi nào vậy! Tú Anh tiểu thư chắc cũng về cùng?
Đức Kiệt đáp :
- Anh em tôi mới về được mấy hôm, Lý tiên sinh phát tài không? Thực khách đông đảo có phần hơn trước?
- Dạ, buôn bán lâu năm, ơn trời bổn lâu cũng được tín nhiệm hơn mọi người. Mời nhị vị lên lầu, dưới này đông khách nhộn lắm.
Giữa lúc ấy, một người dong dỏng trạc hai mươi chín, ba mươi tuổi, khổ mặt dài, gò má cao, cặp mắt sắc như dao, trang phục theo lối giáo đầu, đeo đao bên sườn, từ đầu phố xăm xăm đi thẳng vào tửu lâu. Lý Ngũ cung kính vái chào.
Người đó khẽ gật đầu, vẫy tay chào lại, có vẻ thân mật, rồi đi thẳng lên lầu.
Thấy Chu Đức Kiệt và Vương Bình ngẩn người nhìn theo người kia, Lý chủ quán bèn nói :
- Tráng sĩ vừa rồi là vị tân giáo đầu trên huyện nha đó.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- A! Giản Tử Thôi phải không?
- Dạ, chính Giản giáo đầu đấy. Giáo đầu thường dùng bữa tại đây từ ngày được bổ nhiệm Bình Dương, tính tình rất kín đáo, ít nói.
- Nếu vậy, chắc hai giáo đầu Tiêu Vân cũng thường cùng Giản Tử Thôi qua đây uống rượu?
Lý Ngũ lắc đầu :
- Thưa không. Giản giáo đầu về Bình Dương trên nửa năm nay rồi, chưa lần nào tôi thấy đi cùng hai vị giáo đầu kia. Hoặc giả có nhưng không lại bổn lầu nên tôi không biết. Nghe đâu họ Giản ở cấp bậc cao hơn Tiêu Hán, Vân Bưu có lẽ vì thế họ ít đi cùng nhau chăng?
Chu Đức Kiệt mỉm cười, im lặng cùng Vương Bình thong thả lên lầu chọn một thồi vừa ý kéo ghế ngồi.
Tửu bảo đến hầu, lễ phép thưa :
- Lâu nay con mới lại được hầu rượu Trang chủ, người dùng thứ gì?
Đức Kiệt ngước mắt nhìn :
- Trần Tam làm ở đây lâu nhỉ. Chắc bây giờ được chủ nhân cất nhắc cho trông coi toàn thể trên lầu này rồi chớ gì! Nếu chưa ta sẽ nói hộ cho.
Trần Tam cảm động :
- Cảm ơn Trang chủ có lòng thương, con được chủ nhân trao trách nhiệm hầu hạ từng lâu này trên năm nay rồi.
Chu Đức Kiệt gật đầu :
- Càng hay, đáng công lắm. Nào rượu ngon, nhắm tốt lấy ra đây, ta đói rồi.
Trần Tam trở ra, lát sau mang thực vật tới. Chu, Vương hai người thủng thẳng nhàn cư nhắm nháp.
Giản Tử Thôi ngồi ở thồi dưới hiên lầu uống rượu ngắm phố xá.
Chu Đức Kiệt bảo Vương Bình :
- Viên giáo đầu này bản lãnh thế nào không biết nhưng y có vẻ tàng tàng lập dị thế nào ấy nhỉ?
- Đồng ý. Y khác hẳn Tiêu Hán, Vân Bưu. Chắc hai người cũng khó chịu với ông bạn đồng nghiệp thanh niên hách khí kia lắm.
Thực khách lên lầu mỗi lúc đông hơn. Bỗng có hai tráng sĩ lên lầu đi thẳng tới thồi Giản Tử Thôi kéo ghế ngồi.
Một người trạc ngũ tuần để râu mép và quai nón cắt ngắn. Một người còn trẻ, trạc hai mươi lăm tuổi trở lại. Cả hai cùng vận áo dài, quần chít ống, mỗi người đeo một thanh đoản đao bên sườn, tua ngũ sắc rủ xuống gần tới đầu gối. Giản Tử Thôi cùng hai người mới tới thân mật thì thầm trò chuyện.
Vương Bình thấy vậy nói :
- Lão chủ quán Lý Ngũ nói bậy. Giản Tử Thôi ít giao du. Trang chủ và tôi mới ngồi đây có chốc lát mà y đã có hai người bạn thiết nhỏ to trò chuyện rồi.
Chu Đức Kiệt chữa :
- Tiếp hai người này mà quản trang đã cho là y giao thiệp quen biết nhiều ư? Biết đâu y chẳng chỉ giao du với hai người mới tới này thôi? Nét mặt khinh khỉnh thế kia có lẽ người ta phải ngán hắn.
Nói đoạn, chàng gọi tửu bảo Trần Tam đến gần hỏi nhỏ :
- Người biết người ngồi ở thồi dưới hiên lầu kia chớ gì?
- Dạ, đó là Giản giáo đầu trên huyện.
- Hai tráng sĩ mới đến ngồi cùng họ Giản ăn uống kia có thường lui tới Ỷ Khánh lâu không?
- Thưa có, đôi khi hai vị ấy có tới thường thường cũng vào giờ này và cũng ngồi ở thồi ấy. Đó là thồi dành riêng cho Giản giáo đầu ưa thích, vừa uống rượu vừa ngắm người qua kẻ lại dưới phố.
- Hai tráng sĩ kia là người huyện Bình Dương?
- Con không được rõ, nhưng từ ngày Giản giáo đầu về làm việc tại huyện nhà thì thỉnh thoảng hai tráng sĩ ấy có đến Ỷ Khánh lâu. Con lấy làm lạ rằng Giản giáo đầu không bao giờ đi cùng họ. Chuyến nào giáo đầu cũng đến ngồi nguyên chỗ ấy nhắm nháp một mình, lát sau hai tráng sĩ kia mới tới trò chuyện có vẻ thân tình lắm. Trang chủ có điều gì sai bảo con không? Nếu vậy, con xin tận tâm giúp sức.
Chu Đức Kiệt vỗ vai Trần Tam mà rằng :
- Ta mới về, thấy lạ thì tò mò hỏi chuyện thôi, ngoài ra không có điều gì đáng kể chi. Tuy vậy nếu có điều gì cần giúp, ta sẽ nhờ Trần Tam nhé.
Tên tửu bảo lanh lợi vâng dạ rút lui. Hai tráng sĩ bên thồi họ Giản ăn uống cầm chừng, nói chuyện hồi lâu rồi xuống lầu đi thẳng. Giản giáo đầu nán lại lâu, mãi sau mới gọi tửu bảo trả tiền, lanh lẹ xuống lầu.
Về phần, Chu Đức Kiệt chẳng mấy khi được lười biếng, chàng và Vương quản trang kéo dài bữa rượu sang đến giữa giờ Mùi mới trả tiền hàng, hậu thưởng cho Trần Tam đoạn ra phố đi la cà đến gần chiều mới về trang.
Lam Y, Bích Nữ trở về nhà từ lâu rồi. Chu Đức Kiệt kể chuyện gặp tân giáo đầu Giản Tử Thôi và Trại chủ Phàn Kính cho vợ và em nghe. Chàng hỏi :
- Thế nào, Trần Mỹ Phượng có khá không? Nàng được mấy con rồi?
Lam Y đáp :
- Mỹ Phượng và chồng là Cẩm Bách Hy buôn bán khá giả, sanh hai con, một trai một gái rất kháu khỉnh. Nàng nhu mì hiền lành được gặp cha mẹ chồng hiền đức, quý dâu và cháu rất mức. Toàn gia người nào cũng khen tẩu tẩu cùng hiền huynh đẹp đôi.
- Ăn cơm trưa ở đâu?
- Nhà họ Cầm giữ lại mời dùng bữa. Họ ân cần quá thành thử khó từ chối.
Đức Kiệt bàn việc muốn làm tiệc ra mắt một số thân hữu cùng Lam Y, Bích Nữ đến dự. Bích Nữ nói :
- Bữa tiệc ra mắt đó đành rằng không thể bỏ qua được, nhưng hiện thời chưa thấy Tiểu Lý Quảng Chúc Thiên Thanh áp tải các rương lễ vật về, nóng ruột lắm. Nếu nội ngày mai không thấy gì, chúng ta phải đi tìm chớ?
Đức Kiệt nói :
- Hiền thê đừng lo. Chúng ta đi đường tắt gần hơn mấy ngày. Trễ lắm là mai mốt Chúc Thiên Thanh cũng về tới Bình Dương, ngu huynh sẽ cứ sửa soạn tiệc tùng đi. Nếu Chúc Thiên Thanh không về, ngu huynh sẽ thân đi tìm. Trong trường hợp Chúc tiêu sư bị khó khăn, tất y chẳng dại gì mà không áp tải hàng cho Chu gia ở Bình Dương.
Gần trưa hôm sau, quả nhiên đoàn áp tải Chúc Thiên Thanh về tới nơi.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Tiêu sư trễ mất hai hôm, dọc đường có xảy ra chuyện gì không?
Họ Chúc đáp :
- Gặp bọn Hướng mã thì có nhưng khi chúng đọc thấy các mảnh giấy đề “Chu gia Bình Dương Sơn Đông” thì chúng lảng ngay. Trễ mất ngày đường vì mưa lớn ở khúc Bảo Định phủ, phải nằm lại quán trọ mất đúng ba ngày ăn không ngồi rồi, nóng ruột quá, e Trang chủ mong đợi.
Chu Đức Kiệt mỉm cười :
- Hỏi cho biết chớ chậm trễ là chuyện thường. Tôi yên trí rằng thế nào tiêu sư cũng về đến nơi đến chốn.
Lam Y, Bích Nữ và Vương Bình nhận hàng mở rương kiểm soát lại cẩn thận. Chu Đức Kiệt tính tiền trả Chúc Thiên Thanh, giữ đoàn áp tải lại dùng bữa rồi mới cho đi.
Mấy hôm sau được ngày lành, Chu gia trang vào tiệc tiếp đủ mặt thân hữu đất Bình Dương. Cuộc tiếp tân kéo dài ba ngày mới vãn.
Sau đó mọi người đua nhau mời lại Tam hiệp thành thử ba người bận rộn đi đây, đó dự tiệc luôn trên nửa tháng mới ngớt mời, được nghỉ ngơi.
Một hôm, Tam hiệp vừa ra thăm ruộng đất ở ngoại thành thử trở về thì sai nha cầm thơ mời của huyện quan Thẩm Ngọc Thụ đến nơi. Chu Đức Kiệt mở phong thư đọc:
Kính gửi:
Tam hiệp Chu gia trang chủ.
Thẩm mỗ thân thỉnh ba vị dùng bữa thân thiện chiều mai tại tư thất. Ngoài tiệc rượu, Thẩm mỗ còn có việc muốn tham khảo ý kiến. Ước mong quý vị nhận lời.
Bình Dương huyện
Thẩm Ngọc Thụ ký.
Đọc thư xong, Đức Kiệt đưa thư cho Lam Y, Bích Nữ xem. Lam Y nói :
- Tùy ý hiền huynh định đoạt.
Đức Kiệt viết thư phúc đáp nhận lời gửi sai nha đem về huyện. Sai nha đi khỏi. Bích Nữ hỏi Lam Y :
- Chắc huyện quan muốn bàn tán về vụ tặc đạo hoành hành ít lâu nay tại Bình Dương chớ gì?
Lam Y gật đầu :
- Chắc đúng thế đó. Xưa nay gặp điều gì khó khăn không giải quyết nổi, Thẩm tri huyện thường mời hiền huynh và tiểu muội hỏi ý kiến. Họ Thẩm là viên liêm quan, tánh tình khá lắm. Hai vị giáo đầu Tiêu Hán, Vân Bưu cũng vậy. Riêng có tân giáo đầu Giản Tử Thôi thì chưa biết tánh y thế nào.
Đức Kiệt nói :
- Y dong dỏng phảng phất như Lôi Vân Long, không xấu xí đâu nhưng nét mặt khó gây cảm tình. Trông khinh khỉnh thế nào ấy.
Chiều hôm sau, Thẩm Ngọc Thụ có nhã ý sai kiệu phu trên huyện đến Chu gia trang rước ba người lên huyện dự tiệc.
Thẩm Ngọc Thụ vận bào lục tiếp đón niềm nở, mời Tam hiệp vào khách sảnh.
Lam Y vốn biết Thẩm phu nhân từ trước nên rủ Bích Nữ vào hậu đường hỏi thăm. Thẩm Ngọc Thụ nói :
- Khỏi phiền Chu phu nhân và Chu tiểu thư, tiểu nội mắc bận, chút xíu nữa sẽ ra hầu chuyện ngay. Bữa rượu thân tình, tiện nội muốn tự tay sắp đặt lấy.
Không thấy Tiêu Hán, Vân Bưu như thường lệ, Chu Đức Kiệt hỏi họ Thẩm :
- Đại công không mời nhị vị giáo đầu Tiêu Vân ư?
Thẩm Ngọc Thụ niềm nở :
- Như trước kia thì khác, nay có Chu phu nhân liệu có tiện không?
Đức Kiệt mỉm cười :
- Không sao, tiện nội tính tình hào sảnh cũng như cô muội Lam Y, chúng tôi đồng tâm đồng trí đại công nên cho mời nhị vị giáo đầu cho được thân tình. Nhị vị ấy vẫn ở trong huyện này chớ gì?
- Vậy như trước. Duy còn một điều này hơi khó xử.
- Điều chi vậy? Đại công cứ nói.
- Tế Nam phủ bổ thêm một vị giáo đầu nữa về huyện nhà được nửa năm nay rồi không lẽ mời Tiêu Vân hai người mà không mời vị kia, e họ hiềm nhau.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Vị tân giáo đầu có cùng ở trong nhà không?
- Không, y mướn nhà ở riêng ngoài phố.
- Nếu vậy rất dễ xử. Bữa tiệc riêng mà hai giáo đầu Tiêu Vân cũng quen chúng tôi, tất vị tân giáo đầu thông cảm chớ, lo gì?
Thẩm Ngọc Thụ sai gia nhân mời Tiêu Hán, Vân Bưu. Họ Thẩm nói :
- Tân giáo đầu Giản Tử Thôi cậy mình bản lãnh khá được phủ quan bổ nhiệm về Bình Dương với chức Trưởng giáo đầu, có ý hơi phách lối, nên tôi thường tránh việc mời cả ba người tại tư dinh...
Nghe vậy Lam Y nói ý tứ :
- Trong huyện có người tài giỏi, dân chúng càng thêm hưởng an ninh. Đại công lo gì?
Thẩm Ngọc Thụ chép miệng :
- Được như tiểu thư nói thì còn gì bằng, ngờ đây lại trái ngược đến nỗi chính tôi cũng không thể tưởng tượng được.
- Đại công nói gì chúng tôi không hiểu?
- Quý vị mới hồi hương được ít ngày không hiểu là phải. Mấy tháng nay, huyện nhà ở trong tình trạng bất an, luôn luôn xảy ra trộm cướp, án mạng. Các giáo đầu lãnh trách nhiệm điều tra không đem lại khả quan, sở dĩ tìm ra được con đường dẫn tới sào huyệt của gian đạo.
Thẩm Ngọc Thụ đang nói dở dang thì hai giáo đầu Tiêu Hán, Vân Bưu đến. Thi lễ xong cùng Tam hiệp, Vân Bưu hỏi huyện quan :
- Chắc đại quan đang kể tình hình hiện tại ở Bình Dương cho ba vị đại hiệp nghe? Hôm nọ ở Chu gia trang, tôi đã định thuật chuyện song bất tiện nên lại thôi.
Thẩm Ngọc Thụ nói :
- Tôi kể tình hình huyện nha với ý định yêu cầu ba vị đại hiệp nhận xét xem có phương sách nào khám phá ra bọn sát nhân, hoặc tên đại đạo thủ phạm đó chăng.
Chu Đức Kiệt hỏi huyện quan :
- Cho đến bây giờ, các cuộc điều tra không đem lại một dấu vết gì khả nghi nào cả?
Thẩm Ngọc Thụ lắc đầu :
- Hoàn toàn không. Ngoài mảnh giấy đề ba chữ Lôi Vân Long do tên thủ phạm để lại sau mỗi vụ huyết án.
- Có bao nhiêu án mạng rồi?
Tiêu Hán đáp :
- Tổng cộng năm vụ huyết án. Ngoại trừ hai vị tăng ở Bình Sơn tự, các nạn nhân đều là thiếu phụ hoặc thiếu nữ có nhan sắc bị hiếp đáp trước khi bị thủ tiêu.
Lam Y hỏi huyện quan :
- Bên trang trại Lôi gia thế nào? Lôi Vân Long có nhà không?
- Lôi trang chủ không có nhà. Chắc chắn như vậy. Các vụ án nhơ nhuốc này xúc phạm danh tiếng Lôi gia rất nhiều, nếu có nhà lẽ nào Lôi Vân Long chịu bỏ qua.
Lam Y suy nghĩ giây lát :
- Án mạng xảy ra luôn luôn như vậy tất thủ phạm không phải kẻ xa lạ gì với Bình Dương huyện. Nó phải cư ngụ ngay tại huyện hay gần huyện mới có thể thăm dò được nạn nhân do nó lựa chọn vì những kẻ xấu số thiệt mạng đều là phụ nữ có nhan sắc. Nó đi không ai hay, tới không người biết, tất thuật phi thiềm tẩu bích phải tuyệt vời. Nghe nói vị tân giáo đầu Giản Tử Thôi tước hiệu Phi Hành Thái Tuế, tất có bản lãnh vượt nóc băng tường sao không do thám, canh phòng điều tra các vụ án này có hơn không?
Thẩm Ngọc Thụ đáp :
- Giản giáo đầu có hành động như tiểu thư nói, nhưng Bình Dương huyện thành rộng rãi y canh phòng đầu này thì đầu kia xảy ra chuyện. Không chuyến nào y may mắn được gặp tên đại đạo thủ phạm đang phi hành trên các nóc nhà cả.
Vân giáo đầu chép miệng :
- Chúng tôi không thạo nghề leo nhảy thiệt thòi quá. Giản Tử Thôi tánh tình lại kiêu căng không chịu hành động chung thành thử toàn huyện lớn Bình Dương chỉ có ba giáo đầu mà chia làm hai phe. Nghĩ mà ngán quá.
Thẩm Ngọc Thụ nhìn Tam hiệp mà rằng :
- Tôi đang định báo cáo về Tế Nam phủ xin người thay thế Giản Tử Thôi hoặc yêu cầu trên phủ phái thêm người về đây tra cứu các vụ án huyết này, thì vừa lúc ba vị đại hiệp hồi hương, vậy yêu cầu ba vị vì dân chúng huyện nhà xuất công một phen xem sao. Tôi tin chắc chẳng chóng thì chầy, tên thủ phạm thế nào cũng bị quý vị nắm gáy.
Chu Đức Kiệt nói :
- Đại công dạy như vậy, chúng tôi lẽ nào không tuân theo. Việc xảy ra trong Bình Dương cũng như việc nhà. Đại công không yêu cầu chúng tôi cũng tự ý hành động. Cho đến nay sở dĩ phải im lìm là vì việc nhà bề bộn, cần thanh toán xong xuôi mới rảnh tay tra cứu được.
Suy nghĩ giây lát Chu Đức Kiệt nói tiếp :
- Yêu cầu Đại công và nhị vị giáo đầu giữ kín đừng cho bất cứ một ai biết việc chúng tôi điều tra truy tìm thủ phạm, kể cả Giản Tử Thôi. Về phần nhị vị giáo đầu Tiêu Vân nếu tìm ra sự gì lạ, xin vui lòng thông báo cho chúng tôi được biết.
Thẩm Ngọc Thụ mừng rỡ :
- Quý vị nhận lời giúp sức chúng tôi thấy nhẹ tâm can.
Mọi người đang chuyện trò thì Thẩm phu nhân ra khách phòng cùng mọi người thi lễ.
Lam Y giới thiệu Âu Dương Bích Nữ.
Thẩm phu nhân chăm chú nhìn cả hai người mà rằng :
- Trời ơi, chị dâu em chồng mà giống nhau tựa như hai giọt nước vậy! Chu trang chủ kết bạn với một vị giai nhân cân quắc anh hùng thiệt toại nguyện nhé! Còn Chu tiểu thư, càng ngày càng phây phây trẻ đẹp hơn trước nhiều, già như tôi mà nhìn không biết chán mắt. Một nhà hạnh phúc thế này hoàn toàn quá. Chuyến này Chu trang chủ và Chu tiểu thư du hành lâu quá, nhiều lúc tôi muốn sang lệnh trang thăm hỏi mà chờ mãi chẳng về.
Lam Y nói :
- Kính mời phu nhân hôm nào nhàn rỗi quá bộ qua tệ trang cho chị em tôi được hầu tiếp một ngày. Chuyến vừa rồi, anh em tôi xuống Giang Nam nên mới lâu như thế.
Thẩm Ngọc Thụ cười ha hả, thân mật bảo Chu Đức Kiệt :
- Cũng bởi du hành Giang Nam nên Chu trang chủ mới gặp tiểu nữ đất Tô Châu hoa lệ và Trang chủ “bắt cóc” đem luôn về thành Bình Dương bầu bạn.
Chu Đức Kiệt phì cười nhìn Bích Nữ. Mọi người cùng cười theo.
Hôm sau sau khi tập luyện trên võ sảnh, Lam Y nói với vợ chồng Đức Kiệt :
- Dùng điểm tâm xong, chúng ta vào Bình Sơn tự dưng hương thăm Minh Chiếu hòa thượng luôn thể, huynh tẩu nghĩ sao?
Bích Nữ nhìn chồng :
- Việc nhà xong rồi, rảnh rỗi thì đi chơi cho biết đất Bình Dương.
Đức Kiệt đồng ý bảo :
- Đường xa vừa đi vừa về hơn bốn mươi dặm la cà thế nào cũng đến chiều mới về được. Chúng ta nên đi ngựa. Hiền thê và hiền muội liệu sửa soạn lễ vật cho gia nhân đi theo, ngu huynh ra tầu ngựa đây.
Lam Y nói :
- Tiểu muội lấy kiệu cho Trần nhũ mẫu cùng đi, tội nghiệp nhũ mẫu chẳng được đi đâu.
- Tùy ý hiền muội, ngu huynh có ngăn cản đâu. Nhưng nên để Vương quản trang ở nhà lỡ có ai đến thăm hỏi còn có người tiếp đãi.
Sửa soạn xong, đến cuối giờ Thìn, đoàn người ở Chu gia trang lên đường vào Bình Sơn tự.
Lam Y chỉ nơi xảy ra trận giao tranh năm xưa với Lôi Vân Long cho Bích Nữ xem.
Bích Nữ nói :
- Nghe kể chuyện rất thích thú, nhưng một khi biết chuyện rồi mà được đích thân qua nơi đó càng thích thú hơn. Phong cảnh hùng Vỹ thế này chắc Lôi Vân Long năm ấy cậy có Thất Tinh đao đã chủ tâm phục kích hoặc đón đường gây sự nơi đây chứ không phải gặp gỡ vô tình đâu. Chúng ta nhúng tay vào các vụ án trong huyện, nếu tìm ra được thủ phạm thù cũng là minh oan một phần nào cho tên họ Lôi ấy. Tôi ước mong tên đại đạo thủ phạm các vụ án ấy sẽ chính là Lôi Vân Long để có dịp đánh cho một trận. Y đã muốn phân tài cao hạ cùng Chu gia thì cũng dễ chớ không khó.
Chu Đức Kiệt âu yếm nhìn Bích Nữ :
- Lôi Vân Long bị Lam Y hiền muội đánh cho thua một trận ấy cũng đủ nhục lắm rồi, bởi lẽ thất trận Lôi Vân Long mới bỏ Bình Dương theo thầy, trước là chữa tay bị Lam Y đá gẫy, sau là khổ luyện báo thù.
Trước kia giữa hai họ Chu, Lôi chủ có sự ganh tị về phương pháp “Đơn đao” hơn kém, nay sự ganh đua ấy đã chuyển thành mối thù thất trận mà ngu huynh chắc không bao giờ Lôi Vân Long quên đâu. Lôi Vân Long xấu tính, thâm độc thiệt nhưng cứ trông việc y đang sống sung sướng đàng hoàng vô tư lự trên vàng bạc lụa là, mà bỏ hết mọi thứ chịu theo Bát Quái đạo nhân tha phương khổ luyện để đạt công phu tuyệt kỹ, thì đủ hiểu Lôi Vân Long cương quyết và căm thù chúng ta đến mức độ nào. Ta nên tiểu tâm phòng bị. Kẻ thù một khi thấy đối chiến mà không thắng nổi thường dùng bất cứ phương kế nào để thủ thắng. Lúc nào ngu huynh cũng e sợ kẻ tiểu nhân đánh lén.
Tới Bình Sơn tự, Tam hiệp lễ Phật xong rồi xuống thiền phòng yết kiến Minh Chiếu hòa thượng. Hòa thượng năm ấy đã ngoài thất tuần, hom hem không được khang kiện lắm. Người mừng rỡ, niềm nở chào hỏi anh em Chu gia, Trần nhũ mẫu, đoạn chỉ Bích Nữ mà hỏi rằng :
- Vị tín chủ này là ai?
Lam Y đỡ lời :
- Bạch hòa thượng, vị ấy là gia tẩu đấy.
- A! Thế ra là Chu Đức Kiệt phu nhân! Bần tăng xin lỗi sơ ý không hỏi ngay từ trước.
Chu Đức Kiệt nói :
- Chúng đệ tử mới hồi hương bận rộn việc nhà, thành thử không vào chùa yết kiến Thiền sư ngay từ buổi mới về để hỏi thăm về vụ mất Phật tượng bằng Lam Vân Ngọc.
Nghe câu chuyện ấy, nét mặt Minh Chiếu xịu xuống buồn rầu :
- Vụ mất Phật tượng thiệt tôi không bao giờ ngờ tới, Trang chủ ạ! Bần tăng thế phát ở chùa này, lớn lên cũng ở chùa này, cho đến nay được giữ chức trưởng chùa sau sáu mươi tám năm công quả, mọi việc nhất nhất theo đúng luật lệ của vị tiên sư như việc đêm nào cũng cắt hai người canh phòng Phật tượng trên Đại Hùng bảo điện chẳng hạn, ngờ đâu họ bị mạng vong! Người thì chết, mà Phật tượng cũng chẳng còn. Nếu biết trước cơ sự ấy thà rằng bỏ việc canh phòng đi cho rồi! Tội nghiệp!
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Ngoài miếng giấy do tên gian đạo bỏ lại, hòa thượng có thấy dấu tích gì nữa không?
- Không, ở chỗ hai vị tăng đáng thương bị hạ sát, hoàn toàn không thấy gì lạ. Nhưng trên bệ Phật thì bần tăng không rõ.
Đức Kiệt không hiểu :
- Đại hòa thượng dạy thế nào?
Minh Chiếu chậm rãi :
- Trang chủ không hiểu là phải. Nguyên do thế này. Vị thiền sư đưa Phật tượng Lam Vân ngọc từ Tây Tạng về Trung Nguyên, lúc viên tịch có nói: “Trong trường hợp mất tượng cứ để nguyên lồng kiếng tại chỗ. Phật tượng... sẽ trở về!”. Bởi thế bần tăng trọng lời nói của tiền nhân để y nguyên không cho tiểu tăng leo lên bực trên cùng lau chùi, mong rằng Phật tượng sẽ trở về thật chăng.
Chu Đức Kiệt nói :
- Thẩm tri huyện nhờ anh em đệ tử điều tra vụ huyết án này, xin phép hòa thượng cho đệ tử lên bệ Phật nhìn qua xem sao.
Lão hòa thượng ngần ngừ giây lát :
- Trang chủ và Chu tiểu thư cáng đáng vụ này bần tăng rất đỗi vui mừng rỡ, tin tưởng ở thành công. Nay chịu để Trang chủ lên bệ Phật tức là bần tăng phá lệ, thất hứa với tiền sư. Nhưng không lẽ điều tra mà không xem xét! Vậy yêu cầu Trang chủ “nhận xét” thôi và chớ động chạm đến mọi vật trên bệ. Có thế bần tăng mới dám nhận lời.
Chu Đức Kiệt mỉm cười mà rằng :
- Xin hòa thượng an tâm, đệ tử chỉ cần nhận xét qua loa cho mục kích thôi chớ một việc xảy ra trước đây đã mấy tháng thì chắc gì sẽ thấy dấu tích khả nghi.
Minh Chiếu nhắc :
- Việc xảy ra đã năm tháng. Trang chủ cần xem bây giờ không?
- Dạ, càng sớm càng hay.
Minh Chiếu đứng lên rũ cà sa :
- Nào mời quý vị theo bần tăng. Nếu đang có các tín chủ dưng hương, xin Trang chủ dời việc đó lại lúc khác nhé.
Chu Đức Kiệt gật đầu :
- Dĩ nhiên phải như vậy. Hòa thượng an tâm.
Mọi người lên tới bảo điện cũng may vắng khách hành hương, riêng có vị tăng đang Ngọ tụng.
Minh Chiếu đại hòa thượng bước đến nói nhỏ với vị tăng ấy mấy câu đoạn trở ra nói với Đức Kiệt.
- Mời Trang chủ cứ việc thi hành. Phía sau điện có thang leo lên bực gạch cao.
Trần nhũ mẫu đứng lại lễ Phật, còn Tam hiệp thì theo Minh Chiếu đi vòng ra phía sau bảo điện. Đức Kiệt nhón nhén leo lên thang cây tới mặt bệ trên cùng, nơi có bầy chiếc lồng kính đựng Phật tượng Lam Vân Ngọc.
Chân lồng kính vẫn y nguyên, nhưng cái chụp ba mặt gắn kiếng khung gỗ mun hình chữ nhật bị kẻ gian đạo nhắc ra bỏ nằm sang bên. Ngoài ra tuyệt nhiên không có gì lạ cả.
Đức Kiệt toan xuống thang thì chợt để ý đến chiếc chụp kiếng, mặt bằng gỗ úp xuống bệ gạch nhưng sao lại bị kênh lên thế kia Chàng ý tứ đưa mắt nhìn xuống thấy Minh Chiếu đang mải nói chuyện với Lam Y, bèn lẹ tay nhấc cái chụp kiếng lên xem. Nét mặt chàng tươi hẳn lên: một chiếc dao găm nằm ngang trên bệ. Chàng cầm gọn con dao đó theo chiều tay, đặt lồng kiếng lại như cũ, đoạn xuống thang.
Minh Chiếu vội hỏi :
- Trang chủ thấy gì không?
Đức Kiệt lắc đầu :
- Ngoài chiếc lồng kiếng bị mở ra đặt nằm nghiêng trên bệ gạch, tuyệt nhiên không có gì cả.
- Bần tăng đã nói rồi mà! Trước kia hai vị giáo đầu Tiêu Hán, Vân Bưu đến chùa xem xét, bần tăng cũng yêu cầu không lên bệ Phật, và nhị vị ấy đã ưng thuận không lên đó.
Lam Y, Bích Nữ đưa mắt nhìn Đức Kiệt thông cảm. Đoạn hai nàng nhìn nhau tủm tỉm cười. Hòa thượng cùng Tam hiệp trở ra phía trước. Người chỉ chỗ hai tăng nhân bị tên đại đạo sát hại mà rằng :
- Một người bị chém rụng đầu, xác úp sấp ngay chỗ chân cột lớn này. Còn người bị đâm thì nằm nghiêng ngay gần cửa, cánh cửa khép hờ lại.
Lam Y nói :
- Có lẽ nạn nhân bị tử thương rồi cố lê ra cửa định gọi người nhưng chưa tới nơi thì tắt thở.
Minh Chiếu gật đầu :
- Tiểu thư nói phải. Tội nghiệp quá! Cũng như chư tăng trong chùa, hai nạn nhân không chút võ nghệ nào cả tuy có võ trang trong lúc canh phòng đêm hôm. Chắc hai nạn nhân đã cố chiến đấu, tên đại đạo e bị cản trở ra tay hạ sát luôn.
- Bạch hòa thượng dù hai vị tăng nhân ấy không chống cự cũng bị hạ sát như thường. Căn cứ vào các vụ án liên tiếp xảy ra trong thành thì thủ phạm là một tên khát máu độc ác vô thượng. Vụ nào cũng có người bị hạ sát.
- Chao ôi! Con người như thế thác xuống Âm ty sẽ vào vạc dầu mất! Ghê quá! Riêng phần bổn tự, bần tăng nhận thấy không có công phu bản lãnh cũng thiệt thòi, nên muốn phái mấy tăng nhân xuống Tung Sơn theo học để khi thành công trở về truyền bá cho toàn thể nhân viên nội tự, ba vị tính có nên không?
Lam Y nói :
- Nên lắm chứ! Nếu hai tăng nhân bị hạ sát trong bảo điện biết võ nghệ, ít ra cũng chống chọi được năm mười hiệp với tên đại đạo, thừa sức báo động cho mọi người biết, và vị tất đã bị mạng vong. Hòa thượng cứ xem một tỉ dụ nhỏ như vậy cũng thừa hiểu tập luyện công phu rất hữu ích. Người Sơn Đông rất thượng võ. Chính tiểu nữ cũng không ngờ rằng chư tăng trụ trì Bình Sơn tự không có một người nào chịu tập luyện cả. Luyện võ nghệ không phải là điều phạm giới.
- Chư tăng không luyện tập do lỗi ở bần tăng. Trước kia bần tăng thường nghĩ rằng kẻ tu hành yểm thế thì biết nâu sòng tụng Kinh niệm Phật, làm việc thiện không lợi cũng như không hại đến ai, thì làm gì còn vương nghiệp chướng. Sau vụ mất tượng, bần tăng mới sáng mắt và hiểu rằng phàm con người ta ở trên đời bất cứ giới nào cũng cần phải khỏe mạnh mới được sống yên ổn.
Chu Đức Kiệt nói :
- Hòa thượng nghĩ như vậy chí phải. Người nên thu xếp phái mấy vị tăng còn niên thiếu xuống Tung Sơn học nghệ, đừng để phí thì giờ nữa.
Chỉ Bích Nữ chàng nói tiếp :
- Tiện nội đây là cao đồ Thiếu Lâm tự được Chiêu Đức sư trưởng thương mến như con đẻ, nếu hòa thượng ưng thuận tiện nội sẽ viết thư yêu cầu Sư trưởng Thiếu Lâm tự phái tăng đồ lên Bình Dương ở lại Bình Sơn tự truyền dạy chư tăng. Như vậy đỡ mất công và thì giờ đợi chờ người xuống Thiếu Lâm tòng học trở về.
Minh Chiếu hỏi :
- Thời gian tòng học trên Tung Sơn mất bao nhiêu lâu thưa Trang chủ?
- Vấn đề đó rất sâu rộng. Hòa thượng nên lựa người còn ít tuổi đức độ chắc chắn thành đạt. Thời gian học nghệ để đạt tới thượng thừa lẽ ra cũng mất mười năm khổ luyện. Theo ngu ý, người nên sai phái hẳn một hai tăng nhân chịu khổ luyện như vậy đó, thì chỉ sau thời gian ấy, Bình Sơn tự sẽ có một người hữu tài điều khiển về võ thuật. Và cũng trong thời gian ấy, vị tăng nhân do Thiếu Lâm tự phái lên đây cũng luyện được một số người tại chùa sở dĩ hữu dụng rồi.
Minh Chiếu hòa thượng nói :
- Trang chủ dạy đúng lẽ, bần tăng tức khắc thi hành. Hôm sau thỉnh quý vị nán lại chùa dùng bữa cơm dưa muối, nhân thể yêu cầu Chu phu nhân vui lòng biên cho một phong thư giới thiệu cùng Sư trưởng Thiếu Lâm tự.
Tam hiệp nhận lời. Âu Dương Bích Nữ kể rành mạch cho Minh Chiếu nghe các quy luật nghiêm khắc của Thiếu Lâm tự. Nàng nói :
- Nếu đại hòa thượng chịu khó theo đúng chương trình cho chư tăng luyện tập, chỉ trong vòng năm năm chùa ta sẽ dành được địa vị khả quan trong giới võ thuật.
Minh Chiếu hòa thượng nói :
- Phu nhân đã chỉ bảo, bần tăng nhất định phải theo.
Nói đoạn, Minh Chiếu vỗ tay gọi tăng đồ lấy nghiên bút, hoa tiên để Chu phu nhân viết thư gửi gắm, nhưng Bích Nữ ngắt lời :
- Hiện thời, Chiêu Đức sư trưởng đang du ngoạn Vạn Lý Trường Thành. Nếu không có sự gì cấp bách, người sẽ về qua Bình Dương. Lúc đó đệ tử sẽ giới thiệu với Đại hòa thượng. Việc cần nhất là hòa thượng chọn hai người chắc chắn cho đi theo gia sư về luyện tập tại Thiếu Lâm tự.
Minh Chiếu mừng rỡ :
- Như vậy càng hay, bần tăng sẽ có dịp được diện kiến vị Sư trưởng ngôi danh tự của Trung Nguyên.
Chiều hôm ấy về đến nhà, quản trang Vương Bình đi vắng. Chu Đức Kiệt đưa mũi đoản chủy tìm thấy ở Bình Sơn tự cho Lam Y, Bích Nữ xem.
Chàng nói :
- Chuôi chủy có khắc ba chữ: “Hắc Vân Long” chắc là tước hiệu giang hồ hay lục lâm đại đạo chi đó của tên thủ phạm.
Lam Y gật đầu :
- Tuy chưa tìm ra manh mối nhưng hãy tạm biết tước hiệu của tên sát nhân đã. À, vì có hai chữ Vân Long nên y để luôn tên Lôi Vân Long trên mảnh giấy cốt ý làm rối ren thêm cuộc điều tra. Nhưng vì lẽ gì tên đại đạo này có thể sơ sót đến nỗi bỏ quên đoản chủy trên bệ thờ được?
Chu Đức Kiệt nói :
- Mũi chủy này ở dưới chiếc lồng kính. Ngu huynh đã nhận xét kỹ và dự đoán vụ tàn sát ở bảo điện Bình Sơn tự như thế này: Hắc Vân Long lẻn vào được trong bảo điện núp sau bệ thờ các Phật tượng cao lớn chờ đến lúc hai tăng nhân canh phòng ngủ say mới hành động. Lồng kiếng có chốt nó mở không được nên dùng mũi chủy cạy. Cạy được, nó vô tình để mũi chủy xuống bệ thờ, đoạn vội vàng nhấc lồng kiếng ra để đè lên trên. Có lẽ giữa lúc ấy, hai tăng nhân thấy động vùng dậy và thấy ngay tên đại đạo đang ngồi chồm chỗm trên bệ thờ bên tượng Lam Vân ngọc. Họ dại dột không truy hô lên. Trái lại, sợ hai tăng nhân đó biết võ nghệ, Hắc Vân Long vội vàng quơ luôn pho Phật tượng quý giá ấy rút đao ra, phi thân qua đầu các tượng khác xuống thẳng chỗ hai tăng nhân hoa đao đánh liền. Hai tăng nhân đáng thương kia đâu phải là đối thủ của Hắc Vân Long, nên chỉ trong chớp mắt họ bị tử thương luôn. Hắc Vân Long quên mũi chủy bỏ lại trên bệ thờ là vì vậy. Giả thuyết ấy, hiền muội và hiền thê nghe được không?
Bích Nữ nhìn Lam Y :
- Lập luận thế đúng lắm, xin đồng ý.
Lam Y nói :
- Bây giờ tìm Hắc Vân Long mới khó. Biết y còn ở Bình Dương hay luôn mấy tháng nay hiếp đáp, vơ vét được nhiều của cải rồi, dông nơi khác?
- Giả tỉ y còn ở Bình Dương nữa, làm sao biết được y hành động vào ngày giờ nào, ở nơi nào mà đón bắt! Khó lắm.
Nói đoạn, nàng chắp tay ra sau lưng, đi đi lại lại trong sảnh đường ra chiều suy nghĩ. Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ cũng đăm đăm im lặng Hồi lâu, Bích Nữ cất tiếng nói trước :
- Căn cứ vào các vụ án trước, Hắc Vân Long không những giết người cướp của mà còn có dâm tật nữa. Nó hiếp đáp rồi hạ sát để phi tang, vậy trước khi hành động tại nơi nào tất nó phải dò xét xem nơi ấy hoặc có của, hoặc có phụ nữ nhan sắc thì nó mới ra tay, chớ không hành động bậy bạ. Bằng cớ là từ hôm trước chúng ta về Bình Dương chưa xảy ra vụ án nào cả. Có lẽ Hắc Vân Long còn đang dò xét tìm nơi kiếm chỗ chăng.
Chu Đức Kiệt ngắt lời vợ :
- Hay là đi nơi khác rồi không biết chừng.
Bích Nữ gật đầu :
- Có thể lắm. Những hạng người sanh sống trong nghề ấy không bao giờ dám ở lâu một chỗ mà Hắc Vân Long dám ở luôn một mạch Bình Dương tới năm sáu tháng nay rồi, kể khá can trường! Ngu muội có một mẹo này không biết có nên làm hay không?
Lam Y quay phắt người lại hỏi :
- Mưu kế chi vậy hiền tẩu?
Bích Nữ nói :
- Hắc Vân Long là tên háo sắc, ta có thể bẫy được nó.
Lam Y tươi hẳn nét mặt :
- A! Phải chăng tẩu tẩu định mướn một giai nhân nào đó, cho nàng trang sức thiệt đẹp ra vào giữa nơi công công như khách sạn, tửu lầu chẳng hạn. Hắc Vân Long tất qua lại những nơi ấy, cắn câu... lao đầu vào lưới... Phải chăng?
Bích Nữ mỉm cười :
- Cô muội tưởng tượng rất đúng. Ta phải dàn cảnh làm sao cho giai nhân là người ở xa đến Bình Dương trọ ở đại tửu lầu đi lại phố xá mua bán, phô trương. Luôn năm bảy ngày như vậy mà không xảy ra chuyện gì thì chắc Hắc Vân Long đại đạo đào tẩu rồi.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Mưu kế hay, nhưng kiếm đâu ra vị giai nhân bây giờ?
Bích Nữ đáp :
- Thiếu gì người trong đám ca vũ nữ tửu quán trà lâu.
- Hắc Vân Long cướp được tiền của tiêu dùng lại háo sắc tất có ra vào nơi kỷ viện ca lâu, lỡ nó nhận ra giai nhân giả thì khi nào chịu cắn câu?
Lam Y nói :
- Hiền huynh luận thế cũng phải nhưng không chắc. Hắc Vân Long đi lại các nơi kỹ viện. Hai vị giáo đầu Tiêu Hán, Vân Bưu hôm qua có nói đã điều tra trong khu vực ấy, nhưng không thấy ai đáng nghi ngờ cả. Việc tìm người đẹp hiền huynh cứ việc nói chuyện thẳng với Thẩm huyện quan. Họ Thẩm sẽ lo dàn xếp chu đáo, bọn ta chỉ có việc đóng vai ngư phủ mà thôi.
Tam hiệp đang bàn định thì Vương Bình cưỡi ngựa trở về, lên thẳng sảnh đường.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Quản trang đi đâu về thế?
Vương Bình đáp :
- Vào quãng giờ Mùi, có người bên nhà họ Cẩm đến trang trại mời ba vị qua nhà có việc cần kíp. Chờ mãi không thấy về, tôi liền đến đó xem việc gì và trả lời là ba vị chưa về luôn thể.
Lam Y ngạc nhiên :
- Nhà họ Cầm nào? Phải chăng nhà chồng Trần Mỹ Phượng bên Kỳ Đức lộ?
- Dạ, chính Cầm nương tử.
- Vậy quản trang đã gặp vợ chồng họ Cầm chưa?
- Dạ, gặp rồi. Câu chuyện không có gì đáng lo cả nhưng vì các vụ huyết án trước đây nên mọi người nhà họ Cầm đều sợ hãi, nghĩ tới chuyện cầu cứu bên trang trại nhà.
Bích Nữ hỏi Vương Bình :
- Chắc Trần thơ thơ bị kẻ nào dòm ngó nên giật mình lo sợ chứ gì?
- Quả có vậy. Nguyên hồi quá ngọ, Cầm nương tử đang giúp Cầm mẫu bán hàng thì có một người đi qua lộ nhìn chằm chặp. Nương tử vội vào nhà trong tránh cặp mắt tò mò, nhưng kẻ kia bỏ đi ngay. Sau đó, Cầm mẫu ngồi quầy hàng thấy người ấy trở lại vào tiệm hỏi mua hàng và lấm lét nhìn vào nhà trong, có ý tìm kiếm Cầm nương tử. Thấy người ấy có vẻ trâng tráo tò mò, nhà họ Cầm phát sợ nên sai người cầu cứu ba vị.
Chu Đức Kiệt bảo Lam Y :
- Họ Cầm lo sợ là phải, chúng ta liệu giúp sức mới được.
- May ra nhờ nhan sắc của Trần Mỹ Phượng chúng ta khỏi lo “mỹ nhân kế” một công đôi việc.
Suy nghĩ giây lát, Lam Y nói :
- Bây giờ còn sớm quá, anh em ta cơm nước xong, tối mịt hãy ra Kỳ Đức lộ cũng vừa. Chẳng cần phải báo trước, cho Cầm gia biết nữa.
Họ Cầm là một đại thương gia tại Bình Dương thành, buôn to bán lớn đã mấy đời tại huyện, mọi người đều biết tiếng. Chủ nhân là Cầm Bàng Vỹ năm ấy đã ngoại lục tuần. Vợ là Triệu thị. Hai vợ chồng cùng hiền đức, hiếm hoi chỉ sanh được một cậu con trai là Cầm Bách Hy, Bàng Vỹ cưới con gái của bạn đồng nghiệp họ Trần cho Bách Hy. Hai họ thông gia này cùng quen thân với Chu gia trang. Bởi vậy, sau khi bị kẻ lạ mặt dòm ngó, vợ chồng Bách Hy vội cho người nhà đến tìm anh em Chu gia nhờ che chở hộ.
Lão quản trang Vương Bình ra về, gia đình họ Cẩm đã mừng rỡ, yên trí thế nào Tam hiệp cũng đến ngay chẳng dè trời tối mịt, nên ai nấy đều phập phồng lo sợ. Cầm Bàng Vỹ bắt tất cả người nhà đem ấy phải tụ tập ở khách phòng cùng vợ chồng Bách Hy, phòng bị lỡ kẻ lạ mặt mà Cầm gia nghi là tên đại đạo sát nhân có lần tới thấy đông người không dám giở thủ đoạn tàn ác.
Bách Hy nói với cha :
- Hay là phái gia nhân lên huyện nha trình báo? Chẳng lẽ chờ bên Chu gia trang mãi sao? Lỡ Trang chủ và Chu tiểu thư đêm nay không về nhà thì làm thế nào?
Cẩm lão lắc đầu :
- Báo huyện bây giờ cũng trễ rồi. Hồi chiều Vương quản trang nhất quyết là Tam hiệp đi dâng hương Bình Sơn tự thế nào cũng trở về mà. Gắng chờ xem sao. Cùng lắm là đêm nay cùng thức, nếu kẻ lạ mặt tới là sẽ tri hô lên, nó thấy đông người không dám giở trò gì? Con nên nhớ rằng các gia đình bị nạn lúc lâm nạn đều ngủ say cả. Trái lại, toàn thể nhà ta đều thức và quây quần cả lại một chỗ, kẻ lạ có đến cũng chẳng dám vào e bị nhận diện.
Trần Mỹ Phượng trạc hai mươi bốn tuổi, tuy đã hai lần sanh nở, nhưng nàng nõn nà phây phây, vóc dáng đều đặn, thinh sắc vẹn tuyền. Nàng đẹp thiệt, đẹp hiền hậu.
Từ ngày kết bạn lứa đôi với Bách Hy, đi đâu nàng cũng đi cùng chồng, không hề xảy ra chuyện gì đáng tiếc. Ấy thế mà hôm nay, kẻ lạ mặt vào đó đã để ý đến bông hoa hữu chủ trong lúc nàng giúp mẹ chồng ngoài mặt hàng.
Gớm khiếp! Cặp mắt diều hâu sáng quắc của kẻ kia trố trố nhìn như muốn nuốt chửng nàng ngay! Cho đến lúc này, ngồi giữa mọi người thân thuộc trong căn phòng lớn đèn thắp sáng trưng. Trần Mỹ Phượng vẫn chưa quên được cặp mắt cú vọ ấy. Nghĩ mà kinh!
Bất giác nàng nhắm nghiền mắt, rùng mình. Cầm Bách Hy lo lắng âu yếm hỏi vợ :
- Hiền thê sao thế? Lạnh phải không?
Trần Mỹ Phượng lắc đầu nàng nói nhỏ bên tai chồng :
- Cặp mắt sắc như dao của tên đứng nhìn ban chiều, khiếp quá! Thiếp cảm như nó đang núp đâu đây nhòm ngó.
Bách Hy an ủi :
- Sợ quá nên nghĩ như vậy thôi. Hiền thê cố ngủ đi. Mọi người thức đủ rồi.
Nể chồng Trần Mỹ Phượng ngả đầu xuống gối bên hai đứa nhỏ phương phi đang ngon giấc. Chúng ngây thơ xinh xắn đáng yêu tệ.
Mỹ Phượng nhắm mắt cho chồng thân mến yên tâm. Nàng nghĩ liên miên đến công nọ việc kia, cố quên cặp mắt diều hâu lúc ban chiều. Quái lạ! Sao giờ này mà Lam Y không tới! Xưa nay cô bạn thân mến ấy có trì trễ bao giờ đâu? Quen nhau hồi cả hai còn thơ ấu, lớn lên Lam Y theo con đường võ nghiệp, khổ luyện công phu trở thành một vị cân quắc anh hùng danh tiếng lẫy lừng. Còn nàng, Mỹ Phượng thì lấy chồng sống cuộc đời gia đình êm ái dưới mái nhà ấm cúng, giữa mối tình nồng nàn đằm thắm của chồng và hai con yêu quý.
Bỗng mấy con chó thả rong ngoài sân sau sủa ran. Trong phòng khách, ai nấy đều giật mình ngồi phắt dậy lo lắng nhìn nhau. Cầm ông bỏ cuốn sách đang đọc dở xuống bên chân cây đèn pha lê, chỉnh lại cặp mắt kiếng, lắng tai nghe ngóng. Bên ngoài, chó vẫn sủa liên hồi nghe nóng cả ruột. Cầm ông và Bách Hy đứng dậy toan bảo gia nhân ra xem sự gì, thì có tiếng chân người đi sầm sập phía ngoài khiến ai nấy lo sợ thêm.
Nhưng Ông Cầm đã nói nhỏ :
- Đừng có sợ! Gian đạo gì mà đi mạnh thế này? Người nào đó thôi.
Bách Hy nói :
- Cửa đóng kín hết, người lạ nào vào nổi đâu nếu không là tên...
Nhưng chàng bỗng bỏ dở câu nói, tươi hẳn nét mặt :
- Tiếng chân nhiều người đi. Hay là Tam hiệp bên Chu gia trang?
Cùng lúc ấy, tiếng chân đã đến trước cửa và người bên ngoài gõ mạnh vào cánh cửa khép chặt.
Mọi người trong phòng còn ngần ngại chưa dám lên tiếng, thì bên ngoài một giọng nói êm dịu ấm áp vang lên :
- Thắp đèn sáng choang mà đi ngủ sớm thế này? Có ai trong phòng không?
Cùng một lúc toàn thể gia họ Cầm nhận ra tiếng Lam Y nữ hiệp. Ai nấy đều vui mừng vùng cả dậy. Sự tin tưởng đã trở lại trên các khuôn mặt.
Cầm Bách Hy vội vàng mở cửa. Tam hiệp võ trang đứng sừng sững ngay phía ngoài, trước cửa. Lam Y đứng giữa, Đức Kiệt Bích Nữ đứng sát hai bên. Trần Mỹ Phượng sung sướng chạy ra ôm chầm lấy Lam Y gục đầu vào vai bạn khóc nức nở. Lam Y vuốt tóc bạn :
- Thế nào tôi chả đến, việc gì mà lo lắng?
Trần Mỹ Phượng chùi nước mắt :
- Tiểu muội biết thơ thơ thế nào cũng đến, nhưng việc lo rầu phải lo. Tiểu muội khóc đây là vì thấy thơ thơ oai dũng uy nghiêm đáng kính quá, còn tiểu muội thì hèn yếu tựa bèo dạt hoa trôi.
Nhác nhìn cảnh trong khách phòng, Lam Y tiến lên mấy bước thi lễ cùng Cầm ông và Bách Hy. Nàng nói :
- Nhị vị nên giải tán mọi người đâu về đấy và đừng lo. Phải tự nhiên mới mong bắt được tên gian tặc đạo.
Cầm ông khẩn khoản :
- Xin ba vị chú tâm giải quyết cho vụ này, chúng tôi rất đỗi lo sợ.
Lam Y mỉm cười niềm nở :
- Xin tiên sinh yên tâm. Việc này cũng như việc nhà chúng tôi. Tôi cần hỏi Mỹ Phượng vài điều.
Cầm ông bảo mọi người giải tán và để mặc vợ chồng Trần Mỹ Phượng hỏi chuyện Tam hiệp. Cầm bà là Triệu thị sai gia nhân pha trà mời khách, Trần Mỹ Phượng bảo nhũ mẫu coi hai con để càng rảnh tay hầu tiếp Tam hiệp. Lam Y hỏi :
- Hình dáng tên dòm ngó hồi chiều thế nào?
Mỹ Phượng im lặng giây lát, cố nhớ lại rõ ràng hình dáng kẻ lạ mặt :
- Nó dong dỏng cao nhưng khỏe mạnh, nước da bềnh bệch, cặp mắt đặc biệt quá chừng. Cặp mắt nó vàng khè như đồng thau, sắc bén, ác hiểm, lạ lùng. Nó nhìn trừng trừng, tiểu muội kinh sợ quá. Mắt nó có sức thâu hút khiến người ta hoàn toàn run rẩy, bàng hoàng, nét mặt lạnh như thép của nó thiệt tương đương với đôi mắt diều hâu ấy.
Cầm mẫu ngồi gần đấy cũng nói theo con dâu :
- Chu tiểu thơ ạ, lúc tên lạ mặt ấy thấy Mỹ Phượng bỏ cửa tiệm vào nhà trong, một lát sau nó bước vào tiệm, láo liêm dòm ngó khiến tôi rụng rời đổ hết, hồn bất phụ thể. Có lẽ chính nó là tên sát nhân can phạm của các vụ huyết án tại Bình Dương.
Lam Y nói :
- Nghi ngờ không chuẩn đích, chưa dám nói chắc. Biết đâu nó chỉ là một tên háo sắc qua đường thấy Mỹ Phượng nhan sắc ngổ ngáo trêu cợt! Dù sao ta cũng nên phòng bị! Đêm nay tôi ở đây với Mỹ Phượng phòng vệ. Còn phòng trên lầu nên tạm nhường cho gia huynh, gia tẩu mới có thể phòng ngừa được cả trên lẫn dưới.
- Dạ, ba vị tùy nghi sắp đặt miễn là bảo vệ an ninh. Bắt được gian đạo, không những giúp cho nhà Cầm chúng tôi, mà toàn dân Bình Dương này ơn chứ.
Chu Đức Kiệt và Bích Nữ sửa soạn lên lầu. Trước khi ra khỏi phòng. Trước khi ra khỏi phòng khách, Đức Kiệt nói :
- Bá mẫu an tâm, tôi dám chắc rằng đêm nay không xảy ra sự việc gì. Bọn gian đạo ít nhất phải dò xét chắc chắn mới dám hành động. Chúng không hấp tấp đâu.
Một đêm qua an tĩnh. Sáng hôm sau, dùng điểm tâm ở nhà họ Cầm xong, trước khi ra về, Lam Y dặn Cầm ông, Cầm bà và vợ chồng Bách Hy :
- Nội ngày hôm nay, quý vị cứ ra vào cửa tiệm buôn bán tự nhiên như ngày thường. Nếu tên kia có đến dòm ngó nữa, Trần Mỹ Phượng cũng thản nhiên đừng tránh. Được như vậy nó mới bạo dạn chờ đêm tối hành động. Chúng tôi lưu ý vụ này, đừng báo huyện quan nhé.
Chu Đức Kiệt bảo Lam Y, Bích Nữ :
- Ngu huynh tính thế này có lẽ hay hơn. Hiền muội và hiền thê ở lại đây với Cầm thơ thơ. Trong trường hợp tên kia trở lại, hai người nhận xét tinh tường chắc chắn hơn.
Hai nàng cùng tán thành, Đức Kiệt về trang trại một mình.
Hôm ấy vào quãng giờ Tỵ, Cầm mẫu và Trần Mỹ Phượng đang ngồi quầy hàng thì người có cặp mắt đồng thau nọ đi qua. Trái với hôm trước, y không trâng tráo dòm ngó nữa, nhưng rẽ vào tửu quán nhỏ đối diện với cửa tiệm Cầm gia uống nước.
Cầm mẫu vội bảo Trần Mỹ Phượng :
- Con ráng ngồi đây, mẹ vào báo cho chị em Chu tiểu thư hay.
Lam Y và Bích Nữ vận thường phục ngày thường tựa thể người nhà đủng đỉnh ra mặt hàng đứng bên quầy tự nhiên nói chuyện cùng Mỹ Phượng.
Mỹ Phượng nói :
- Nó ở tửu quán bên kia đường, ngồi ở thồi góc tường kia kìa.
Lam Y, Bích Nữ thản nhiên, thực ra hai nàng nhận xét rõ ràng tên nọ đang chăm chú nhìn ba người đẹp bên tiệm Cầm gia.

Bích Nữ mỉm cười bảo Lam Y :
- Nực cười thay, chúng ta bàn định tìm giai nhân thi hành mỹ nhân kế, thì hiện nay ta đang đóng vai giai nhân ấy đó.
Lam Y nói :
- Cặp mắt và nét mặt nó thế kia thảo nào Mỹ Phượng phát hoảng là phải. Nếu đúng nó là tên can phạm các vụ huyết án trước, thì quả là nó coi trời bằng vung.
- Tại một huyện lớn như Bình Dương thành này mà nhân viên trên huyện luôn trong nhiều tháng đành bó tay không khám phá ra vụ huyết án nào cả, làm chi nó chẳng khinh thường.

- Nó trang phục đen tuyền kia có lẽ hợp với tước hiệu Hắc Vân Long. Tiếc quá, nếu có Chu huynh ở đây thì xem nó đi đâu.

Mỹ Phượng nói :
- Để tiểu muội bảo Cầm lang thử theo xem, được không?
Lam Y gật đầu :
- Được lắm, nhưng hiền muội dặn Bách Hy phải cẩn thận nhé. Đi ra lối sau cho nó không để ý. Tên này có vẻ tinh quái lắm.
Mỹ Phượng đủng đỉnh vào nhà trong bảo chồng, Lam Y ngồi thế vào quầy hàng.
Bích Nữ bảo Lam Y :
- Chúng ta hành động sơ hở một chút.
- Sơ hở sao, hả tẩu tẩu?
- Hầu khắp thành Bình Dương đều biết mặt cô muội, lỡ tên mắt thau kia dò hỏi mọi người trong tửu quán thì sao? Nó nghe danh Chu gia thì chắc chắn không dám tới nữa?
- Hiền tẩu đừng lo. Trừ hôm rồi, tiểu muội không qua lại khu phố này bao giờ cả, kể từ ngày Mỹ Phượng sánh duyên cùng Bách Hy. Mấy năm sau này, hiền muội đẫy đà hơn trước nhiều, không chắc nhân viên bên quán đã nhận ra. Vả lại người Bình Dương quen nhìn tiểu muội võ phục, nay vận xiêm y, tóc búi khác, xuề xòa lướt thướt hoàn trang phụ nữ thế này càng khó nhận ra.
Lát sau, Mỹ Phượng trở ra quầy hàng. Bên tửu quán, tên “điêu nhỡn” ngồi nán lại lát nữa rồi trả tiền hàng ra đi. Cầm Bách Hy lảng vảng quanh đó đi theo.
Mỹ Phượng nhìn Lam Y, Bích Nữ mà rằng :
- Tội nghiệp! Cầm lang lo lắm đấy, xưa nay bản tánh hiền lành nhút nhát, nay phải theo gót một tên hung ác kia. Cầm lang chẳng khỏi thấp thỏm kinh sợ.
Lam Y cười :
- Chà! Ban ngày ban mặt nó đâu dám hành hung! Nhất là lúc này còn đang toan tính đến “mỹ nhân” nó không còn tâm địa nào gây chuyện để bị mọi người chú ý tới nữa đâu. Hiền muội an tâm.
Mỹ Phượng gọi người nhà ra coi hàng, đoạn ba nàng cùng vào nhà trong. Sang cuối giờ Mùi, Cầm Bách Hy chưa về.
Mỹ Phượng lo lắng nói với Lam Y :
- Chết thật, giờ này mà Cầm lang chưa về. Nếu xảy ra chuyện bất tường thì song thân và tiểu muội chết mất thôi.
Giữa lúc ấy, Cầm Bách Hy từ ngoài đi vào. Lam Y vỗ vai Mỹ Phượng :
- Lịnh lang quân về kia rồi. Mừng nhé!
Quay sang phía họ Cầm, nàng hỏi :
- Cầm đại ca đi đâu bây gờ mới về khiến “phu nhân” ốm vì lo sợ đây nè.
Bách Hy rót ly nước trà uống cạn :
- Gớm, theo nó có dễ dàng đâu! Vừa đi, nó vừa ngoảnh nhìn lại phía sau luôn luôn khiến tôi phải đi xa ở lề đường bên kia, e nó nhận diện gây sự chăng. Nó lang thang qua xóm chợ, gặp hai tên quen thuộc mà tôi không nhận được mặt, sau đó cả ba tên cùng qua khu tả đến Quảng Điều lộ rẽ vào căn nhà ở giữa phố đóng kín cửa không ra nữa. Tôi vào tiệm nước chờ hồi lâu không thấy gì nên đành ra về.
- Thế là khá lắm rồi. Cầm thơ thơ cứ bảo đại ca hiền lành nhút nhát mãi đi. Biết được nơi tên “điêu nhỡn” ấy qua lại, ta có thể theo dõi được.
Lam Y hỏi Bách Hy :
- Có dễ nhận ra căn nhà đó không?
- Có, nhà lầu xây gạch khá rộng. Trước cửa có trụ đá dùng để cột ngựa, trông kế sang bên kia lộ là tửu quán Lý Gia có treo biển hàng ngay giữa cửa.
Lam Y nói :
- Được lắm. Giờ đây chị em tôi xin kiếu về trang. Đêm nay quý vị cứ như thường, chúng tôi sẽ canh chừng quanh đây. Đừng lo sợ vô ích nhé!
Nói đoạn, Lam Y Bích Nữ lên lầu thay võ phục ra về bằng lối sau nhà.
Nói về Chu Đức Kiệt hôm ấy ở nhà, gần giờ ngọ thì trang đinh vào báo có Thẩm huyện quan đến thăm. Đức Kiệt khoác áo dài ra tận cổng trang đón tiếp.
Thẩm Ngọc Thụ vận bào xanh thường phục một mình đi kiệu đến. Họ Thẩm nói :
- Xin lỗi Trang chủ, tôi đến bất ngờ làm phiền, nhưng có việc tôi cần tham khảo ý kiến!
Chu Đức Kiệt tươi cười :
- Đại công cứ tự nhiên, mời người lên sảnh đường!
Chia ngôi chủ khách, xong một tuần trà, Chu Đức Kiệt hỏi :
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 1
 
Posts: 687
Joined: Wed Nov 23, 2011 5:39 pm
I am: Reader

PreviousNext

Return to Martial Arts

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 12 guests



www.VomtroiMagazine.com

All Daily News - Tin mới nhất
www.VomTroiMagazine.com 

********

Cám Ơn.Thank You.Merci

Contact us

Vom Troi Magazine

9101 Boul. Maurice Duplessis 
Succ. Rivières des Prairies
P.O. Box 25273
H1E – 6M0 Mtl PQ 
Tel: 514-677-7315

VomtroiMagazine@gmail.com
VNBusinessMedia@Yahoo.com 

_________________________ __________________________
 Supporters **** ****

        


HTML Counter
cron