Board index   FAQ   Search  
Register  Login

*** ***
Click here to go to vomtroimagazine.com
Supporters

Truyện Kiếm Hiệp ***** LAM Y NỮ HIỆP ***** Đã đăng hết

Diễn Đàn Võ-Thuật

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp - hồi 42 (tiếp)

Postby Editor 1 » Mon Aug 18, 2014 12:26 am


(Hồi 42 tiếp)


- Đại công có chuyện chi cần vậy?
- Lạ lắm Trang chủ ạ! Sáng nay có công văn trên Tế Nam phủ tới. Trong bọc công thư,Tuần phủ có kèm theo một phong thư của Giản giáo đầu phu nhân gởi về Bình Dương thăm chồng, nhưng cách đây sáu tháng khi Giản Tử Thôi cầm lệnh thuyên chuyển từ trên phủ về Bình Dương, tôi có hỏi thăm đến gia đình thì y trả lời là vợ y mất được hơn một năm rồi không có con cái, y buồn nên tự ý xin thuyên chuyển, nên Tuần phủ Tế Nam chỉ định y xuống Bình Dương với chức Đại giáo đầu.

Chu Đức Kiệt hỏi :
- Trong công văn thuyên chuyển có ghi rõ chức Đại giáo đầu không?
- Có ghi rõ ràng. Bây giờ bỗng nhiên nhận được thư của Giản phu nhân gửi theo công văn, tôi mới lấy làm lạ, và muốn tham khảo ý kiến của Trang chủ.

Chu Đức Kiệt nói :
- Chẳng mấy khi được tiếp Đại công tại tệ trang, giờ này chắc Người chưa dùng bữa, vậy cho phép tôi đãi rượu rồi cùng bàn luận sau.

Thẩm Ngọc Thụ vốn rất thân tình với Chu gia nên nhận lời ngay. Chu Đức Kiệt bèn sai trang đinh bày rượu khoản đãi thân quan.

Rượu được một tuần, chàng nói :
- Từ hôm về huyện nhà tôi có ý dò hỏi và nhận xét thấy thái độ của Giản Tử Thôi có vẻ kỳ dị, nhưng tôi không tiện nói ra. Bản lãnh y khá lắm phải không?

Thẩm Ngọc Thụ gật đầu :
- Trong khi luyện tập quan quân, Giản Tử Thôi đã nhiều phen trổ tài võ nghệ nhất là thuật phi thiềm tẩu bích. Không những tôi nhận xét quả y rất cao cường, mà cả hai cựu giáo đầu Tiêu Hán, Vân Bưu cũng đồng quan điểm. Hiềm một nỗi, riêng đối với hai bạn đồng nghiệp Tiêu, Vân. Tử Thôi có vẻ đố kỵ khó hiểu. Quan sát nhiều lần, tôi thấy có lúc y ác cảm kiêu ngạo với Tiêu, Vân hoặc y sợ sệt họ thế nào ấy. Hai trạng thái cũng mập mờ khó hiểu.

Chu Đức Kiệt suy nghĩ giây lát :
- Giản Tử Thôi võ nghệ cao cường hơn hai giáo đầu Tiêu, Vân lại ở cấp trên cần chi phải ác cảm, kiêu ngạo với hai người ở cấp dưới cũng như không cần phải sợ sệt họ. Đại công nhận xét lầm chăng?
- Không lầm đâu. Luôn từ ngày Giản Tử Thôi về Bình Dương tôi nhận thấy rõ rệt như vậy. Huyện nha rất rộng rãi như Trang chủ đã biết, nha biện đều có nhà ở trong Nha. Trái lại Giản Tử Thôi từ chối mướn nhà ở ngoài và không hề giao du với ai hết.

Đức Kiệt mỉm cười :
- Cũng có người không ưa giao dịch hoặc không quảng giao, đó là lẽ thường chẳng nên chú ý. Đại công có đem theo phong thơ của Giản phu nhân không?

Thẩm Ngọc Thụ rút ở ngực áo ra tờ công văn kèm theo một phong thư đưa cho họ Chu. Đức Kiệt đọc công văn thấy yêu cầu đại khái Huyện sở tại can thiệp để giáo đầu Giản Tử Thôi gửi tin tức về gia đình vợ con hiện còn ở cả Tế Nam phủ, và yêu cầu trao phong thư của vợ họ Giản gửi cho chồng. Còn phong thư thì ngoài đề mấy chữ tên Giản Tử Thôi, địa chỉ Huyện nha Bình Dương... Nét bút nguệch ngoạc đặc biệt phụ nữ.
Thẩm Ngọc Thụ nói :
- Trang chủ có thể mở bì đọc thư xem thế nào?
- Bóc bì sao được, đại công còn phải trao thư này cho Giản Tử Thôi mà.
- Tôi không trao vì y đã nói là vô gia đình. Vụ này cần được điều tra, bởi vậy cần phải mở vì mới có thể hiểu lời lẽ trong thư thế nào. Trang chủ hãy đọc đi và cho tôi biết ý kiến.
Đức Kiệt bóc thư ra đọc xong, trao lại cho Huyện quan xem.

Thẩm Ngọc Thụ nói :
- Lời lẽ rất ôn hòa tuy có trách họ Giản không cho vợ con biết âm tín từ ngày thuyên chuyển về Bình Dương. Cuối thư ký Liễu Thệ Hà. Trang chủ nghĩ thế nào?

Chu Đức Kiệt nghiêm giọng :
- Việc này can hệ lắm. Chắc có nhiều uẩn khúc chi đây. Tôi muốn biết đại công có trao cho Giản Tử Thôi nhiệm vụ điều tra các vụ huyết án xẩy ra liên tiếp huyện nhà mấy tháng nay không?
- Có chứ! Giản Tử Thôi là đại giáo đầu, bản lãnh được liệt vào hàng đệ nhất Huyện nha, hoàn toàn thích hợp với các cuộc điều tra.
- Y hành động hợp tác với Tiêu Hán, Vân Bưu?
- Không. Y yêu cầu tôi để y hành động riêng. Tiêu Hán, Vân Bưu hoạt động theo đường lối của họ. Mới đầu tôi tin rằng Giản Tử Thôi quen tự hành động vả lại thấy y không ưa hai bạn đồng nghiệp thì sự hợp nhất bộ ba ấy trong một công tác chỉ có hại chớ không có lợi.
- Giản Tử Thôi có thâu hoạch được chi tiết gì khả dĩ có lợi cho việc điều tra không?

Thẩm Ngọc Thụ tặc lưỡi lắc đầu :
- Chưa tìm ra tia sáng nào cả. Tiêu Hán, Vân Bưu cũng không hơn gì Giản Tử Thôi. Trong khi ấy, các huyết án khác xảy ra liên tiếp, và trên phủ luôn luôn giục giã tôi phúc trình. Chính Tế Nam phủ cũng lấy làm lạ rằng với Giản Tử Thôi mà các cuộc điều tra, do thám không đem lại kết quả khả quan. Nếu tình trạng này kéo dài, cuối tháng tôi sẽ xin Tế Nam phủ phái người khác về Bình Dương tra xét.

- Lạ nhỉ không tìm ra một kẻ đáng nghi nào cả?

Thẩm Ngọc Thụ thở dài :
- Hoàn toàn không. Tôi hỏi thì Giản Tử Thôi nói rằng y chắc chắn can phạm là một tên độc cước đại đạo hoạt động một mình. Tên đại đạo đó cũng không hẳn tại Bình Dương cho nên cuộc điều tra rất khó khăn.

Bởi vậy tôi phái hai giáo đầu Tiêu Vân dò la trong nhiều vùng lân cận suốt bao lâu nay mà cũng vô hiệu qua. Chẳng lẽ can phạm là một kẻ vô hình ư? Tôi mất ăn mất ngủ vì mấy vụ án quan trọng này. Trang chủ có thể giúp tôi được không? Hoặc giả Trang chủ có muốn gặp Giản Tử Thôi không?

Chu Đức Kiệt lắc đầu :
- Anh em tôi đang theo dõi một việc. Nếu vụ đó hình thành, có lẽ sẽ điều tra ra manh mối các vụ cũ. Không cần phải gặp họ Giản. Thâu lượm được chi tiết nào lạ, tôi sẽ mật báo đại công hay. Về vụ bức thư của Giản phu nhân, đại công hãy tạm xếp lại đó, sẽ tra cứu sau.

Thẩm Ngọc Thụ nói mấy lời cảm ơn, tan tiệc từ tạ về huyện nha.

Họ Thẩm đi khỏi. Chu Đức Kiệt đang thơ thẩn trong đại sảnh suy tính thì Lam Y, Bích Nữ về tới nơi. Chàng vội hỏi :
- Thế nào, tên điêu nhãn có trở lại Kỳ Đức lộ nhòm ngó mỹ nhân không?
Lam Y dòn dã :
- Không những y trở lại mà còn chăm chú dòm ngó cả “ba mỹ nhân” nữa đó. Tên ấy quả có trình độ thẩm mỹ cao thủ.

Đức Kiệt không hiểu :
- Nghĩa là thế nào? Hiền muội giỡn hoài?
Lam Y chỉ Bích Nữ và chỉ vào ngực nàng :
- Đệ nhị và đệ tam mỹ nhân đây, hiền huynh cứ hỏi tẩu tẩu sẽ rõ?

Bích Nữ bèn đem việc kẻ lạ trở lại Kỳ Đức lộ và việc nhờ Cầm Bách Hy theo dò tên đó sang đến tả khu cho Đức Kiệt nghe.
Chàng mừng rỡ mà rằng :
- Nếu vậy, hai người được việc lắm rồi. Biết được nơi trú ngụ của tên “điêu nhãn” là tiến được một bước dài. Ngu huynh bảo hai người ở lại nhà họ Cầm cũng hữu ích lắm.

Bích Nữ nói :
- Chẳng như Chu lang về nhà ngủ một mạch đến bây giờ mới dậy phải không?
Chu Đức Kiệt ừ hử :
- Hừ! Ngủ mới dậy! Nói nghe được quá! Hiền thê tưởng ta ngủ thiệt đó chăng?
Lam Y nhìn anh :
- Bộ không ngủ còn có việc chi khác. Giỡn hoài!

Đức Kiệt bí mật :
- Ờ. Tin là ngu huynh ngủ thì thôi là không nói chuyện nữa.
- Nếu vậy, có chuyện gì nói cho chị em tiểu muội nghe đi!

Chu Đức Kiệt lắc đầu :
- Ngủ thì còn nói chuyện gì nữa mà đòi nghe?
Giữa lúc ấy, Vương Bình từ nhà dưới đi lên. Lão quản trang nghe ba người gạn hỏi nhau liền nói rằng :
- Nhị vị không phải gạn hỏi đại lang nữa. Hôm nay, Thẩm huyện quan đến thăm dùng bữa trưa vừa về xong đó. Chắc chuyện quan trọng.

Lam Y cười vang :
- Có thế chứ! Chu huynh giấu sao được. Nói cho nghe đi, đừng để Lam Y này phải “buộc lòng” điều tra.
Chu Đức Kiệt chỉ hai hành kỷ ở hai bên chỗ chàng đang ngồi :
- Nếu vậy mời nhị vị Nữ hiệp chịu khó ngồi xuống đây, Chu mỗ xin cung khai.
Nghe xong câu chuyện Thẩm Ngọc Thụ đến thăm gia trang. Lam Y đập hai tay vào nhau nghiêm nghị cất lời :
- Chưa biết chừng đây là một vụ Thiềm Thừ Thoát Xác đáng chú ý.

Kiệt hỏi Lam Y :
- Đêm nay hiền muội định hành động thế nào?
- Huynh tẩu coi chừng tại nhà họ Cầm, còn tiểu muội sang Quảng Điều lộ bên tả khu xem thế nào.
- Hiền muội biết phố này chăng?

Lão quản trang Vương Bình nói :
- Tôi biết con đường ấy và tình nguyện dẫn đường. Nếu Chu tiểu thư e tôi chậm chạp thì tôi họa một bổn sơ đồ dễ nhận lắm.
Lam Y ưng thuận :
- Đã vậy thì quản trang họa bản sơ đồ cho tôi theo có lẽ tiện hơn.

Tức thì, Vương Bình lấy nghiên bút, trải giấy ra mặt án phác họa lối đi cho Lam Y coi. Nàng nhập tâm nhớ hết.

Tối hôm ấy, Tam hiệp ra khỏi trang tới khu thương mại liền phi thân lên mái nhà chuyền tới Kỳ Đức lộ.
Lam Y chỉ một cây lớn gần nhà Cầm gia bảo Đức Kiệt Bích Nữ :
- Có chỗ núp tốt kia rồi. Huynh tẩu ẩn mình trong lá có thể quan sát được toàn diện khu này. Tiểu muội sang tả khu đây.

Bích Nữ nói :
- Tôi muốn cùng đi với cô muội quá, một mình Chu lang canh chừng thừa đủ sức rồi. Đại đạo có đến đây thì chỉ đi một mình, nhưng trong căn nhà bên Quảng Điều lộ biết đâu chúng không nhiều người?

Đức Kiệt cũng bảo Lam Y :
- Bích Nữ đi cùng hiền muội hợp lý hơn.

Lam Y cầm tay chị dâu :
- Nếu chúng ta cùng sang tả khu thì mặc Chu huynh đơn thân ở đây vậy! Nào đi...

Dứt lời, nàng phóng mình chạy trước dẫn đường, Bích Nữ theo liền phía sau. Ra khỏi hữu khu, Lam Y tìm đến Quảng Điều lộ rất dễ dàng. Hai nàng lanh lẹ, êm ả như hai con vượn chuyền qua các nóc nhà lầu vào giữa phố. Bích Nữ chỉ tay sang dãy nhà bên hữu, nói nhỏ :
- Lý gia quán kia rồi.

Lam Y ngừng bước nhìn bao quát nhận xét. Nàng vẫy tay ra hiệu cho Bích Nữ cùng nhảy xuống đường, rồi phi thân lên nóc dãy nhà phía hữu. Hai nàng nằm áp mình ngay trên mái tửu quán Lý gia nhìn sang căn nhà rộng rãi có trụ đá trước cửa. Mái Lý gia quán thấp hơn nóc căn nhà ấy thành thử khó quan sát toàn diện. Lam Y Bích Nữ bèn đổi chỗ chuyền lên một nhà hai từng lầu gần đấy, ngồi chênh vênh trên nóc nhận xét.

Trong toàn khu, nhà nào cũng đều im lìm ngon giấc. Đây đó, thỉnh thoảng còn ánh đèn le lói lọt qua kẽ cửa trông rất rõ ràng trong đêm tối! Căn nhà có trụ đó cũng vậy. Ánh đèn còn mờ mờ sau cánh cửa sổ lồng kính sơn xanh lè mé tường bên trên lầu. Lam Y ghé tai Bích Nữ :
- Trông lầu chắc còn có người, ta qua đó xem sao đi.
Bích Nữ đồng ý :
- Trống huyện chưa điểm canh ba nếu quả thật có gian đạo tất chúng chờ thật khuya mới hành động. Qua đi, ngồi đây nóng ruột lắm.

Hai nàng theo lối cũ xuống đường, phi thân lên nóc dãy nhà bên tả chuyền thẳng đến mái nhà nọ, thuật khinh thân của hai người cùng cao siêu nên bước chân êm ả như chân mèo. Nằm rạp trên mái, Lam Y nhẹ tay từ từ rút ngói, Bích Nữ lom khom ngồi kế bên coi chừng...

Bỗng phía dưới có tiếng cửa mở nhẹ, Lam Y, Bích Nữ vội vàng vùng dậy chuyền ra xa các nóc nhà kế bên nằm rạp theo dốc mái ló đầu nhìn, thì vừa thấy một bóng đen từ phía sau căn nhà ấy phi thân lên nóc, tay cầm đao tuốt trần nhìn quanh.

Bóng đó đứng nguyên chỗ quan sát hồi lâu mới nhảy xuống.
Bích Nữ thì thào bảo Lam Y :
- Đúng là sào huyệt của bọn gian đạo rồi, không còn hồ nghi gì nữa.
- Ờ, tên này khá lắm. Rút ngói nhẹ thế mà nó nghe thấy. Cũng may chưa lọt ánh sáng, nếu không thì nó hiểu có người rình mò rồi.
- Tôi ngồi bên cô muội không nghe thấy gì vị tất tên vừa rồi đã nghe nổi. Chắc nó linh tính phi thân lên nóc nhà kiểm soát đó thôi. Nếu nghe thấy tiếng rút ngói tất nó phải chuyền qua các mái nhà khác tìm kiếm, lẽ nào chịu đứng nguyên tại chỗ.
- Hiền tẩu suy luận trúng lẽ, ta tiếp tục công việc kẻo khuya rồi.
Hai nàng liền trở lại mái nhà ấy.

Lam Y hết sức thận trọng rút nốt viên ngói hở ra một khe nhỏ đủ nhìn.
Nàng ghé mắt nhìn xuống thấy căn lầu lát gạch bông khá rộng rãi, bài trí sơ sài. Chênh chếch ở phía trong, ba người ngồi quanh một bàn tròn, trên bàn bày ngọn đèn dầu lớn, bình trà và mấy chén tống.

Nàng ghếch đầu nhường chỗ cho Bích Nữ quan sát, nhưng Bích Nữ ra hiệu bảo nàng tiếp tục quan sát.
Lam Y nhận ra tên “Điêu nhãn” còn hai tên lạ mặt thì một trẻ một già. Cả ba cùng trang phục dạ hành đeo đoản đao to bản nơi sau lưng.

Tên “Điêu nhãn” đang nói dở dang, y nói đủ nghe nên câu chuyện không thoát nổi “Thiên lý nhĩ” của Lam Y nữ hiệp:
... Tôi mắc việc mấy mỹ nhân ở Kỳ Đức lộ nên nán lại mất mấy ngày. Nếu đêm nay thành tựu, thỏa mãn, mai ta sẽ đem tượng Lam Vân Ngọc về Ngao sơn cho Nữ giáo chủ cũng chẳng trễ.
Người có tuổi nói :
- Chà! Tống đại ca lãnh công tác đoạt “tượng” đạt ý rồi còn lưu luyến mãi đất Bình Dương làm chi? Đâu chẳng có mỹ nhân, lo gì khoản ấy? Hay là còn ham địa vị hiện tại?

Tên “Điêu nhãn” phản đối :
- Ham gì cái địa vị nhỏ nhen do chính tôi tạo ra này! Nữ giáo chủ đã cho thời hạn sáu tháng vừa đoạt tượng vừa gây cơ sở truyền giáo ở nơi đây, thì tôi cứ theo đúng như vậy. Mới quá kỳ hạn có mấy ngày, vội chi?

Người trẻ tuổi hỏi :
- Vụ tượng Lam Vân Ngọc đành là xong rồi, nhưng còn cơ sở truyền giáo không thành chỉ vì Tống đại ca luyến mỹ nhân Bình Dương quá, sau này nói sao với Giáo chủ?

- Chà! Hai người mới đến đây ít lâu không hiểu là phải. Tưởng dễ truyền giáo, dễ lập cơ sở tại đất Bình Dương này lắm sao? Nơi đây tuy hai khu đã hợp nhất nhưng hai họ Chu, Lôi vẫn còn nhiều ảnh hưởng. Chu, Lôi là hai vị thần sống của dân Bình Dương. Tôi đã thử nói về giáo Bạch Liên tại mấy nơi, nhưng chẳng ai ưa cả, thì làm thế nào? Bởi vậy tôi dư thời giờ hành động theo ý riêng tôi, chẳng lẽ nhị vị tố cáo với Nữ giáo chủ sao?

già nói :
- Đâu có chuyện tố cáo, Tống đại ca đã che chở bọn tôi nhiều lần, lẽ nào quên tình bằng hữu. Nhưng tôi muốn nói rằng Tống đại ca chẳng nên kéo dài tình hình hiện tại, chẳng sớm thì chầy, một ngày kia sẽ lộ chân tướng. Lúc đi thêm khó cho tụi mình.

Tên họ Tống cười lớn :
- Trời ơi! Đại ca khỏi lo việc đó. Đất Bình Dương có hai gia đình võ nghệ tuyệt luân thì đều đi vắng cả.

Riêng trên huyện nha có được hai tên giáo đầu thì chẳng tên nào biết thuật phi hành, muốn hạ lúc nào cũng được dễ như trở bàn tay. Lo gì sa lưới chúng nó. Dù sao tôi đã nói rằng nhị vị mặc tôi thỏa mãn nốt đêm nay, rồi ta sẽ cùng bỏ nơi đây đem tượng về Ngao Sơn. Một đêm nay và một lần cuối này nữa thôi. Ngăn cản tôi làm gì?

Hai người già, trẻ nhìn nhau giây lát, đoạn người có tuổi nói :
- Được rồi. Đại ca đã nói vậy thì đêm nay thôi nhé! Nào ta đi kẻo trễ. Chúng tôi sẽ canh phòng như mọi bận. Yêu cầu Đại ca đừng kéo dài... cuộc vui để bọn tôi chờ ở ngoài trời khổ tâm lắm đó.

Tên họ Tống phì cười :
- Được lắm. Tôi cần nói cho nhị vị biết rằng đúng lúc gặp ba mỹ nhân cùng tuyệt sắc thì thúc giục tôi bỏ Bình Dương ngay. Ác quá! Tôi muốn bắt một người đem về Ngao sơn chung sống.

Người già nói :
- Không sợ Nữ giáo chủ ghen sao?
- Hừ! Tôi hành động thì Đường Trại Nhi biết sao nổi mà ghen tuông! Nào đi!
Ba tên cùng đẩy ghế đứng lên. Lam Y ngồi phắt dậy kéo tay Bích Nữ chuyền ra xa ẩn nấp. Nàng e bọn gian đạo họ Tống phi thân lên nóc nhà chuyền đi nhưng không, chúng mở cửa trước ra đường.

Lam Y vội bảo Bích Nữ :
- Hiền tẩu theo chúng. Ba tên đại đạo này đến nhà họ Cầm đấy. Tiểu muội ở lại đây lục xét căn nhà này, và xem chúng còn đồng đảng nào nữa không.
- Có tên “Điêu nhãn” trong bọn chúng không?
- Có. Tên đó họ Tống. Hai tên kia một già trạc ngũ thập, một trẻ trạc dưới tam thập. Tẩu tẩu theo sang trợ chiến cho Chu huynh đi.

Bích Nữ chuyền trở lại nóc căn nhà của bọn gian đạo, nhìn xuống đường thì thấy ba tên nọ đã dùng phi hành thuật chạy xa xa phía trước. Nàng bèn tức tốc theo luôn.

Chờ Bích Nữ đi khỏi. Lam Y nhìn qua kẽ ngói thấy trong lầu hoàn toàn vắng vẻ. Ngọn đèn dầu trên bàn, vặn nhỏ vẫn le lói sáng. Nghe ngóng giây lát, Lam Y nhẹ nhàng bước vào mái trong nhảy xuống sân gạch nhẹ như chiếc lá rụng. Lầu nhà có hiên trong, Lam Y không do dự, phi thân lên hiên lần thấy có cửa ra vào ở phía tả. Nàng bước tới mở thử. Cửa không khóa nên cánh cửa hé ngay ra nhường lối cho Lam Y bước vào trong lầu. Nàng nghĩ thầm: “Bọn đại đạo này để ngỏ cửa trên lầu phòng lúc về bằng lối mái đây!” Lầu ngăn ra làm ba phòng bằng ván vách. Căn có đèn mà bọn gian họp hồi nãy ở ngoài cùng!

Lam Y xét thấy không có gì đáng chú ý trong căn ấy bèn cầm đèn vào lục soát hai phòng trong. Thấy căn giữa có hai giường, nàng đoán là phòng ngủ của hai tên đồng đảng với tên họ Tống. Nhìn qua thấy ngoài thứ vặt vãnh, mắc áo, gầm giường cũng trống không. Lam Y qua phòng ngoài trông thấy gọn ghẽ sạch sẽ hơn Trên án thơ trong góc phòng, bày mấy cuốn sách, nghiên bút và một tập hoa viên. Bên án thơ kê một chiếc tủ nhỏ, Lam Y mở ra xem thấy trong tủ chỉ có mấy thứ y phục. Nàng cúi nhìn xuống gầm giường thấy một chiếc rương cỡ lớn bằng gỗ tốt, đai sắt, khóa ống bằng đồng. Lam Y với tay cầm cái quai kéo rương ra khỏi gầm giường. Xem xét qua loa, nàng cầm ống khóa vặn mạnh. Trước sức mạnh vô song của Nữ hiệp chiếc khóa chốt lớn bằng ngón tay bật tung hẳn ra.

Lam Y vội mở nắp rương, bỏ mấy lần vừa giấy vừa vải đậy trên ra, thì chao ôi! Pho tượng quý tạc bằng cả thỏi ngọc Lam Vân xanh biếc vân xanh thẫm đặt ngửa trong giữa rương, còn chung quanh toàn vàng bạc châu báu quý giá.

Nàng đậy nắp rương lại như cũ nghĩ thầm :
- Hừ! Tên họ Tống này gây ra bao nhiêu tội ác, mới súc tích vơ vét được nhiều bảo vật như vậy, nhưng lưới trời dày lắm chạy đâu chẳng thoát.

Đẩy trả tạm chiếc rương vào gầm giường, Lam Y cầm đèn ra khỏi căn phòng ấy theo thang ở kế bên xuống nhà dưới. Tầng dưới cũng chia ra thành hai căn trong và ngoài rất rộng rãi, trần thiết tương đối khá hơn trên lầu rất nhiều. Lam Y thử mở cửa ra đường, nhưng khóa ngoài.

Nàng trở lên lầu đang định xuống sân xem xét phía sau nhà thì chợt có tiếng động trên mái nhà. Tức thì Lam Y vặn nhỏ ngọn đèn lại lẹ bước để trở ra lầu ngoài như cũ, đoạn ẩn mình vào trong căn phòng giữa, lắng tai nghe.

Tiếng động trên mái nhà tuy nhẹ nhưng rất rõ rệt trước cặp thông thiên nhĩ của Lam Y.

Nàng nín thở kiểm điểm tiếng chân nhảy từ mái nhà xuống sân trong, đoạn từ sân trong lên hiên lầu. Có một người thôi. Người đó có vẻ vội vàng, mở cửa đi thẳng ra lầu ngoài. Nấp trong phòng tối, Lam Y trông thấy rõ ràng người đó chính là tên đồng đảng thanh niên họ Tống. Y cầm đao thở hổn hển.

Từ lầu ngoài, tên nọ trở bước vào phòng giữa liệng thanh đao xuống giường không ngờ là có người núp ngay bên cửa.

Lam Y thừa dịp bước tới bắt lấy cổ tên nọ vặn tréo ra phía sau lưng khiến tên ấy đau quá hộc lên một tiếng.
Lam Y nói đủ nghe :
- Biết điều câm miệng kẻo ta bẻ gẫy tay.

Tên kia vội im lặng, ngoái đầu nhìn lại thì trong ánh sáng mờ mờ, y nhận ra người có bàn tay sắt đang vặn cánh tay y như vặn chiếc tỏi gà, là một thiếu nữ có nhan sắc nhưng nghiêm nghị lạ thường.

Lam Y bắt luôn tay nữa của tên ấy vặn ra sau lưng cầm chung vào một tay, còn tay kia nàng tháo đai lưng của y trói giật cánh khuỷu lại. Nàng với tay lấy một dây thắt lưng nữa treo trên mắc áo, kéo tên kia ra khỏi phòng đẩy y ngồi xuống ghế ở lầu ngoài rồi cột luôn hai chân y vào chân ghế.

Tên đó gườm gườm căm hờn nhìn Lam Y. Nàng ghếch lên mé bàn tròn cười khẩy :
- Hai tên kia bị bắt hay táng mạng rồi phải không?
Tên nọ vẫn im lặng trừng mắt nhìn kẻ thù địch.
- Mi có nói không? Hay để ta moi lưỡi ra?

Tên nọ gằn dằn giọng :
- Ta không nói liệu mi làm chi nổi?
Lam Y lặng lẽ bước tới tát trái cho tên nọ một chiếc như trời giáng.

Tên nọ nổ đom đóm mắt đau quá vội nói :
- Xin cô nương tha tội, tôi xin nói. Hai người kia bị bắt rồi.
- Các ngươi tên gì khai thiệt ra, man trá đừng có trách nghe.

Tên nọ nghẹo đầu dụi má vào vai cho đỡ đau, đoạn nói :
- Người dong dỏng cao là Tống Giao, tước hiệu Hỏa Nhãn Hầu, người có tuổi là Đồng Mãnh, còn tôi là Cao Liêm.
- Còn Đường Trại Nhi bây giờ ở đâu?

Tên nọ ngần ngừ không muốn nói, nhưng khi thấy Lam Y giơ tay định tát nữa thì y cuống cuồng vội khai :
- Cô nương hoãn tay, tôi vội nói... Đường Trại Nhi ở Linh Sơn đảo.
- Linh Sơn đảo ở đâu? Đừng để ta phải chất vấn nhiều.
- Linh Sơn đảo ở miền đông duyên hải Ngao Sơn Đầu. Đảo này chỉ cách Ngao Sơn Đầu có bốn hải lý.
- Đường Trại Nhi còn ở căn cứ Ngao Sơn Đầu phải không? Nói cho thiệt!

Tên nọ gật đầu :
- Cô nương nói trúng. Trong tình cảnh này tôi chẳng cần giấu diếm là chi. Cô nương có đến Ngao Sơn Đầu hay Linh Sơn đảo cũng chỉ uổng mạng, không gặp nổi Đường giáo chủ đâu. Ngay cả đến quân toàn phủ Tế Nam kéo đến đó cũng chẳng thành công, đừng nói chi đến cô nương hay nhiều lắm là mấy người lèo tèo theo giúp mà định tìm kiếm Đường Trại Nhi. Tôi khuyên đừng đi Ngao Sơn Đầu uổng mạng.

Y thấy Cao Liêm leo lẻo phát ghét, bèn trừng mắt nạt :
- Không được nhiều lời? Ta hỏi câu nào trả lời câu đấy. Hắc Vân Long là ai?
- Hắc Vân Long là đệ nhất đảng viên Bạch Liên giáo trấn Linh Sơn đảo.
- Tên thật y là chi? Nói cho thiệt!
- Tên thật của người ấy đó. Y họ Hắc tên Vân Long tước hiệu Náo Hải Thần.
- Chính y đến đây lấy trộm tượng Phật bằng bảo ngọc ở Bình Sơn tự phải không?

Cao Liêm ngơ ngác không hiểu.

Lam Y nạt :
- Trả lời ngay kẻo ăn tát tai nữa giờ!
Cao Liêm vội đáp :
- Tôi thực không hiểu chuyện ấy. Người lấy Phật tượng là Hỏa Nhãn Hầu Tống Giao, Hắc Vân Long không hề tới Bình Dương.

Nhận xét nét mặt Cao Liêm, Lam Y hiểu y nói thật, nên nàng hỏi câu khác :
- Ngươi biết những gì thuộc về một người tên Tôn Hoàn, hãy nói ta nghe!
- Không có người nào tên Hoàn cả. Người thế nào?
- Y là sư huynh của Đường Trại Nhi, vận đạo bào, tuổi trạc ba mươi lăm, ba mươi sáu.
- A! Đó là chủ nhân Tôn Triệu Lương.
- Đến Ngao Sơn Đầu thì ai coi toàn thể Bạch Liên giáo ở khu ấy?

- Bây giờ cũng vẫn là Hắc Vân Long. Nữ giáo chủ và Tôn Chân nhân chỉ tạm trú giảng đạo thôi.
- Các tín đồ là những hạng người nào?
- Dân chúng Ngao Sơn Đầu, các ngư phủ và toàn thể bộ hạ Hắc Vân Long.
- Họ theo Bạch Liên giáo từ bao giờ?
- Ba năm nay rồi, nhưng thiệt ra chỉ sôi nổi từ ngày Nữ giáo chủ và Tôn chân nhân về tạm trú Linh Sơn đảo. Hắc Vân Long giữ Nữ giáo chủ ở lại giảng giáo pháp.
- Hắc Vân Long ở nơi nào tại Ngao Sơn Đầu?
- Lục Thủy trại. Một mặt dựa vào núi một mặt thông ra biển cả.
- Y sanh sống bằng cách gì?
- Buôn bán và thủy sản.
- Các ngươi đoạt Phật tượng về làm gì? Phật giáo nghịch với Bạch Liên giáo à?

Cao Liêm lắc đầu :
- Cô nương hỏi câu ấy quá sức hiểu biết của tôi, cấp trên sai Hỏa Nhãn Hầu Tống Giao, Đồng Mãnh và tôi chỉ là hai kẻ đến sau có nhiệm vụ đến Bình Dương tìm y và giúp sức y thôi.

Lam Y cười gằn :
- Và hai người đã hùa với Tống Giao hiếp đáp phụ nữ vô tội, giết người cướp của! Tội ấy đáng bêu đầu.
Cao Liêm sợ hãi :
- Chúng tôi không biết Tống Giao đã hành động thế nào? Mỗi khi hành động, y bảo chúng tôi coi chừng canh phòng trên mái nhà. Mới đây Đồng Mãnh và tôi mới hiểu, khuyên y trở về Ngao Sơn Đầu. Y dùng dằng mãi mới nhất định mai, mốt mới rời đất Bình Dương.

Thấy lời nói của Cao Liêm phù hợp với câu chuyện Tống Giao, Đồng Mãnh mà nàng nghe lỏm được hồi nãy.

Lam Y biết Cao Liêm sợ đánh đau nên thiệt tâm cung khai. Nàng hỏi :
- Các ngươi đã truyền giáo pháp Bạch Liên giáo và định gây cơ sở ở những nơi nào tại Bình Dương huyện?

Cao Liêm đáp :
- Đó cũng là nhiệm vụ của Hỏa Nhãn Hầu Tống Giao, theo lời y nói, nhưng theo ý tôi, có lẽ Tống Giao mải miết làm việc riêng chớ không hoạt động cho giáo đạo tại Bình Dương bao giờ cả. Y không phải là hạng người truyền giáo.
- Hồi nãy sao ngươi không cam đảm giúp sức đồng bọn mà lại bỏ chạy về đây?

Cao Liêm im lặng giây lát :
- Hồi nãy tôi nói rằng họ bị bắt rồi. Tống Giao và Đồng Mãnh đang giáp chiến thôi. Tôi nghiệm thấy cơ sự bị bại lộ nên bỏ về đây trước, định ý lấy Phật tượng đem về Ngao Sơn Đầu trước, chẳng dè gặp tay cô nương. Nay hối lỗi, ăn năn thì đã trễ. Tất cả những lời tôi đã khai hoàn toàn đúng sự thật, xin cô nương rộng lòng nhân đức tha cho tôi...

Lam Y nhìn thẳng vào mắt Cao Liêm :
- Tha sao được! Ngươi còn phải đối chứng với Tống Giao và Đồng Mãnh sau này. Muốn nhẹ tội, ta khuyên ngươi nên khôn hồn cung khai trên Nha cho đúng sự thật.

Cao Liêm ngửng đầu hỏi :
- Nhưng chắc gì Tống Giao và Đồng Mãnh hai ngươi đã bị bắt như tôi mà đối chứng?
Lam Y cười khảy :
- Hừ! Nếu chúng không bị bắt thì chắc chắn là bị rụng... thủ cấp chứ không hòng thoát đâu! Ngươi khỏi phải lo.

Nói đoạn, nàng vào hai căn phòng kia tìm dây trói chặt Cao Liêm vào lưng ghế một lần nữa.

Nàng vừa nói vừa bảo :
- Chịu khó ngồi thế này một lát nữa, sẽ có người đến đem đi.
Lam Y ra khỏi lầu phi thân lên nóc nhà, nhảy xuống đường chạy thẳng một mạch tới huyện Nha.
Toán lính canh phòng trước cổng chợt thấy một bóng đen như bay tới mình chưa kịp hỏi thì Lam Y đã đứng sừng sững trước mặt chúng.

- Mở cổng mau ta cần gặp đại quan!
Bọn quân canh nhận ngay ra nữ Trang chủ Chu gia bèn thưa :
- Để chúng con đưa tiểu thư vào.

Lát sau huyện quan Thẩm Ngọc Thụ mắt nhắm mắt mở ngáy ngủ khoác thường phục lập cập đi ra công đường :
- Kính chào Chu tiểu thư, có việc gì gấp?
- Xin lỗi kinh động đại công giữa lúc đêm hôm khuya khoắt thế này, nhưng anh em tôi đã khám phá ra sào huyệt của can phạm các vụ huyết án. Nay đại công cấp phái ngay hai giáo đầu, một đến Quảng Điều lộ, bên Tả khu, một đến Kỳ Đức lộ bên hữu khu giải các can phạm về huyện.

Lam Y dặn địa chỉ hai nơi cho Thẩm huyện quan ghi lên giấy cẩn thận đoạn nói thêm :
- Tại căn nhà Quảng Điều lộ có một chiếc rương đựng tượng Phật Lam Vân Ngọc vàng bạc châu báu, đại công nên chú ý. Bây giờ tôi đi đây.

Không để Thẩm Ngọc Thụ kịp hỏi, Lam Y đi vụt ra sân dùng phi hành thuật vượt tường huyện nha chạy thẳng đến Kỳ Đức lộ.
Nhắc lại Âu Dương Bích Nữ theo Hỏa Nhãn Hầu Tống Giao và Đồng Mãnh, Cao Liêm.

Ba tên này chạy khỏi Quảng Điều lộ liền phi thân lên nóc nhà chuyền sang hữu khu nhằm hướng Kỳ Đức lộ.
Âu Dương Bích Nữ chậm bước chạy xa xa theo chênh chếch phía sau, nhưng khi gần tới khu nhà họ Cầm, nàng dùng toàn lực phi hành chạy vòng vượt hẳn bọn Tống Giao đến chỗ Chu Đức Kiệt núp trong cành lá rườm rà đại thụ.

Bỗng có tiếng sáo hiệu quen thuộc nổi lên nhè nhẹ dựa theo tiếng xúc của Đông dạ điều.
Âu Dương Bích Nữ quay phắt lại chuyền theo hướng có tiếng sáo thì nhận ra ngay Đức Kiệt đang nằm dài sau đầu nhà gần đó.

Nàng chưa kịp nói thì Đức Kiệt đã chỉ tay về phía ba bóng đen đang tới :
- Khách hàng đó phải không? Lam Y đâu?
- Phải, ba tên. Cô muội ở lại đằng sào huyệt chúng.

Hai người nằm dài theo dốc mái, hơi nhô đầu lên nhìn bọn Tống Giao. Tống Giao chạy trước đến gần nhà Cầm gia trang mới ngừng lại. Y chỉ chỏ thì thầm bảo hai bạn đồng hành, đoạn mình y chuyền sang mái nhà họ Cầm, nằm xuống nghe động tĩnh hồi lâu. Hai tên Đồng Mãnh, Cao Liêm ngồi ngay trên đỉnh mái canh phòng.
Chu Đức Kiệt vỗ vai Bích Nữ chỉ ra chỗ hai người nọ ngồi tỏ ý bảo coi chừng hai tên ấy.
Thừa lúc Đồng Mãnh, Cao Liêm nhìn đi nơi khác, Chu Đức Kiệt chuyền lén sang mái nhà họ Cầm tiến thẳng đến phía sau. Hỏa Nhãn Hầu Tống Giao lúc đó đang mải miết nghe ngóng động tĩnh mé dưới.

Đồng Mãnh chợt quay lại thấy vậy, vội vàng la nhẹ :
- Có người phía sau.
Tống Giao giật mình, lăn đi một vòng lật phắt ngửa người lên kịp nhìn thấy một dũng hán còn cách chỗ y nằm trên hai sải tay liền vùng dậy tuốt đao nhào tới chém lia vào ngang lưng người lạ.

Đồng Mãnh, Cao Liêm đứng cả dậy toan nhảy sang chỗ Tống Giao trợ chiến, nhưng một cô gái đã từ phía khác phi thân tới chặn đường hoa làn kiếm điện tử rít lên như tiếng xé lia thẳng một nhát vào cổ Đồng Mãnh đứng trước, Đồng Mãnh đưa đao gạt.
Choang! Tiếng đao kiếm va phải nhau vang lảnh, ghê rợn trong đêm khuya. Âu Dương Bích Nữ thọc luôn một Trảm Lư hùng kiếm nữa nhằm ngực đối phương.

Đỡ nhát kiếm thứ nhất, Đồng Mãnh đã thấy tê cả cánh tay. Y biết ngay bản lãnh của thiếu nữ không vừa, hoảng hốt lùi lại phía sau mấy bước, tránh đòn thứ nhì. Cao Liêm vội lên tiếp chiến.

Âu Dương Bích Nữ trở kiếm chém tạt ngang vào vai y một lát thiệt mạnh. Tránh không kịp, Cao Liêm hoa đao gạt, toàn thân rung chuyển. Y lượng sức không thể nào địch nổi liền thoái bộ nhường Đồng Mãnh tiến lên tái chiến.

Hành động bị đổ bể, chiến đấu tự lượng sức mình không kham nổi, Cao Liêm không cần suy tính hơn nữa, liền thừa dịp Đồng Mãnh hứng đòn trở bước đào tẩu. Y vội trở về Quảng Điều lộ thu xếp tiền bạc, ẵm Phật tượng Lam Vân ngọc chuồn thẳng, chẳng ngờ thiên bất dong gian, bị Lam Y thộp cổ.

Không riêng gì Cao Liêm, Đồng Mãnh cũng muốn bỏ chạy hy sinh Tống Giao. Nhưng họ Đồng đã toan tính quá trễ, chạy sao nổi với làn kiếm quang của đối phương lợi hại lúc nào cũng bó chặt lấy toàn thân y. Đào tẩu không xong, Đồng Mãnh đành liều mạng dùng toàn lực chống đối nhưng liều chiến cũng không nổi. Làn kiếm của họ Âu Dương vừa nặng nề, vừa bay bướm, chém ngang xả dọc chợt đông chợt tây, thập phần nguy hiểm. Đồng Mãnh lùi dần ra phía đầu nóc nhà, mồ hôi toát ra như tắm, đuối sức cũng có mà vì khiếp đởm cũng có. Âu Dương Bích Nữ cười lanh lảnh khiến Đồng Mãnh càng thêm bàng hoàng kinh sợ :
- Biết điều hạ đao đầu hàng, kẻo mất thủ cấp bây giờ! Coi nè.

Nàng xuyên luôn một mũi kiếm lợi hại nhằm họng đối phương. Đồng Mãnh hoa mắt, chập choạng đưa đao gạt. Đồng thời y bị Âu Dương Bích Nữ đá lia trúng mắt cá chân khiến toàn thân y bị hất bổng lên khỏi đầu mái nhà, lộn nhào xuống dốc mái, lăn tuốt xuống sân sau căn nhà đó, đao văng đi một nơi.

Phía dưới, toàn khu đã bị động, dân chúng kéo hò nhau dậy đốt đèn sáng trưng ngay từ lúc khởi chiến. Âu Dương Bích Nữ nhảy xuống theo. Đồng Mãnh chập choạng bò dậy nhưng nàng đã vươn tay tả cứng như sắt thép thộp gáy y dúi mạnh xuống sàn gạch. Mọi người trong nhà thấy thiếu nữ đã bắt được tặc đạo lấy dây kéo ồ ra trói chặt Đồng Mãnh lại.

Nói về Hỏa Nhãn Hầu Tống Giao cùng Chu Đức Kiệt giao tranh trên mái nhà họ Cầm.
Thấy Tống Giao lanh lẹ, mặt trùm khăn lên ngang mũi, Đức Kiệt khen thầm đưa dọng Thất Tinh đao gạt lạng lưỡi đoản đao to bản của địch sang bên, đồng thời chàng đánh luôn đốc đao vào mặt đối phương.

Hỏa Nhãn Hầu không những có cặp mặt khá tinh tường mà còn lanh lẹ khác thường, ngồi thụp xuống tránh đòn, lia luôn lưỡi đao vào cổ chân địch nguy hiểm.

Đối với ai thì đòn ấy lợi hại thiệt, nhưng Đức Kiệt là con người đã từng bách chiến bách thắng lâm nhiều trận nguy hiểm hơn thế nhiều so tài cùng khắp mặt hảo hán giang hồ, hơn nữa với đao pháp vô địch gia truyền của họ Chu lừng danh đất Bắc, mà Hỏa Nhãn Hầu Tống Giao cũng dùng đao đối chiến thì có khác chi y đã giỡn đùa với tinh.

Lúc Tống Giao vừa thụp xuống tránh đòn,
Kiệt lượng đoán ngay đối phương sẽ dùng thế gì nên chàng nhảy vụt lên khỏi đầu địch, đồng thời dùng luôn thế “Thủy Lâm Phong” đá tạt mũi chân tả vào mang tai đối phương.

Một tiếng “bạch” dội lên, tiếp theo là tiếng “chao ôi”, Tống Giao trúng đòn đầu óc nhức buốt như vừa bị trúng một bàn vả bằng thép, mắt hoa lên, vũ trụ như quay cuồng xuống đầu y, tay đao rời ra, toàn thân đổ sập xuống dốc mái lăn lông lốc rớt huỵch xuống sân nhà họ Cầm.

thế cước Thủy Lâm Phong đáng lẽ Đức Kiệt đá thúc mũi giầy vào huyệt Thái Dương, hoặc động gót chân vào đỉnh đầu địch, nhưng trong trường hợp này chàng muốn bắt sống tên đại đạo, nên chỉ dùng sức phải chăng đá tạt nửa chân vào mặt y khiến y ngất lịm lộng xuống mái.

Đức Kiệt lượm thanh đao địch vướng trên mái rồi nhảy xuống theo. Tống Giao nằm sấp mặt trên sàn gạch, tứ chi duỗi ra. Toàn gia họ Cầm, kẻ đèn người đuốc sáng trưng như ban ngày, đứng đầy cả sân. Cầm Bằng Vỹ và Cầm Bách Hy bước tới vái dài Chu Đức Kiệt.
- Không nhờ sức Trang chủ thì chúng tôi lâm nguy đêm nay. Y chết rồi chăng?

Đức Kiệt cúi đầu đáp lễ :
- Tên độc cước đại đạo ngất đi thôi, không chết đâu. Quý vị cho gia nhân trói nó lại hộ tôi.
Nói đoạn chàng gài Thất Tinh đao vào vỏ, đưa thanh đoản đao địch cho Bách Hy rồi dùng chân hất ngửa Tống Giao lên, kéo tấm chăn che mặt của y xuống và thốt lên một tiếng :
- A!

Cầm Bách Hy tưởng có điều gì lạ, vội hỏi :
- Sao vậy hả Trang chủ?
Chu Đức Kiệt bí mật :
- Không sao cả. Lát nữa Cầm đại ca sẽ hiểu.

Cầm Bằng Vỹ cũng hỏi :
- Lịnh phu nhân và Chu tiểu thư đâu?
- Tiện nội ở gần đây có lẽ cũng sắp tới, còn gia muội bận việc bên Tả khu, Quảng Điều lộ.
Chàng vừa dứt câu thì từ trên mái, tiếng Âu Dương Bích Nữ vang lên ròn rã :
- Tôi tới đây. Có thêm khách hàng đây nè.

Mọi người họ Cẩm ngửng đầu chưa kịp nhìn thì Âu Dương Bích Nữ đã vác Đồng Mãnh lẹ làng nhảy từ trên mái xuống sân. Nàng đặt Đồng Mãnh xuống bên Tống Giao đoạn ngửng đầu hỏi Đức Kiệt :
- Tên này xuôi rồi sao hả Chu lang?
Đức Kiệt mỉm cười, lắc đầu. Chàng bảo gia nhân nhà họ Cầm :
- Lấy chậu nước lạnh hắt vào mặt nó sẽ tỉnh ngay.

Tên gia nhân y lời. Lát sau, Tống Giao lần lần tỉnh dậy, đưa mắt lờ đờ nhìn mọi người, nhìn Đồng Mãnh co chân thấy bị trói chặt liền thở dài chán nản nhắm nghiền mắt lại như cũ. Chu Đức Kiệt lấy dây trói nốt hai tay lại rồi xách cả hai tên đại đạo bỏ vào góc hiên nhà, Âu Dương Bích Nữ hỏi chồng :
- Chúng ta đến Quảng Điều lộ đón cô muội đi.

Đức Kiệt lắc đầu :
- Khỏi cần. Lam Y tới bây giờ. Đi giữa đường lỡ không gặp nhau thêm mất công.
Cầm Bách Hy sai mấy gia nhân đứng đó canh phòng và mời vợ chồng Đức Kiệt vào nhà giải khát.
Mọi người vừa dùng trà được một tuần, thì Lam Y nữ hiệp tới. Nàng nói :
- Bên kia cũng xong cả rồi. Mẻ lưới này trúng lớn.

Quay sang phía cha con Cầm Bằng Vỹ nàng nói tiếp :
- Hàng phố xôn xao, thắp đèn đứng đầy cả ngoài cửa, nhị vị nên ra tiếp giáp nói chuyện cho họ an tâm đi. Các viên chức trên huyện nha tới bây giờ đó.

Trong khi Cầm ông và Bách Hy mở cửa ra đường phố tiếp xúc lân bang lối xóm, Chu Đức Kiệt kéo Lam Y và Âu Dương Bích Nữ ra hàng hiên chỉ Tống Giao mà rằng :
- Hôm nọ Lam Y và Bích Nữ đoán trúng nó. Có lẽ sau vụ này. Thẩm huyện quan sẽ khám phá ra vụ Thiềm Thừ Thoát Xác.

Lam Y cười ròn rã :
- Chuyến này anh em ta về nghỉ tại Bình Dương cũng không đến vô ích. Còn nhiều chuyện bất ngờ mà huynh, tẩu chưa biết. Lát nữa về nhà sẽ nói cho nghe.

Chu Đức Kiệt nóng ruột :
- Hiền muội nói ngay đi, úp mở mãi khiến ngu huynh nóng cả ruột.
Lam Y ừ hữ mà rằng :
- Nói ra lỡ tẩu nhớ chuyện cũ rầy hiền huynh thì chớ trách đó.

Âu Dương Bích Nữ mỉm cười :
- Có điều gì đến nỗi tôi phải rầy Chu lang vậy cô muội?

Đức Kiệt phân trần với vợ :
- Hiền thê thử coi, lắm lúc Lam Y lằng nhằng như thế đó. Nói ngay chẳng nói, bực ghê!
Lam Y ranh mãnh nhìn Đức Kiệt, Bích Nữ :
- Chuyện Đường Trại Nhi đó mà! Hiện thời nó đang ở Ngao Sơn Đầu.

Bích Nữ sửng sốt :
- Thiệt vậy sao? Nó dám lên tận Sơn Đông ư? Tôi chưa nguôi được cơn giận về vụ Chu lang gặp con yêu nữ ấy ở Kim Lăng.
Đức Kiệt vội phân trần :
- Gặp hôm ấy có điều gì đáng để hiền thê quan tâm đâu?

Bích Nữ ra bộ giận dỗi :
- Sao lại không quan tâm? Chu lang tiếp chuyện con Đường Trại Nhi suốt buổi sáng hôm ấy mà.
- Nói chuyện với nó là ngu huynh cốt dò hỏi tình hình trong Vương phủ thôi, hiền thê đừng hiểu lầm.

Lam Y mỉm cười bảo Đức Kiệt :
- Đấy, hiền huynh coi, tiểu muội biết tẩu tẩu chưa quên được vụ đó mà.
Bích Nữ cười theo :
- Nói giỡn thôi, Chu lang đừng buồn. Đời ai lại thực thà như Chu lang! Cô muội trêu chọc mà không hiểu. Nếu Đường Trại Nhi lên Ngao Sơn Đầu thì đúng là nó bị ma lối quỷ dẫn đường rồi.

Lam Y nghiêm sắc mặt kể việc bắt tên Cao Liêm và nhắc lại lời khai của y cho Đức Kiệt, Bích Nữ nghe.
Đức Kiệt nói :
- Thủ đoạn của Đường Trại Nhi cũng ghê gớm lắm nhỉ! Việc đó ta sẽ liệu sao. Giờ đây phải tính việc báo trên Huyện nha chớ.
- Tiểu muội gặp Trần tri huyện rồi. Có lẽ nhà chức trách sắp tới nơi.

Giữa lúc ấy thì Thẩm Ngọc Thụ đích thân cùng hai giáo đầu Tiêu Hán, Vân Bưu điều khiển quan quân áp giải tù xa trong có giam Cao Liêm đến nơi. Tam hiệp và cha con họ Cầm ra đón vào khách phòng, giải hai tên đại đạo ra trình diện. Thoạt trông thấy Hỏa Nhãn Hầu Tống Giao, các viên chức đều sửng sốt ngạc nhiên.

Thẩm Ngọc Thụ chỉ Tống Giao nói với mọi người :
- Tên này là Giản Tử Thôi mà! Thiệt không ngờ họ Giản lại phản bội chức nghiệp đến nước ấy! Thảo nào từ trước đến nay, y lãnh đạm với việc bắt can phạm gây ra các vụ huyết án. Y đã lợi dụng chức vụ để thi hành thủ đoạn bất nhân bất nghĩa. Tội này đáng xử trảm.

Lúc đó, Tống Giao đã hoàn toàn bình phục. Y quắc mắt ngỗ ngược nhìn mọi người :
- Ta sa cơ thì chỉ có việc chết mà thôi! Hai mươi năm nữa ta sẽ lại thành người chọc trời khuấy đất mà lo chi.
Tiêu giáo đầu ghé tai Thẩm huyện quan nói nhỏ mấy câu.

Huyện quan gật đầu đứng lên nói với Tam hiệp :
- Tôi xin thay mặt toàn dân Bình Dương và toàn Nha cám ơn ba vị đã khám phá ra vị đại đạo này. Sớm mai tôi sẽ thẩm vấn tặc đạo xem tình tiết thế nào và sẽ mời ba vị lên huyện trình bày sự thể.
Tam hiệp nói mấy câu khiêm tốn rồi tiễn các viên chức ra tận đại lộ. Sau đó ba người cũng từ biệt nhà họ Cầm ra về.

Hôm sau cha con Cầm Bách Hy làm tiệc bên Chu gia trang hỉ dạ.
Qua sáng ngày mốt, Thẩm huyện quan phái nha dịch cầm thiệp mời Tam hiệp lên huyện tiếp tại hậu đường có cả hai giáo đầu Tiêu Vân.

Chu Đức Kiệt hỏi :
- Chắc đại công dã thẩm vấn xong ba tên tặc đạo?
Thẩm Ngọc Thụ đáp :
- Dạ xong rồi. Vụ án còn có nhiều điểm lắt léo không thể ngờ được.

Cầm tập hồ sơ để trên án thơ, họ Thẩm giở mấy trang đầu đọc rồi nói tiếp :
- Tên Hỏa Nhãn Hầu Tống Giao cung khai rất rõ ràng, tôi không phải sử dụng cực hình. Y và hai đồng lão là nhân viên Bạch Liên giáo thuộc quyền điều khiển của tên Hắc Vân Long thủ lãnh Ngao Sơn Đầu. Sào huyệt chính của chúng ở Linh Sơn đảo, cách duyên hải Sơn Đông năm hải lý. Hiện tại có hai nhân vật quan trọng giáo giới Bạch Liên giáo cũng ở đó. Một là Nữ giáo chủ Đường Trại Nhi và tên thứ nhì là Tôn Triệu Lương.

Chu Đức Kiệt ngắt lời nhắc :
- Tên Tôn Triệu Lương không phải ai xa lạ, mà chính là Tôn Hoàn cựu quân sư của Thuận Vương ở Kim Lăng khi trước.

Thẩm Ngọc Thụ gật đầu nói tiếp :
- Có lẽ Tôn Hoàn không đổi danh đâu. Hai chữ Triệu Lương chắc là tên tự của y. Nghe đồn Bình Sơn tự có Phật tượng bằng ngọc Lam Vân, Đường Trại Nhi bèn bàn với Hắc Vân Long lựa bộ hạ tài ba lên Bình Sơn tự.

Hắc Vân Long đã chọn Tống Giao, một nhân viên thân tín hữu tài, trao cho trách nhiệm đó, Đáng lẽ vào Bình Sơn tự thi hành ngay nhiệm vụ thì Tống Giao vốn hiếu sắc đã lầm đường vượt ngoại thành Bình Dương vào Tào gia thôn cách Bình Dương thành chừng hai mươi dặm.

Tại đây, y vào tửu điếm hỏi thăm, biết là lầm đường y toan trở lại, bất đồ cùng hôm ấy Giản Tử Thôi từ Tế Nam phủ về Bình Dương tựu chức, qua Tào gia thôn thì trời vừa tối, nên ngủ lại tại tửu điếm một đêm, trong khi ăn uống, Tống Giao gặp Giản Tử Thôi bèn làm quen. Giản Tử Thôi ngay thật tưởng khách lạ là một hảo hán giang hồ chánh đạo khả dĩ kết giao được nên cùng Tống Giao thổ lộ tâm tình. Hai người trở nên thân thiết. Giản Tử Thôi vô tình nói với Tống Giao việc y về Bình Dương tựu chức đại giáo đầu. Tống Giao vốn là tên háo sắc định tâm thi hành nhiều thủ đoạn hãm phụ nữ, đoạt của trước khi về Ngao Sơn Đầu nên xảy ra gian kế hãm hại Giản Tử Thôi, đội lốt giáo đầu cho dễ bề hành động

Y nói với Giản Tử Thôi rằng cũng về đến Bình Dương tìm người nhà. Họ Giản tưởng thật mời y đồng hành, chẳng dè lúc đi khỏi Tào gia thôn được ba dặm tới khe Hàm Long cốc, Tống Giao bèn xuất kỳ bất ý rút đao hạ viên giáo đầu, liệng thây xuống khe đoạt công văn bổ nhiệm về thẳng huyện nha trình văn thư, tự nhận là Giản Tử Thôi. Chúng tôi không biết mặt họ Giản, thấy văn thư hợp lệ và Tống Giao cũng có cốt cách thông thạo võ nghệ nên tin ngay. Tống Giao ngỏ ý muốn ở ngoài huyện, tôi ưng thuận vì đó là quyền tự do của y, ngờ đâu đó là định ý của y ở ngoại huyện cho dễ bề hành động. Dò la tình hình ít ngày, Tống Giao khởi sự bằng vụ Phật tượng bằng ngọc Lam Vân hạ sát hai vị tăng Bình Sơn tự.

Sau đó y tiếp tục phạm các án khác, bản nha truy tìm can phạm nhưng không hề ngờ rằng can phạm lại chính là Giản Tử Thôi giả.

Y thường ngày ở huyện nên biết phương dò la của hai giáo đầu Tiêu, Vân nên hành động trái ngược thành thử Tiêu, Vân ra công tìm kiếm cũng không đạt được kết quả khả quan.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Tống Giao có khai vì lẽ gì y để quên con dao găm có khắc ba chữ Hắc Vân Long ở Bình Sơn tự không?

Thẩm Ngọc Thụ đáp :
- Có. Y quên thực sự và không có tình ý gì cả. Con dao đó của thủ lãnh Hắc Vân Long tặng y làm kỷ niệm từ hồi y mới gia nhập Bạch Liên giáo.
- Hừ! Vô tình mà thành hữu ý vì chúng tôi sau khi tìm ra con dao đó trên kệ thờ Bình Sơn tự, yên trí rằng thủ phạm các vụ huyết án là Hắc Vân Long. Tôi tiếc rằng hôm Tống Giao đến dòm ngó nhà họ Cầm lần thứ nhì lại không ở lại đó, nếu không thì đã nhận ra kẻ dòm ngó đó là Giản Tử Thôi việc bắt kẻ gian sẽ giản tiện hơn nhiều.

Lam Y nói :
- Cũng như hôm Chu huynh gặp Giản Tử Thôi giả trong Y Khánh Lâu thì chị em chúng tôi không cùng đi, nếu không thì cũng nhận ra ngay. Thiệt là lắt léo.

Thẩm Ngọc Thụ nói :
- Hôm nhận được phong thư của vợ Giản Tử Thôi thật gửi kèm theo công văn từ Tế Nam về Bình Dương thì tôi đã bắt đầu nghi ngờ chắc có sự ám muội về Giản Tử Thôi, vì lẽ nào Tế Nam phủ lại chịu làm một việc phi lý gởi thư cho vợ họ Giản nếu thiệt ra y không có vợ?
Tôi không cho Giản Tử Thôi giả biết vụ phong thư nếu không thì y đã tìm ra phương đào tẩu rồi.

Lam Y nói :
- Tên giặc họ Tống cũng không định ở lâu nữa. Đêm hôm rồi nó tính sau vụ nhà họ Cầm sẽ về Ngao Sơn Đầu ngay. Bây giờ thì cuộc thẩm vấn đã xong, đại công nên cho áp giải ba tên đại đạo lên Tế Nam ngay, giữ chúng ở đây lâu e bọn Hắc Vân Long đi tìm lỡ xảy ra điều chi bất trắc chăng?

Thẩm tri huyện nói :
- Tôi cũng tính vậy và đã phái bộ đội kiếm được hài cốt Giản giáo đầu ở Hàm Long cốc quàn luôn tại chỗ, sáng mai Tiêu Hán, Vân Bưu sẽ đôn đốc quân binh giải tù xa lên Tế Nam. Còn Phật tượng Lam Vân ngọc tôi muốn nhờ ba vị trao trả cho Bình Sơn tự.
- Chúng tôi rất sẵn lòng.

Thẩm tri huyện lưu Tam hiệp lại trong nha khoản đãi đến tận chiều mới để ba người đem Phật tượng ra về.
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 1
 
Posts: 687
Joined: Wed Nov 23, 2011 5:39 pm
I am: Reader

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp - hồi 43

Postby Editor 2 » Mon Aug 18, 2014 1:00 am

Hồi 43

Bị khốn Ngao Sơn Đầu, tướng binh nếm mùi thất trận
Sử dụng Mê Hồn phấn, mỹ nhân bắt khách tu mi


Tam hiệp về được nửa đường thì gặp quản trang Vương Bình đi tìm. Vương Bình nói :
- Tôi định lên huyện mời ba vị về. Đức Võ Thượng Nhân, sư trưởng Thiếu Lâm tự và bên Âu Dương nhạc gia mới về tới nơi.

Chu Đức Kiệt hỏi :
- Sao quản trang không ở nhà tiếp đãi, phái trang đinh đi báo có hơn không?
- Tôi sửa soạn phòng ốc xong xuôi mới ra đi. Thượng nhân thận trọng không muốn sai tráng đinh e có điều gì sơ suất.

Về đến trang, Tam hiệp ra mắt chào mừng các bề trên. Thấy Chu Đức Kiệt bê bọc Phật tượng, Đức Võ hỏi :
- Bọc gì thế này? Quà của Huyện quan phải không?
Đức Kiệt mở bọc, bày Phật tượng lên án cho mọi người xem, Thượng nhân ngạc nhiên :
- Ủa! Tượng ngọc Lam Vân của Bình Sơn tự đây mà! Sao lại đến tay con?

Đức Kiệt thuật lại vụ án Hỏa Nhãn Hầu, Âu Dương Bích Nữ nói với Chiêu Đức thiền sư.
- Chính vì vụ mất Phật tượng này nên Minh Chiếu hòa thượng có ý yêu cầu sư phụ phái người lên Bình Sơn tự truyền võ nghệ cho chư tăng và xin Người thâu nhận hai vị thiếu tăng nhập học Thiếu Lâm tự.

Chiêu Đức ưng thuận ngay :
- Đó là một việc ích lợi cho Phật giáo, lẽ nào ta từ chối? Chừng nào các con trả tượng cho Bình Sơn tự, chúng ta sẽ đi vãn cảnh.

Mấy hôm sau đến kỳ húy nhật Chu Đức Văn, Đức Kiệt làm tiệc lớn gia đình tụ họp đông đủ thiệt là ấm cúng. Trại Mạnh Thường và Âu Dương phu nhân thấy Chu gia trang rộng rãi khang trang, ngăn nắp thì lấy làm mừng cho con gái, không những lấy được người chồng anh hùng mà gia phong còn bề thế đáng trọng.

Trong thời kỳ nửa tháng trời, mọi người ở chơi Chu gia trang. Đức Võ Thượng Nhân đích thân hướng dẫn các vị thân khách có tuổi đi thăm thú cảnh sắc Bình Dương, trong khi Tam hiệp tổ chức các cuộc săn bắn thú rừng để Âu Dương Bích Nữ, Tòng Cát, Tòng Đức, Nhạc Lan Anh giải trí.

Sau đó gia đình Âu Dương từ biệt con gái, con rể cùng mọi người trở về Nam. Đức Võ Thượng Nhân muốn nhân dịp đó đi Lao Sơn nên còn nán lại.

Vợ chồng Đức Kiệt và Lam Y tiễn họ Âu Dương ra khỏi Bình Dương thành đến năm dặm đường.
Âu Dương Bích Nữ xoắn xuýt lấy thân mẫu bịn rịn chẳng nỡ rời tay.

Trại Mạnh Thường thấy vậy liền bảo vợ con :
- Tiễn đưa biết mấy cũng phải chia tay, hai mẹ con nên tự nhiên mới được. Bắc Nam đôi ngả tuy xa xôi thiệt, nhưng vó câu rong ruổi sau này các con rảnh rỗi về thăm thì dặm trường cũng chẳng là bao. Phận gái theo chồng, con cư xử cho đủ bổn phận của một người vợ hiền gương mẫu tức là nhớ đến song thân đó. Thôi các con khá trở bước hồi trang cho vợ chồng lão phu an tâm lên đường.

Bích Nữ lạy song thân, đứng lại cùng Đức Kiệt, Lam Y nhìn theo tới lúc đoàn người khuất bóng ngàn cây mới đủng đỉnh trở về.

Chu Đức Kiệt vẫn thắc mắc về vụ Mai Lâm bên Hình Thai huyện bèn hỏi Đức Võ Thượng Nhân về thanh đơn đao Thất Tinh mà chàng đang dùng là của Thượng nhân ban cho Lam Y chuyến thứ nhất nàng hạ sơn.

Sau trận đánh với Lôi Vân Long trên đường Bình Sơn tự trước kia, Lam Y nhận thấy cần phải trao Thất Tinh đao cho Đức Kiệt, đến đợt thứ nhì nàng cùng Đức Kiệt lên Cửu Huyền sơn, Đức Võ Thượng Nhân đúc xong Thái Dương kiếm mới ban thanh trường kiếm đó cho Lam Y để thay thế cây đao nàng nhường lại cho anh.

Thượng nhân nói :
- Thất Tinh đao là của một thuật gia họ Thường tên Chung mà ta gặp ở Yên Kinh. Y tặng ta thanh báu đao ấy không ngoài lý do ta đã nhận xét được đó là một bảo vật hiếm có và thảo luận cùng y về phương pháp luyện thép đúc bảo kiếm. Thường Chung có nói sơ rằng y cư ngụ tại Mai Lâm đất Sơn Đông nhưng không muốn chỉ định rõ nơi nào thành thử ta trọng sự kín đáo của y chẳng hỏi thêm. Ngờ đâu y ở Hình Thai huyện thì cũng chẳng bao xa. Theo lời con, ta chắc chắn rằng một trong mấy bộ hài cốt bấy trong khu Mai Lâm là Thường Chung rồi. Y đã bị kẻ nào đó tham tâm sát hại vì ta biết rõ Thường Chung tuy là thuật gia chuyên nghiệp luyện thép tốt, nhưng hoàn toàn không biết võ nghệ. Chuyến này ở Lao Sơn về, ta sẽ vào Mai Lâm xem sao. Con khá họa một bản đồ chỉ dẫn lối đi, đỡ lầm đường mất công tìm kiếm.

Gia đình Âu Dương Bích Nữ đi được vài ngày, Thượng Nhân cũng lên đường thẳng ra miền duyên hải Sơn Đông du ngoạn Lao Sơn.

Lúc ra đi người nói :
- Chừng nào ở Lao Sơn trở về, ta sẽ đi vòng theo duyên hải phía Bắc qua Hình Thai huyện, các con bất tất phải mong chờ. Thời kỳ này nhàn rỗi, các con nên khảo cứu mấy cuốn sách ta đã trao cho, ích lợi lắm đó.

Một hôm Tam hiệp thảnh thơi ngồi đàm luận trên ghế đá bên ngọn giả sơn trong hoa viên, Bích Nữ chợt nhớ đến chuyện Đường Trại Nhi liền hỏi chồng và Lam Y :
- Triều đình vẫn có lệnh cho các quan địa phương truy nã đảng viên Bạch Liên giáo, cớ sao vụ Hỏa Nhãn Hầu, Tế Nam phủ được phúc trình rất rành mạch về hoạt động của bọn Hắc Vân Long mà không hề động dụng thi hành các biện pháp diệt trừ nhỉ?
Lam Y đáp :
- Chắc có đấy chớ. Từ hôm khám phá ra vụ án Tống Giao chúng ta không được nhàn rỗi, bỏ không theo dõi nên không biết tin đó thôi. Tế Nam phủ bỏ qua vụ Hắc Vân Long chẳng hóa ra kỳ lạ lắm sao?
Bích Nữ nói :
- Hay là chúng ta du ngoạn Ngao Sơn Đầu rồi nhân dịp theo dõi Đường Trại Nhi xem sao?

Đức Kiệt mỉm cười hiểu ý Bích Nữ vẫn muốn diệt trừ Đường Trại Nhi, chàng nói :
- Người ta ở xa xôi còn cố công đến Sơn Đông du ngoạn các vùng Ngao Sơn Đầu, Lao Sơn nữa là chúng ta là người xứ này. Ta sẽ du ngoạn quanh vùng nhưng chẳng nên tự ý theo dõi một việc thuộc phạm vi hành động của quan quân. Đường Trại Nhi và đồng bọn sống trái ngược với đạo trời tồn tại sao được? Dù chúng ta không diệt trừ, chúng sẽ tự tiêu diệt. Bận trí làm chi những chuyện ấy mà hiền thê.

Lam Y tủm tỉm cười kín đáo nhìn hai người. Thấy chồng không tán thành việc tìm đánh Đường Trại Nhi, Hắc Vân Long nhưng thuyết của chàng rất vững chắc hữu lý, Bích Nữ đành lặng thinh.

Chu Đức Kiệt vội săn đón :
- Ngu huynh không cố ý trái ý hiền thê đâu, nhưng lý lẽ phải như vậy, hiền thê chớ buồn nhé.
Bích Nữ tươi cười :
- Nói phải thì nghe biết nghe chớ, sao lại buồn? Có điều bực mình rằng con yêu nữ dám lên tới đất Sơn Đông hoạt động, khinh thường cả mọi người.

Chu Đức Kiệt cười vang :
- Nó vô tình đó thôi. Nếu khi đặt chân lên đất Sơn Đông mà họ Đường biết là chúng ta ở Bình Dương chắc không phải bảo nó cũng tự cao chạy xa bay.
Ba người đang trò chuyện thì gia nhân vào báo :
- Thưa Trang chủ. Thẩm đại nhân đến thăm.

Đức Kiệt đứng lên :
- Sao không mời ngay vào khách sảnh?
- Thưa, Thẩm đại nhân hiện đang chờ ở khách sảnh.

Chu Đức Kiệt dặn Lam Y, Bích Nữ :
- Ngu huynh vào trước nhé. Hai chị em cũng nên sửa soạn lên sảnh xem Thẩm Ngọc Thụ đến thăm có chuyện gì.

Đức Kiệt vào tới sảnh thấy huyện quan Thẩm Ngọc Thụ đang khoanh tay ra sau lưng ngắm bức cổ họa “Triệu Tử Long phò A Đẩu” đơn thương nhất mã xông xáo giữa đám quân Ngô đông đảo, treo ở giữa sảnh.

Hai người thi lễ xong cùng ngồi xuống kỷ. Thẩm đại nhân chỉ bức họa mà rằng :
- Nét họa của Tần Mẫn Giang tuyệt đẹp. Càng nhìn càng linh động đến nỗi tôi tưởng như Triệu Vân đang xung đột thật sự với toán Ngô binh. Hừ! Người xưa anh dũng như thế mà sao quân tướng thời này kém quá, dẹp đám giặc cỏ không xong.

Chu Đức Kiệt không hiểu :
- Đại công liên tưởng tới chuyện gì mà nói rằng quân tướng thời này kém?

Thẩm Ngọc Thụ gật gù đáp :
- Thật vậy đó Trang chủ ạ! Quân Đức Châu hèn yếu thực sự. Đánh Ngao Sơn Đầu từ ngót hai mươi hôm nay rồi, mà không những không xong lại còn bị bọn Hắc Vân Long vây khốn đến nỗi phải gọi thêm viện quân.

Lam Y, Bích Nữ vào khách sảnh. Chu Đức Kiệt bảo vợ và em :
- Thẩm đại công vừa cho biết rằng quan Tuần phủ Tế Nam đã phát quân Đức Châu chinh phạt bọn Bạch Liên giáo ở Ngao Sơn Đầu.
Lam Y hỏi :
- Xuất quân mau lẹ lắm nhỉ? Giao tranh thế nào? Có lẽ đó là cuộc hành quân nhỏ diệt trừ giáo đảng không đến nỗi khó khăn? Bắt được mấy tên đầu đảng chúng tự khắc tan rã.
Chu Đức Kiệt lắc đầu :
- Khởi đầu ngu huynh cũng nghĩ như hiền muội vậy nhưng Thẩm đại công vừa cho biết rằng binh lực Đức Châu hành chinh bị thất trận và bị bao vây.
Lam Y Bích Nữ cùng ngạc nhiên nhìn nhau. Hai nàng không thể ngờ được cớ sao trái ngược lại.

Lam Y hỏi Thẩm Ngọc Thụ :
- Tướng nào mở cuộc hành quân vào Ngao Sơn Đầu. Bị hại nhiều không?
- Sau khi nhận được phúc trình của Bình Dương về vụ Hỏa Nhãn Hầu Tống Giao. Tuần phủ Tế Nam là Trịnh Tấn Trung lập tức hạ lệnh cho Tri phủ Đức Châu là Quán Bội Chấn chỉ huy trừ đảng khấu. Cho đến nay tử trận mất ba viên tướng, đại quân lâm nhược địa bị bọn giáo loạn ấy bao vây khá hiểm nghèo.

Chu Đức Kiệt nói :
- Bao vây khá hiểm nghèo mà tướng nào thoát nổi trùng vi về được Tế Nam xin viện binh kể cũng khá đấy.
Thẩm Ngọc Thụ đáp :
- Viên tướng thoát khỏi Ngao Sơn Đầu là Đan Quý. Y về thẳng Đức phủ phát phi mã quân ngày đêm về Tế Nam cấp báo xin viện binh. Tuần phủ Trịnh Tấn Trung đã phái tham tướng Trương Bỉnh Hoa cứu viện. Bỉnh Hoa là biểu đệ nên khi kéo quân qua địa phận Bình Dương có sai phi mã quân cầm thư về đây cho tôi biết tình hình.

Lam Y lắc dầu, chép miệng mà rằng :
- Tôi hoàn toàn không thể lượng đoán được lý do bất lợi của cuộc hành quân này. Tên giáo đạo Tống Liêm cung khai rõ ràng Hắc Vân Long có Lục Thủy trại. Tại sao quan quân không dùng nó chỉ đường và bao vây hẳn Lục Thủy trại thì bọn tặc đạo ấy thoát sao nổi sức đàn áp của quan quân? Ngao Sơn Đầu...

Nói đến đây, Lam Y bỗng ngưng bặt ra chiều nghĩ ngợi. Chu Đức Kiệt hỏi :
- Hiền muội nghĩ về địa thế thiên hiểm của Ngao Sơn Đầu, mà trước kia ta đã có lần qua chơi phải không?
Lam Y gật đầu :
- Hiền huynh nói đúng. Nếu được một bức họa đồ thuộc khu ấy, ta có thể nhận thấy rõ ràng hơn.

Thẩm Ngọc Thụ lấy trong tay áo ra một cuộn giấy trải lên án :
- Tôi có bản đồ ấy đấy sơ lược thôi.
Huyện quan và Tam hiệp đứng cả lên châu đầu nhận xét các điểm ghi trên họa đồ.
Lam Y rút cây kim trâm gài tóc chỉ theo các nét họa :
- Ngao Sơn Đầu tiếng là một hải khẩu, kỳ thiệt từ khu có dân cư buôn bán đông đảo ra tới bãi biển còn xa đến hai mươi dặm đường đi khá tốt. Trái lại, ở khu bên tả, mô đá lớn, nhỏ nhiều vô kể rải rác khắp tả khu này ra đến tận bờ biển, nếu Hắc Vân Long dựng Lục Thủy trại ở trong khu mô đá trùng điệp này quả cũng khó đánh thật. Có lẽ Lục Thủy trại ở trong khu đó?

Bích Nữ hỏi :
- Các mô đá dàn ra tới bờ biển rồi nhưng còn phía đất liền dựa vào đâu?
Lam Y giải thích :
- Rải rác trong khu vực khá rộng lớn rồi dựa vào Ngao Sơn thành đá gập ghềnh xen lẫn rừng cây rậm rạp.

Xét như thế thì đủ hiểu Hắc Vân Long không dại gì mà không lập Lục Thủy trại trong khu này, vừa ăn thông vào Ngao Sơn, trong tình trạng nguy hiểm, toàn bọn có thể rút chạy được. Một mặt thông ra biển liên lạc bằng thuyền với Linh Sơn đảo.
- Linh Sơn đảo ở phía nào?
- Không thấy ghi trong bức họa đồ này, nhưng tiểu muội chắc chắn là đảo ấy ở hướng các mô đá này. Sở dĩ Hắc Vân Long lập căn cứ trên đảo không ngoài mục đích sống một cuộc đời vương giả riêng biệt, một trời một nước. Như vậy tất y có thủy quân phòng khi động dụng.

Nghe Lam Y giải thích, Thẩm Ngọc Thụ khen phải luôn miệng, rất phục vị kỳ nữ ấy. Nàng nói tiếp :
- Huy động lục quân đánh không đủ. Không hiểu Tế Nam phủ có hạ lệnh cho thủy quân đóng ở Chí Đạo góp sức không? Nếu chỉ dùng lục quân không thì vào Linh Sơn đảo sao nổi?

Thẩm Ngọc Thụ nói :
- Về phía thủy quân tôi không thấy trong thư của Trương Bỉnh Hoa nói tới.

Lam Y lắc đầu hậm hực :
- Sơ suất nhiều thế, thất trận cũng đích đáng lắm! Ngán quá!
Thẩm Ngọc Thụ vội nói :
- Trong bức thư tuy không đả động gì đến thủy quân nhưng không có nghĩa Trịnh Tấn đã sơ suất đến như thế.

Chợt nghĩ là mình nóng tánh, vô lý, Lam Y dịu giọng vui cười :
- Xin lỗi đại công, mỗi khi bàn tán đến chiến cuộc mà sơ hở, tôi hay tưởng như đó là việc của chính tôi nên hóa ra bực tức những chuyện không đâu. Đó là một tật xấu, đại công vui lòng thứ lỗi, nhé?

Thẩm Ngọc Thụ niềm nỡ :
- Tiểu thư trực tánh, trực nết đấy chớ! Trái lại, tôi nhận đó là một đức tánh đáng khen. Trong vụ xuất quân tiễu trừ đảng Bạch Liên ở Ngao Sơn Đầu, trước nhất khởi xuất bằng việc bắt Hỏa Nhãn Hầu và người có công khám phá ra vụ án quan trọng đó là Tam hiệp. Vậy dù muốn hay không, ba vị đã gián tiếp mở đường cho vụ đảng khấu ở Ngao Sơn Đầu rồi.

Từ nhiều năm nay, trên đường hành hiệp, quý vị cáng đáng không biết bao nhiêu là việc thiệt hại. Nay nói ngược lại, việc thiên hạ quý vị còn đem hùng tâm hào khí ra giúp đỡ huống chi là vụ Ngao Sơn Đầu này thuộc địa phận Sơn Đông, không xa nơi quán trú của Chu gia bao nhiêu, và nhất là lúc này Chu gia Tam hiệp đang có mặt tại chỗ, lẽ nào quý vị làm thinh được? Hai người trong các chánh phạm thoát lưới Kim Lăng - Đường Trại Nhi và Tôn Hoàn không xa lạ gì với quý vị.

Lam Y mỉm cười đưa mắt nhìn Đức Kiệt, Bích Nữ đoạn hỏi Thẩm Ngọc Thu :
- Đại công là một thuyết khách gia đại tài. Người muốn chúng tôi kết thúc vụ Đường Trại Nhi, phải không?
Thẩm Ngọc Thụ điềm đạm.
- Sau khi suy xét cân nhắc kỹ lưỡng, tôi nghĩ rằng chỉ có ba vị mới đủ khả năng đưa quan quân đến kết quả hoàn hảo trong việc trừ đảng khấu Ngao Sơn Đầu. Bạch Liên giáo chuyên về bàng môn tả đạo, luồn lui nguy hiểm như rắn độc. Cuộc hành quân hiện tại có tánh cách địa phương, tôi nhận thấy khó thành công trước một đối phương không dám trận giao mà chỉ chập chờn xuất hiện bất kỳ. Chư tướng phục vụ dưới cờ chuyên dàn quân chiến đấu không thạo ngón tẩu bích phi thiềm theo lối võ giang hồ. Ba vị thừa hiểu việc ấy.

Bởi vậy, tôi mới dám quả quyết rằng không có sự trợ giúp của quý vị giang hồ hiệp khách, việc đảng khấu chắc chắn khó thành toại. Tôi nhấn mạnh hai tiếng “Địa phương” trong cuộc hành quân hiện tại. Nếu trận đảng khấu này do bộ binh Yên Kinh xuất chinh thì không khi nào tôi dám thúc đẩy, bàn tán phiền quấy quý vị trong khi nghỉ ngơi tại quê nhà.

Nghe câu chuyện Lam Y và Thẩm huyện quan, Chu Đức Kiệt bấy giờ thấy cần phải lên tiếng, chàng nói :
- Chúng tôi cũng bàn tán việc đi Ngao Sơn Đầu đây, Đại công an tâm. Bất cứ việc gì xảy ra trong địa phận Sơn Đông, anh em tôi dĩ nhiên coi như là việc nhà. Hiện thời, việc cần hành động trước như là uống rượu, lẽ nào quý khách đến nhà chỉ uống trà suông?

Thẩm Ngọc Thụ từ chối :
- Nhận được thư của bằng hữu Trương Bỉnh Hoa, tôi bỏ cả công việc đến quý trang hầu chuyện về tình hình Ngao Sơn Đầu. Quả thiệt hôm nay không có thì giờ, Trang chủ hãy vui lòng hoãn bữa rượu đó để uống mừng chiến thắng.
Nói đoạn, huyện quan từ tạ về huyện nha, Tam hiệp tiễn khách ra đến cổng trang. Lúc trở vào, Chu Đức Kiệt nói :
- Trước, sau cũng một chuyến đi Ngao Sơn Đầu. Hôm nào chúng ta khởi hành?

Lam Y nói :
- Lúc nào cũng được, tùy ý huynh, tẩu. Lam Y này son sẻ lắm.
Bích Nữ bảo chồng.
- Ta đi Sơn Đầu không ngoài mục đích tìm bọn Đường Trại Nhi ngầm giúp quan quân trừ đảng khấu, vậy cứu binh như cứu hỏa, nên sửa soạn mai đi ngay. Tiếc quá! Mới rảnh rang được vài hôm, đang định cải cách tàu ngựa nhà cho hợp ý muốn. Hiện thời có hai con cái sắp đẻ, tiểu muội đang định đóng vai bà mụ.

Đức Kiệt nói :
- Việc gì hiền thê phải bận tay. Người phụ trách tàu ngựa là Tào Chấn thạo lắm mà. Hồi nhỏ họ Tào theo bọn lái ngựa mãi nên quen tay.
Bích Nữ lắc đầu :
- Tào Chấn khá thật nhưng chưa hoàn hảo. Cách gây giống ngựa của y là phương pháp luyện mã chỉ là một việc làm lâu năm quen tay, vì vậy còn nhiều điểm bị bỏ sót. Chuyến này xong vụ Ngao Sơn Đầu trở về, việc làm trước nhất trong trang là tàu ngựa.

Lam Y đồng y :
- Tẩu tẩu nói phải. Chính tiểu muội cũng rất ưa phương pháp xây dựng tàu ngựa của Âu Dương trang. Còn nhớ một hôm tẩu tẩu săn sóc một con cái sắp đẻ mà đoán trước được rằng con ngựa con sẽ hai màu trắng đỏ. Thế mới tài tình chớ!

Bích Nữ nhìn Lam Y giải thích :
- Đó, không phải là xem tướng ngựa mà biết được con ngựa con sẽ như thế nào, nhưng là cả một phương pháp tìm ghép hai con đực, cái, lựa chọn màu sắc, vấn đề thời gian. Trưởng huynh, nhị huynh và tôi chuyên về phương pháp gây và luyện mã. Sau tàu ngựa Âu Dương trang có tàu ngựa của Thiên Lý Mã Tào Chí bên Dương Châu là đáng kể. Tào đại ca cũng rất thông thạo nghề nuôi ngựa. Rồi đây, Chu gia trang cũng sẽ có một tàu ngựa hoàn hảo.

Lam Y nói :
- Tẩu tẩu truyền bí quyết gây giống ngựa, nhé!
- Dĩ nhiên rồi. Tôi sẽ thay đổi phương pháp nhà nghề cho Tào Chấn để y có thể đảm nhiệm công việc của y một cách thiệt hoàn hảo, lỡ chúng ta đi vắng còn có người khả dĩ tin cậy được.
Chu Đức Kiệt phàn nàn :
- Có nhiều con ngựa xấu tướng không dùng được mà cứ vẫn phải nuôi chúng từ nhỏ đến già, chật cả tàu. Bỏ thì thương, vương thì tội.

Bích Nữ nói :
- Đáng lẽ phải coi tướng ngựa ngay từ khi nó còn nhỏ. Những con nào có tướng phản chủ hoặc vì lẽ gì khác mà ta không muốn nuôi, thì dồn chúng vào một nơi riêng. Cách thức bày trí khu riêng này cũng phải theo phương pháp khiến những con vật được nhốt ở đây sống như bầy ngựa rừng, người ta không cần trông nom tới chúng nữa. Chừng nào chúng lớn cứ thả lần vào trong núi thành ngựa hoang. Như vậy, trong thời gian vài năm, bầy ngựa rừng ấy sẽ tăng gia lớn dần và cấu tạo được nhiều con tự nhiên tuyệt đẹp mà ta có thể bắt được, dùng rất hay.

Lam Y hỏi :
- Chúng sống hoang dã, bỏ vùng này dông sang các vùng khác đi mất thì sao?

Bích Nữ lắc đầu :
- Không có thế đâu. Cô muội không thạo về môn gây ngựa nên nghĩ lầm đó. Thế này nhé: tôi nhận xét thấy ruộng đất ngoại thành của ta, có một nơi chưa khai khẩn giáp ngay một bên là rừng, một bên là núi, cỏ xanh mướt đúng là mã thảo, cây cao bóng mát, lại có suối chảy gần đó. Thiệt là một thiên đàng cho bầy ngựa rừng. Tôi muốn lập một biệt khu hoang mã ngay tại đó. Đàn ngựa hoang dù băng rừng, vượt núi, nhiều ngày sau chúng sẽ trở về khu khởi xuất như thường. Tuy nói là “hoang”, thiệt ra chúng vẫn thuộc quyền ta vì chúng không bao giờ bỏ nơi đất quen thuộc ấy. Đó là đặc tánh của giống ngựa. Nếu bây giờ ta thả những con ngựa vô dụng trong tầu ra biệt khu ấy, chắc chắn chúng sẽ làm mồi cho hổ báo, không đủ khôn sống biệt lập. Trái lại, những con ngựa xấu tướng được ta bỏ phóng từ nhỏ ở một “phế khu” trong trang, tới khi chúng ngót năm được bỏ vào khu đất hoang ngoại thành, chúng sẽ đủ tánh khôn của bầy ngựa rừng, đủ sức tự vê, hổ báo nào dám gần bầy ngựa hung lớn ấy? Rừng núi hoang vu nuôi, gây đám ngựa ấy cho ta một cách rất thiên nhiên. Chà! Không còn gì đẹp bằng, hùng bằng cảnh đàn ngựa hoang phi như gió trong khu rừng núi hiểm tuấn. Chừng nào gây nổi đàn hoang mã rồi, muốn bắt con nào, ta không cần lựa chọn nhiều. Những con nào hay, luôn luôn làm “chủ đoàn” và tới bốn năm con cái và các con của nó. Các đoàn nhỏ ấy ở tập hợp lại với nhau dưới sự “chỉ huy” của một con tuấn mã “anh hùng” nhất.

Lam Y cười ròn rã :
- Nếu thế thì trong một đàn lớn có nhiều tuấn mã, chắc chúng phải tranh đấu giành ngôi “chỉ huy” cao cả ấy, phải không?
- Cô muội suy đoán rất trúng. Chúng tranh hùng mãi cho tới khi nào nẩy ra một con “vô địch” mới chịu thôi và phục tòng. Sự phục tòng ấy không lâu dài. Khi nào trong đàn có một con “kiệt liệt”, nó sẽ không ngần ngại khởi trận tranh hùng cùng con Vô địch. Nếu con vô địch thua thì con mới chiến trắng đương nhiên thay thế chỉ huy toàn thể và nhận “gia đình” của con thua như chiến lợi phẩm.

Đức Kiệt hỏi :
- Tô Châu là xứ ít rừng núi, hiền thê quan sát ở đâu mà thuộc nhiều về giống hoang mã vậy?

Bích Nữ đáp :
- Trước kia, khi phụ thân định lập một tầu tuấn mã, có đem theo một nhà chuyên môn về giống thú ấy vào vùng Vũ Sơn trong Hồ Bắc, là nơi có nhiều mã trại chuyên bán các loại giống ngựa và gây ngựa rừng. Nhị huynh Tòng Cát, Tòng Đức, tiểu muội cũng được theo phụ thân để quan sát học hỏi. Thuộc cuốn Mã Đồ Thư lại nhờ người chuyên môn giảng dạy căn cứ vào các bầy hoang mã trông thấy trong Vũ Sơn, tiểu muội mới hiểu được như thế.

Lam Y nói :
- Tẩu tẩu chăm chỉ đấy, chẳng như Chu huynh và tiểu muội không chịu nghiên cứu về giống ngựa, tuy rằng trong địa hạt Sơn Đông nhiều nơi có ngựa rừng. Giống ngựa Sơn Đông nổi tiếng lắm.

Bích Nữ suy nghĩ giây lát :
- Đất đai của ta ở ngoại thành dựa vào thế núi, rừng đẹp đẽ đủ tư cách để ta lập một mã trại theo ý muốn. Buôn giống thú ấy có lời nhiều lắm, và hơn nữa, đó là một môn thể thao thích thú. Cô muội và Chu Lang có đồng ý lập một mã trại không?

Chu Đức Kiệt đáp :
- Trước kia ở nhà thì không chú ý về vấn đề ấy lắm. Sau đó theo học thúc thúc, khi hạ sơn, Lam Y và ngu huynh chuyên du hiệp thành thử không mấy khi rảnh rang tính đến việc gây giống tuấn mã. Thường thường chỉ trông thấy ngựa đẹp tốt là mua dùng thôi.

Hiện thời, nếu chúng ta chịu ở nhà nghỉ ngơi, tùy ý hiền thê định liệu. Lập mã trại hoặc gây giống hoang mã, điều cần nhất là chúng ta phải luôn luôn ở nhà. Hiền thê thử bàn tính với Lam Y xem. Đi cùng đi, ở nhà cùng ở mới được.

Nghe vợ chồng Đức Kiệt nói chuyện, Lam Y thầm tính: tuy mới lấy nhau, vợ chồng huynh trưởng rồi cũng sẽ có con nối dõi. Chu gia nếu luôn luôn du hiệp như nhiều năm nay thì bao giờ mới có “điệt nhi” mà bế, mà bồng? Ta nhiều lần thúc giục Chu huynh lập gia đình cũng không ngoài mục đích “nối dõi tông đường”. Nay huynh trưởng có bạn rồi, ta nên nghĩ thế nào chớ?

Nghĩ đoạn Lam Y nói với Bích Nữ :
- Tẩu tẩu bàn công việc rất trúng ý với tiểu muội. Thế nào sáng mai chúng ta cũng phải lên đường đi Ngao Sơn Đầu. Xong vụ Ngao Sơn sẽ hay. Ta cần nghỉ ngơi một thời gian dài mới có “chú bé” kháu khỉnh bồng bế chớ?
Bích Nữ mắc cỡ, mặt đỏ bừng bừng, im lặng. Lam Y chăm chú nhìn chị dâu với cặp mắt thật dịu hiền.


° ° ° ° °


Nhắc lại Đường Trại Nhi và Tô Hoàng sau khi thoát khỏi Kim Lăng liền rủ nhau đi Tô Châu.
Sẵn tiền bạc, hai người ở nhà trọ sống đàng hoàng tựa thể cặp vợ chồng mới cưới một thời gian cốt ý quên những việc mới qua.

Tôn Hoàn bàn :
- Bây giờ ta về Hồ Nam ở cùng Cố giáo chủ?

Đường Trại Nhi suy tính hồi lâu :
- Không được. Sau vụ Kim Lăng đổ bể chắc có nhiều chuyện dứt dây động rừng lắm. Về nơi căn cứ hiện tại chưa chắc đã an thân, lỡ vừa phải đầu lại trúng tai thì sao? Ta cần đi xa, tránh các cuộc truy nã, như lên Bắc chẳng hạn.
- Lên Bắc biết ở vào đâu, chẳng lẽ cứ lang thang phiêu bạt mãi ru? Chi bằng, sẵn tiền đây, chúng ta mau tạm một nơi nào đó ẩn dật, sau sẽ hay. Hiện thời không nên lộ dạng.
- Tiểu muội nói tới lên Bắc đâu có phải để phiêu bạt đó đây! Sư huynh còn nhớ đến Náo Hải Thần Hắc Vân Long không?

Tôn Hoàn gật đầu :
- Nhớ chớ. Y được Cố giáo chủ phái lên Sơn Đông lập cơ sở truyền giáo từ lâu rồi. Hắc Vân Long vốn là hải tặc xuất thân, truyền giáo chi nổi? Chắc gì ta tìm nổi chốn dong thân ở đó?
- Sư huynh nhầm! Có lẽ vì sư huynh bỏ đi nhiều năm thành thử không hay tin tức về Hắc Vân Long. Y lập được cơ sở lớn lắm ở vùng duyên hải cực Đông bên Ngao Sơn, sống tiếp giáp ngay với biển cả. Nếu ta đến với y chắc an thân hơn mọi chỗ khác.

Thiệt ra, Tôn Hoàn không muốn Trại Nhi đến với họ Hắc là vì trước kia y nghi ngờ hai người dan díu với nhau.

Trại Nhi cũng thừa đoán như vậy, nàng nói :
- Sư huynh vẫn ngờ vực Vân Long? Dầu ngu si đần độn đến đâu, tôi cũng không khi nào bỏ được sư huynh để theo một kẻ dữ tướng như y. Ngoài việc lợi dụng căn cứ chắc chắn của Hắc Vân Long lấy chỗ tạm trú, tôi “thề” không có ý khác. Sư huynh cần suy xét cho rõ ràng mới được. Hiện thời không gì hơn bằng sự ẩn náu nơi vùng duyên hải.

Tôn Hoàn cầm tay Trại Nhi mà rằng :
- Sư muội tính thế nào, tôi cũng chiều ý, miễn là chúng ta được bền chặt bên nhau.
Tuy ngoài miệng nói vậy, trong tâm Tôn Hoàn vẫn không vui, khốn nỗi họ Tôn không dám phản dối Trại Nhi sợ nàng lại như chiếc chim ngàn bay đi nơi khác.

Tôn Hoàn nói :
- Vụ khởi quân ở Kim Lăng tuy bất thành nhưng sự đổ vỡ hoàn toàn không phải tại tôi. Tôi đã chiều ý sư muội về đủ phương diện, mong rằng sư muội chớ quên lời hứa cùng tôi chung sống?

Đường Trại Nhi bá vai Tôn Hoàn, ngước mắt lẳng lơ nhìn chàng :
- Sư huynh thắc mắc mãi vấn đề ấy! Bằng cớ hiển nhiên là hiện tại tôi đang theo sư huynh đây này. Nếu phụ lời chung sống, tất tôi phải bàn và nhất quyết về Chí huyện với Cố giáo chủ chớ?

Tôn Hoàn âu yếm gật đầu :
- Tôi muốn nói tới hai chữ “lâu dài”. Đi đâu cũng được, miễn là sư muội luôn luôn ở bên tôi.

Đường Trại Nhi mỉm cười duyên dáng :
- Tôi biết rằng Hắc Vân Long vẫn dựa vào giáo thế Bạch Liên, tuyên truyền đám dân chài lưới làm hậu thuẫn, thật ra y vẫn hành nghề hải tặc hoạt động dọc theo bờ biển Sơn Đông, Hoàng Hải, Giang Tô.

Căn cứ Linh Sơn đảo của y kiên cố lắm, sư huynh mặc tôi tùy thời ứng biến lợi dụng căn cứ ấy làm chốn dong thân, há không phải là một điều hay?.

Tôn Hoàn tặc lưỡi, ghì Trại Nhi vào sát bên mình :
- Tôi biết sư muội vẫn cao đoán hơn tôi nhiều. Ờ, thì ta qua Sơn Đông. Nhưng sư muội định đến Ngao Sơn Đầu với tư cách gì? Dầu ngu si, Hắc Vân Long không là kẻ dễ để ta sai khiến y đâu!

- Sư huynh nói hữu lý nhưng vẫn chưa hoàn toàn. Hắc sư huynh thừa biết rằng mỗi khi Cố giáo chủ sai phái người nào đi đâu, đều qua tay tôi hết. Do đó bọn tín đồ đều cảm tưởng người điều khiển là tôi. Cố giáo chủ chỉ hữu danh vô hiệu. Tôi chắc chắn Hắc Vân Long tin tưởng tôi như một Nữ giáo chủ Bạch Liên. Sư huynh đừng lo.
Đường, Tôn bàn bạc cẩn thận rồi thuê xe ngược đường lên Bắc.

Một hôm đi tới địa giới Giang Tô, Sơn Tây, hai người bỗng gặp hai nữ đệ tử của Đường Trại Nhi là Khuất Tấn Nhi và Viên Thu Nhi trong một tửu điếm bên đường. Khuất, Viên mừng rỡ chào hỏi, Trại Nhi ngạc nhiên :
- Hai đồ đệ đi đâu mà qua đây?

Viên Thu Nhi nói :
- Đệ tử nhân rỗi lên Giáo sở thăm Khuất Tấn Nhi nên bàn nhau cùng về Chí huyện thăm Nữ chủ. May mắn gặp nhau ở khúc đường này, nếu không thì chúng đệ tử sẽ mất công xông pha ngàn dặm.

Trại Nhi nói :
- Hiện thời ta cùng Tôn sư bá qua Sơn Đông thăm Hắc Vân Long đây. Hai người có rảnh rang thì cùng đi cho vui?
Khuất Tất Nhi nói :
- Được như vậy càng hay. Hiện thời đệ tử cũng không có việc gì khác là về thăm Nữ chủ. Cố giáo chủ được mạnh không?

Đường Trại Nhi suy tính rất lẹ, nàng đáp ngay :
- Chẳng nói giấu diếm gì hai người, ta được lệnh của Giáo chủ qua Kim Lăng hành động, chẳng ngờ vụ Kim Lăng bị đổ bể, nhân lúc này ta không muốn về Chí huyện vội, e trụ sở bị động nên đi Sơn Đông quan sát công việc Hắc Vân Long tại Ngao Sơn Đầu. Theo ý ta, hai người cũng chẳng nên về Hồ Nam trong lúc này.

Khấu Tấn Nhi nói :
- Đệ tử và Viên Thu Nhi phong thanh vụ Kim Lăng nhưng không ngờ giáo giới ta nhúng tay trong vụ đó. Nếu biết trước, chúng đệ tử tất không về Hồ Nam vội.

Đường Trại Nhi hỏi :
- Xe ngựa đỗ trước tửu điếm kia của hai người phải không?
- Dạ.
- Trả tiền cho xa phu trở về đi. Xe ta còn rộng chỗ. Đi đường trường mà liên tiếp hai xe thường xuyên bị lục lâm đại đạo dòm ngó.

Thế là bọn Đường Trại Nhi vào địa hạt Sơn Đông. Tới Tế Nam Phủ, Trại Nhi thay xe khác. Lúc qua Bình Dương, xa phu bép xép ra mặt thông thạo kể sự tích Bình Sơn vãn cảnh thiền viên và khi thấy pho Phật tượng Lam Vân ngọc, nàng nẩy ý định chiếm đoạt báu vật ấy.

Ngày đi, đêm nghỉ, chẳng bao lâu đồng bọn đến Ngao Sơn Đầu tìm Hắc Vân Long ở Lục Thủy trại. Vốn đã thầm mến Đường Trại Nhi từ trước, Hắc Vân Long tiếp đón mọi người thật nồng hậu và để phô trương thanh thế của mình. Vân Long dẫn Đường Trại Nhi cùng Tôn Hoàn đi quan sát khắp Lục Thủy trại, Linh Sơn đỉnh, giới thiệu nàng là nữ lãnh tụ Bạch Liên từ Hồ Nam lên Ngao Sơn Đầu thuyết giáo. Đường Trại Nhi trang phục theo kiểu đạo cô, giữ nét mặt đóng kịch thiệt nghiêm chỉnh, giảng giáo nhiều rất hấp dẫn nên các tín đồ Ngao Sơn Đầu hoàn toàn tin tưởng quý mến nàng, rủ nhau thọ giáo Bạch Liên đông hơn trước.

Tôn Hoàn đổi tên là Tôn Triệu Lương, vận đạo bào cốt cách tiêu sái thần tiên, luân phiên cùng Trại Nhi truyền giáo cũng được toàn thể hoan nghênh. Họ Tôn quan sát cách tổ chức Lục Thủy trại và Linh Sơn đảo, thấy còn nhiều chỗ sơ hở liền khéo léo bày tỏ ý kiến giúp Vân Long điều chỉnh, thành thử chiếm cảm tình của Vân Long rất dễ dàng.

Hắc Vân Long là người có bản lãnh độc chiếm Linh Sơn đảo làm căn cứ, tụ tập được các bọn hải tặc lẻ loi, chỉ huy phân phát công tác hoạt động ngoài khơi, điều hòa đúng chỗ. Y không tham lam, chia chiến phẩm cho các đầu lãnh quy tụ theo y thiệt công bình, nên không những chẳng mích lòng ai mà còn được mọi người tôn phục.

Khi Đường Trại Nhi tới Ngao Sơn Đầu, lực lượng thủy lục chiến của Hắc Vân Long đã rất quan trọng, vòng hoạt động ở phía bắc lan rộng tới vịnh Trực Lệ, Liêu Đông, phía nam đến khắp miền hải phận Kiều Châu và một đôi khi tràn tới ngoài khơi Giang Tô. Riêng ở mũi Ngao Sơn Đầu và ngoài Linh Sơn đảo, Hắc Vân Long đã đụng độ hai lần với bọn Nụy khấu từ xa đến “ăn hàng” trong hải phận Sơn Đông. Nụy khấu không những thạo thủy chiến mà còn khỏe mạnh can đảm. Bọn chúng có những chiến thuyền lớn mạnh mẽ, nhưng bất lợi ở chỗ từ xa đến, thành thử hai lần tranh giành thương thuyền ở ngoài khơi với Hắc Vân Long, hai lần chúng đều bị thất bại nặng nề.

Thời ấy, Minh triều có một căn cứ hải quân lớn ở Thanh Đảo, lực lượng hùng hậu, tại sao lại để Hắc Vân Long lộng hành đến như vậy?

Trước hết, từ Thanh Đảo, đến Ngao Sơn Đầu, hai địa điểm ấy cách nhau xa. Các quân thuyền tuần tiễu dọc theo duyên hải gần bờ chớ không liều mạng ra xa ngoài khơi như khấu thuyền. Sau là Hắc Vân Long ra lệnh cho bộ hạ mỗi khi chẳng may có gặp quân thuyền thì phải liệu đường lảng tránh ra ngoài biển xa tựa thế ngư thuyền vượt khơi đánh cá, chớ không được ngang nhiên đụng độ giao phong.

Một đôi khi tránh không kịp, quan quân áp mạn lên khấu thuyền khám xét thì cũng không có gì lạ. Các nhân viên trên khấu thuyền trang phục kiểu ngư phủ, trong thuyền có đủ dụng cụ chài lưới, ngoài ra còn có các vũ khí không đáng kể, vì thuyền nào cũng cần phải tự vệ.

Nhắc lại Đường Trại Nhi ở Ngao Sơn Đầu và Linh Sơn đảo được hơn một tháng, liền vờ vĩnh từ biệt Hắc Vân Long ra đi.
Họ Hắc tưởng thật cố yêu cầu nàng và Tôn Hoàn ở lại ít lâu nữa :
- Các tín đồ đang tin tưởng, số người nhập giáo tăng thêm mỗi lúc một nhiều, nhị vị về Hồ Nam bây giờ là cả một sự tai hại lớn lao. Việc về Hồ Nam cũng không gấp, yêu cầu nhị vị ở lại Ngao Sơn lâu bao nhiêu hay bấy nhiêu...

Đường Trại Nhi vốn muốn thử xem Hắc Vân Long có tha thiết thật tình với sự hiện diện của nàng và Tôn Hoàn ở Ngao Sơn không, nên bày chuyện ra đi như vậy. Thiệt ra, tại khu vực này, hai người cùng được trọng vọng, an ninh, lẽ nào còn muốn đi đâu hơn nữa?

Nàng nói :
- Tôi ở lâu e không tiện, quấy rày đầu lãnh thôi.
Hắc Vân Long vội đáp :
- Sao Nữ chủ lại nói vậy? Tôi còn mong rằng nhị vị ở mãi nơi đây, lâu bao nhiêu hay bấy nhiêu. Nhị vị cần thứ gì xin cứ ra lệnh, Hắc Vân Long này chiều ý ngay.

Được lưu giữ ấy, Đường, Tôn hai người từ đó ở hẳn lại Ngao Sơn và Linh Sơn đảo.
Trại Nhi còn tiến xa hơn nữa. Những khi Tôn Hoàn ở Ngao Sơn, nàng vẽ vời chuyện nọ chuyện kia, về Linh Sơn đảo tư thông cùng Hắc Vân Long. Hoặc khi Tôn Hoàn ở ngoài đảo, nàng lại vào Ngao Sơn vui vầy cùng Vân Long.

Chiếm được Vân Long tức nàng đã ngự trị toàn khu thuộc ảnh hưởng của y.
Phần Hắc Vân Long tuy có đôi khi nghi ngờ mối liên lạc mật thiết giữa Trại Nhi và Tôn Hoàn, song y không đòi hỏi gì hơn nữa. Thỉnh thoảng được gần mỹ nhân là đủ rồi, ngoài ra nàng muốn sao y cũng mặc, không hề quan tâm.

Những khi họp mặt đông đủ bộ ba, Đường Trại Nhi, Tôn Hoàn, Hắc Vân Long, họ Đường khéo giữ nét mặt nghiêm nghị thuở ban đầu nên Tôn Hoàn yên trí Đường Trại Nhi hoàn toàn thuộc về mình, không lẳng lơ như hồi còn chung sống ở Chí huyện nữa.

Một hôm Trại Nhi chợt nhớ lại pho tượng Lam Vân ngọc ở Bình Sơn tự, nàng bèn ngỏ ý với Hắc Vân Long việc muốn “đem” báu vật về Ngao Sơn.

Vân Long nói :
- Bấy lâu nay, tôi vẫn muốn kiếm một bảo vật quý giá tặng hiền nương, hiềm vì thứ gì hiền nhi cũng có thừa rồi nên đành chần chờ. Nay nói tới Lam Vân ngọc tôi mới chợt nhớ ra. Vậy hiền nương an tâm, tôi sẽ phái người lấy kỳ được bảo vật đó về đây.

- Hắc lang nên thận trọng lựa chọn viên tướng nào thiệt đắc lực hãy sai phái. Nếu vụ đoạt Phật tượng này bị đổ bể có thể nguy hại đến chúng ta ở Ngao Sơn. Hiện thời có người nào khả dĩ đảm nhiệm được việc ấy không?

Hắc Vân Long suy nghĩ giây lát :
- Có. Có một người bản lãnh khá cao, tin cậy được. Nếu hiền nương muốn gặp hắn, tôi truyền gọi y đến đây tức khắc.

- Y là ai?
- Hỏa Nhãn Hầu Tống Giao.
Thường ngày Đường Trại Nhi vốn hay quan sát, giao tiếp với các hàng thuộc hạ ở Ngao Sơn Đầu và Linh Sơn đảo nên đã gặp Tống Giao vài lần. Nghe đến tên y, nàng nhận ra ngay.

Nàng nói :
- Phải chăng Tống Giao là viên đầu lãnh dong dỏng cao nước da ngăm đen?

Hắc Vân Long gật đầu :
- Chính gã đó. Vụ Lam Vân ngọc này, cần một người không những có bản lãnh mà còn thạo nghề phi thiềm tẩu bích, Phái Tống Giao đi, tôi an tâm lắm.
- Đầu lãnh không chú ý đến tật xấu của họ Tống ư?

Vân Long ngạc nhiên :
- Gã làm sao?
- Khi hai đệ tử Khuất Tấn Nhi, Viên Thu Nhi còn ở đây, tôi để ý thấy Tống Giao bỏ cả công việc để ve vãn chúng. Tôi e Bình Dương là một huyện lớn nhiều ca nhi kỷ viện, Tống Giao sẽ ham chơi bê bối chăng?
- Nói thế thì không biết thế nào cho cùng. Gã là người có tài, nên phái đi chắc chắn được việc.

Nếu Hắc Vân Long nghe lời Đường Trại Nhi thì vụ Bạch Liên giáo ở Ngao Sơn Đầu chưa đến nỗi tới thời kỳ bại lộ, nguy hiểm hơn nữa cho bọn tặc đạo là công cuộc của chúng bại lộ giữa lúc Tam hiệp hiện diện tại Bình Dương.

Hỏa Nhãn Hầu Tống Giao đi đến bốn tháng không về, Đường Trại Nhi, Tôn Hoàn cho rằng hoặc y đã bị bắt hoặc y lấy Phật tượng báu ngọc sanh tâm tham lam đi thẳng nơi khác.
Hắc Vân Long nóng ruột phái Đồng Mãnh, Cao Liêm đi tìm, chẳng dè hai người ấy cũng bị bắt nốt, biệt vô âm tín.

Giữa lúc đồng bọn Ngao Sơn Đầu hoang mang chưa toan tính hành động ra sao thì Tri phủ Đức Châu là Quán Bội Chấn đem binh bản bộ đến chinh phạt.

Quán tri phủ án binh lại Ngao Sơn trấn, phái thám tử đi dò la tung tích giặc.

Hắc Vân Long, Tôn Hoàn, Đường Trại Nhi biết ngay là quan quân Đức Châu kéo tới Ngao Sơn không ngoài mục đích chinh thảo, nên dự bị sẵn sàng, phái bộ hả giả làm dân chài trực tiếp với các thám tử quan quân cho tin tức sai chỉ đường cho họ vào nơi hiểm địa.

Quả nhiên Quán Bội Chấn mắc mưu, cậy quân số đông kéo rốc binh tướng vào khu có nhiều hốc đá ăn thông với Ngao Sơn tìm giặc.
Chờ quan binh vào sâu hiểm địa, Hắc Vân Long và Đường Trại Nhi đích thân điều khiển bộ binh núp sẵn ở bờ biển đánh tập hậu dồn toàn thể số tướng binh Đức Châu vào sâu hơn nữa chặn hẳn đường ra.

Một mặt Tôn Hoàn cũng kéo phục binh từ Ngao Sơn ùa xuống sát phạt vây tròn lấy bộ binh Đức Châu.
Với trận phục kích ấy, bọn tặc đạo hạ được non phân nửa lực lượng của Quán Bội Chấn. Họ Quán bèn liều mạng xua quân đánh luôn một trận nữa tìm đường ra nhưng vô ích thất trận đầu binh tướng Đức Châu hoang mang, mất tinh thần, bị thiệt hại thêm một phân nửa.

Quán Tri phủ đành hạ lệnh đóng trại thủ hiểm, một mặt phái Đan Quý là người độc nhất biết thuật phi hành, chờ đêm tối lẻn ra khỏi trùng vi về Đức Châu điều động binh cứu viện.
Số quân Đức Châu chẳng còn được bao nhiêu, Đan Quý liền cấp tốc phi mã nhật dạ về Tế Nam báo cáo.
Tuần phủ Tế Nam là Trịnh Tấn Trung tức khắc phái Tham tướng Trương Bỉnh Hoa đem binh cứu viện. Mặt khác, Trịnh tuần phủ thông đạt cho Thị Bạc Ty quan là Diêu Thái Khanh đôn đốc hải thuyền đến Ngao Sơn Đầu hiệp lực với Trương Bỉnh Hoa đảng diệt thủy khấu.

Nguyên đời Nguyên triều, nước Phù Tang hiềm khích với Trung Quốc, cấm nhân dân không được giao thương với nước này. Tuy cấm lệnh rất ngặt, vẫn có một hạng dân nghịch lén lút ra khơi làm thủy khấu. Bởi vậy người Trung Quốc mới gọi là Đông hải Nụy khấu (bọn cướp biển người lùn ở biển Đông).

Bọn Nụy khấu ngày một bành trướng, nước Phù Tang chia ra làm hai, Nam, Bắc triều. Về sau hợp tinh, một số dân quật cường đi ra các vùng duyên hải theo Nụy khấu hành nghề thủy tặc, luôn luôn quấy phá Triều Tiên và duyên hải Trung Quốc.

Bởi lẽ ấy ngoài hai căn cứ Hải quân lớn ở Trấn Giang, Thanh Đảo, Minh triều còn đặt các căn cứ thủy quân nhỏ dọc theo miền duyên hải dưới danh hiệu là “Thị Bạc ty” bề ngoài là để thâu thuế thương thuyền, kỳ thiệt không ngoài mục đích chế ngự thủy khấu hoành hành ghê gớm.

Bọn nghịch dân ở ven biển cũng phụ với cướp biển hành hai nghề: ngư phủ và thủy khấu. Chúng phụ họa với cướp cho dễ bề hoạt động vì lẽ nếu nghịch với thủy khấu thì khi ra khơi cũng bị chặn cướp như thường, thà rằng theo hẳn thủy tặc cho dễ bề sanh nhai.

Những tay kiệt hiệt hơn chiêu tập thành đảng lấy hiệu hẳn hoi, chiếm các hải đảo lập căn cứ, đói thì đột nhập lục địa cướp phá, khi biển lặn thuận buồm ra khơi lưới được nhiều cá no nê, chúng lại trở thành dân chài hiền lành.

Trung Quốc đất rộng mênh mông, người như kiến cỏ, nên dù triều đình hoặc thịnh hoặc suy quan quân cũng không thể nào chế ngự nổi lục lâm, thủy tặc nhan nhản khắp nơi.

Hắc Vân Long là một khấu tướng hữu danh hoành hành dưới hiệu kỳ màu đen chữ trắng “Náo Hải Thần” độc chiếm hải khu Ngao Sơn Đầu giữa thời bấy giờ. Uy thế Hắc Vân Long rất lớn, quân lực mạnh mẽ, dĩ nhiên toán quân bản bộ Đức Châu chống sao lại.

Thị Bạc Ty Diêu Thái Khánh trước kia đã phục vụ dưới quyền chỉ huy của Thủy sư Đề đốc Đàm Bá Phục dưới Trấn Giang, là thủy tướng có tài được họ Đàm đề cử và được triều đình ủy nhiệm việc thị bạc đôn đốc một chi phái Thủy quân ở Kiều Châu trên Sơn Đông.

Nhận được thông tư của Tế Nam phủ, nơi y trực thuộc, Diêu Thái Khánh lập tức huy động binh tướng đôn đốc chiến thuyền ngược miền duyên hải Sơn Đông lên Ngao Sơn Đầu.

Nói về Tam hiệp dung ruỗi ra Ngao Sơn.
Ba hiệp khách ấy không có việc chi thúc bách nên đủng đỉnh nhàn du.

Một hôm vừa vượt khỏi địa giới Văn Lý huyện, Tam hiệp buông lỏng tay cương đang đi dưới chân đồi cây rậm, thì bỗng nghe có tiếng vó ngựa phi từ phía sau vọng tới.

Ba người tạ ngựa sang bên đường nhường lối.
Kỵ sĩ phóng ngựa như bay đến nơi, và Tam hiệp nhận ngay là giáo đầu Vân Bưu. Vân giáo đầu ghì ngựa lại chào.

Chu Đức Kiệt hỏi :
- Vân giáo đầu đi công tác gì mà cấp bách vậy?
- Tôi đuổi theo ba vị đây.
- A! Có chuyện gì vậy?
- Thẩm đại nhân phái tôi đến quý trang hỏi ngày ba vị lên đường để gởi phong thơ cho Tham tướng Trương Bỉnh Hoa, không dè các vị lại khởi hành rồi, nên huyện quan cho tôi cấp tốc đuổi theo để trao thơ, may quá gặp nhau nơi đây, nếu không tôi phải thẳng đường ra Ngao Sơn.

Nói đoạn Vân Bưu mở nút áo lấy ở ngực ra hai phong thư trao cho Đức Kiệt.
Chàng tiếp thơ nhìn qua thấy ngoài bì đề tên Trương Bỉnh Hoa, còn một bì đề tên mình liền mở ra đọc.

Chàng đưa thơ cho Lam Y, Bích Nữ :
- Thẩm huyện quan yêu cầu chúng ta tiếp xúc với Trương tham tướng và liệu bề giúp việc chinh phạt bè lũ Hắc Vân Long đây.

Lam Y bảo Vân Bưu :
- Nhờ giáo đầu thưa lại với Thẩm công rằng người khá an lòng. Chúng tôi sẽ tận tâm giúp. Được việc càng hay bằng như trái lại, thì không vì lẽ chúng tôi không cố gắng đâu, nhé?
- Tôi tin rằng quý vị sẽ mã đáo thành công, giờ đây tôi xin phép trở về phục lệnh.
Tam hiệp gật đầu rồi cùng họ Vân chia tay, chờ viên giáo đầu khuất bóng ngàn cây mới giục ngựa tiến bước.

Lam y nói :
- Trông thấy Vân giáo đầu, tiểu muội lại hồi tưởng tới hôm Chu huynh giao đấu với Lôi Vân Long tại võ đường Bình Dương. Ngày tháng thoi đưa, thấm thoắt đã nhiều năm qua rồi.

Ngày đi đêm nghỉ, không bao lâu Tam hiệp đã tới Ngao Sơn.
Đoàn quan binh Tế Nam còn đang hạ trại ngổn ngang cả ngoài tiểu trấn.

Tam hiệp gò ngựa lưng đồi quan sát. Gió biển từ xa thổi tới mát mẻ dễ chịu.
Bích Nữ nói :
- Gần biển có khác, gió đượm mùi muối khác hẳn với không khí lục địa.
Lam Y gật đầu :
- Từ đây đến bến nước còn một ngày đường đi lẹ. Chúng ta vào phố tìm tửu quán dùng bữa đã rồi hãy tới trung quân.

Ba người rẽ ngựa xuống đồi đi vòng tránh khu quan quân vào trấn. Tại đây, dân cư buôn bán khá sầm uất mái tranh, mái ngói lẫn lộn. Đường sá rộng rãi nhưng mỗi gió lùa, cát bụi lại bốc cuốn mịt mù.
Lựa một tửu quán lớn hơn cả, Tam hiệp xuống ngựa bước vào.

Thấy gian ngoài nhiều bụi, Bích Nữ dùng tiếng Sơn Đông hỏi chủ quán :
- Ngoài này bụi quá có nơi nào sạch kín hơn không?
Chủ quán nhìn ba người mới tới nơi, đoạn đáp :
- Thưa bổn quán có sẵn gian trong dành riêng cho viễn khách không quen với cảnh Ngao Sơn bụi bậm. Mời quý vị vào cho. Thực đơn có đủ các thứ hải vật tươi tốt.

Tam hiệp vén rèm cửa ngăn ngoài với căn trong sạch sẽ hơn nhiều.

Đặt hành lý xuống kỷ bên, ba người kéo ghế ngồi.
Bích Nữ bảo tiểu nhị lựa mấy món cá, mực và rượu ngon.
Lam Y chúm chím cười :
- Tẩu tẩu học lẹ thiệt. Dùng tiếng Sơn Đông y hệt dân bổn xứ khiến người trong quán cũng không phân biệt nổi ai là nữ khách Tô Châu.

Bích Nữ đưa mắt nhìn chồng :
- Hừ! Cô muội khen thật hay khen giả đấy! Chu lang vẫn chê tôi nói ngọng. Mang tiếng lấy chồng người Sơn Đông mà không thạo giọng Sơn Đông, kể cũng bực thật.

Đức Kiệt lắc đầu bảo Lam Y :
- Bích Nữ chỉ thạo gọi món ăn thôi đấy, và nhân lúc đấy trổ tài lòe hiền muội. Thật ra những lúc diện đối diện, Bích Nữ nói ngọng líu ngọng lịu không thành câu nữa!

Lam Y điềm nhiên :
- Hiền huynh nhìn người ta chằm chằm thế kia, ai mà không ngượng?
Tam hiệp bỗng im lặng vì chủ quán đi vào niềm nở hỏi xem khách hàng có cần dùng thứ gì thêm nữa không.

Chu Đức Kiệt hỏi :
- Quán khá lắm mà sao vắng khách thế này?
- Thưa quý khách, không riêng gì một hôm nay, đã nhiều ngày ế ẩm rồi. Tiểu trấn này nằm trong khu vực hành quân nên việc thương mại bị ảnh hưởng rất nhiều. Hẳn lúc mới vào trấn, quý khách thấy quân binh hạ trại ngổn ngang cả ngoài đầu trấn?
- Tuy vậy, ngoài đường phố người ta qua lại vẫn tấp nập lắm.
- Thưa, quý khách mới đến nên không hiểu đó, mỗi ngày dân chúng cứ đến gần trưa là ra phố, ra chợ mua bán các thứ cần dùng. Quá trưa, ai về nhà nấy không đi đâu nữa. Họ lo binh biến có thể xẩy ra bất cứ lúc nào.
- Tôi tưởng có quân binh đóng ở đây thì sức tiêu thụ hàng hóa, thực phẩm của trấn này tăng gia mới đúng lẽ chớ?
- Thưa không, quân lính không được phép ra khỏi trại. Trấn này tiếp giáp với khu vực chiến đấu rồi.

Hỏi qua cho biết tình hình Ngao Sơn, Tam hiệp trả tiền hàng lên ngựa ra đi.

Chủ quán nói đúng. Trong phố lúc này người qua lại thưa thớt. Nhà nào nhà ấy đều đóng cửa, ngoại trừ nhà buôn cửa chỉ hé mở mong vớt vát được chút ít nào chăng.

Tam hiệp vòng qua mấy số quan sát tình hình. Dân chúng nghe thấy tiếng vó ngựa đi lộp cộp ngoài đường, liền hé cửa ra nhìn.

Họ tưởng là quan binh và không khỏi lấy làm lạ khi thấy hai cô gái xinh đẹp hùng dũng đi với một tráng sĩ cao lớn. Cả ba võ trang đầy đủ nhưng không phải là quan quân.
Rẽ ngựa ra khỏi đầu Trấn, Tam hiệp đến thẳng cổng trại bảo quân canh rằng có người xin yết kiến Tham tướng.

Viên đội trưởng nhìn ba người nhận xét, rồi hỏi :
- Quý vị cho biết quý tánh cao danh và từ đâu tới, tôi phái người vào báo được.

Đức Kiệt đáp :
- Đội trưởng cứ nói rằng chúng tôi từ Bình Dương đến và có mật thư của Thẩm huyện quan gởi cho Tham tướng.
Viên đội trưởng phái quân vào báo, hồi lâu trở ra mời ba người vào trại.
Các lều vải san sát dựng thành hàng lối rất quy củ, bộ nào đội ấy nghiêm chỉnh.

Lều vị chỉ huy dựng ngay ở trung quân. Nóc lều có cắm lá danh kỳ thêu chữ “Trương”, kế bên là cờ chỉ huy.

Trước lều hai ngàn quân dàn nghiêm chỉnh. Lính vào báo là khách đã tới, Trương tham tướng phái đội trưởng ra mời vào, nhưng Tam hiệp ngồi yên trên ngựa. Đức Kiệt đưa phong thư cho viên đội trưởng mà rằng :
- Nhờ đội trưởng cầm thư này vào cho quan Tham tướng.
Lát sau, một vị tướng quân giáp trụ đoàng hoàng, vóc dáng chầm hẩm, tuổi trạc tứ tuần, đai đeo kiếm bước ra khỏi lều.

Tam hiệp xuống ngựa. Trương Bỉnh Hoa cúi chào.
- Tôi không ngờ là ba vị hiệp khách cố công tới bản danh. Xin lỗi không ra đón ngay từ nãy. Kính mời quý vị vào tạm trong lều này.

Tam hiệp đáp lễ đoạn theo Trương Bỉnh Hoa vào lều chia ngôi chủ khách cùng ngồi.
Trương tham tướng niềm nở :
- Nghe đại danh quý vị đã lâu, nay nhờ Thẩm bằng hữu giới thiệu, tôi mới được hân hạnh diện kiến. Chẳng hay quý vị có điều chi cần dạy bảo cần ích cho cuộc hành quân này không?

Chu Đức Kiệt nói :
- Chúng tôi có thể biết chương trình hành quân của Tướng quân không?

Trương Bỉnh Hoa trải bức họa đồ lên mặt án, đoạn nói :
- Bản tướng đem quân ra đây để tiếp cứu bộ binh Đức Châu hiện thời bị hãm trong vòng hiểm địa. Giải vây xong, hai bộ binh sẽ hiệp lực tiếp tục nhiệm vụ trừ đảng khấu.
- Quân ta hạ trại được bao nhiêu lâu rồi.
- Vừa được hai ngày.
- Tướng quân đã liên lạc với bộ chỉ huy Đức Châu chưa?
- Có. Tôi đã phái Đan Quý là người thoát trùng vi về Tế Nam xin cứu viện. Y đi ngay từ hôm kia, bây giờ chưa thấy trở về.

Chu Đức Kiệt nói :
- Nếu Đan Quý vào thoát trùng vi thì sớm lắm cũng chiều nay hay sáng mai mới về đến đây. Từ đây đến bờ biển còn ngót ngày đường không thể lẹ hơn được.
- Ngoài việc phái Đan Quý liên lạc với bộ binh Đức Châu, tôi đã phái thám mã quân dò xét tình hình địch thế nào. Việc tôi kéo quân cứu viện đến đây tất không tránh được mắt do thám của chúng.
Đức Kiệt gật đầu.
- Việc đó hiển nhiên quá rõ. Khi địch biết viện binh tới không lẽ chúng giữ nguyên vị trí để bị thế trong đánh ra, ngoài đánh vào.
Nghe hai người nói chuyện đến đây, Lam Y liền hỏi Trương Bỉnh Hoa :
- Sao khi kéo quân đến đây, tướng quân không thẳng ra chiến địa bất ngờ đánh dốc một trận vào hậu quân địch, may ra một trận thành công có hơn không?

Trương tham tướng đáp :
- Tôi đã nghĩ tới điểm đó song le có hai điều tối kỵ cho cuộc hành quân. Thứ nhất quân ta từ xa kéo tới người mệt, ngựa mỏi, không đủ sức xung trận. Thứ nhì: Địch quân không lẽ nào không biết ta đến, chúng sẽ phục binh trong một khu vực quen thuộc với chúng, nhưng xa lạ với quân ta. Án quân tại đây trước khi khởi chiến được hai lợi điểm. Một là địch quân không rõ lực lượng quan quân ra sao, chúng tưởng còn có nhiều đạo quan quân sẽ lục tục kéo đến dự chiến. Hai là chúng ngờ vực không hiểu ta đánh ngả nào tiến ngả nào; số quân giặc có hạn, quan quân đông vô chừng, địch quân sợ bị bao vây nên có lẽ sẽ tự rút lui, không dám cùng ta ngang nhiên giáp chiến. Riêng phần tôi cũng không thể khởi chiến ngay được khi chưa liên lạc với thủy quân.

Lam Y hoan hỉ :
- A! Có huy động thủy quân! Chiếc thuyền thuộc khu vực nào.
- Căn cứ Kiều Châu gần hơn cả. Tướng chỉ huy là Diêu Thái Khánh, cựu thuộc hạ của Thủy sư Đề đốc Đàm Bá Phục Trấn Giang.

Chu Đức Kiệt nói :
- Có thế chớ, chúng tôi đang lo Tế Nam không huy động thủy quân.
Trương tham tướng hỏi :
- Quý vị có chương trình hành động gì khác hơn là giáp chiến đại quy mô với thủy khấu không?

Đức Kiệt đáp :
- Theo sự hiểu biết của chúng tôi, tên đại đầu lãnh thủy khấu Ngao Sơn Đầu và cũng là đảng viên Bạch Liên giáo là Hắc Vân Long. Y có bao nhiêu bộ hạ chúng tôi không rõ, nhưng còn có hai người cộng sự đắc lực, lợi hại với y là Đường Trại Nhi và Tôn Hoàn mà chúng tôi đã biết khi trước ở Kim Lăng. Vào tận sào huyệt chúng diệt được ba tên Hắc, Đường, Tôn thì chúng đông và mạnh đến mấy cũng phải tan.

- Đại hiệp định nói căn cứ sào huyệt của bọn Hắc Vân Long là Linh Sơn đảo, Lục Thủy trại?
Đức Kiệt gật đầu :
- Chính thế. Phải mạo hiểm vào hang cọp mới bắt được cọp con.

Trương tham tướng suy nghĩ hồi lâu :
- Theo lời Đan Quý, người đã từng ở trong trùng vây của địch quân, Lục Thủy trại hình như chỉ là một chuyện hư vô. Chính vì quan Tri phủ Đức Châu kéo dốc quân tướng vào khu có nhiều hốc đá lớn định đánh phá Lục Thủy trại nên mới bị giặc phục binh tứ phía đánh cho một trận thiệt hại vô kể và bị bao vây luôn cho tới nay. Tôi nghi ba tiếng “Lục Thủy trại” lắm.

Âu Dương Bích Nữ chú ý nghe chuyện từ nãy bèn lên tiếng :
- Lục Thủy trại tất phải có thật, nếu không Hắc Vân Long lấy binh tướng ở đâu ra để phục kích, bao vây đoàn quân của phủ quan Đức Châu? Có thể như thế này: Khu có nhiều hốc đá thông tới Ngao Sơn, và nơi khu tiếp giáp ấy có đường bí mật xuyên qua Ngao Sơn dẫn tới phía bên kia núi giáp ngay với biển. Lục Thủy trại ở phía ấy.

Mọi người đều khen phải.
Trương Bỉnh Hoa dò trên bức họa đồ, đoạn chỉ vào một điểm mà rằng :
- Chu phu nhân đoán trúng đấy. Phía đông nam, Ngao Sơn Đầu giáp với biển và đất liền. Chính bắc, Ngao Sơn Đầu giáp với biển không thôi. Lục Thủy trại có lẽ ở phía ấy, ngoài sự hiểu biết của mọi người.
Lam Y nói :
- Có thủy quân tiếp sức thì không khó khăn gì cả. Chừng nào được tin thủy đoàn tới, Tham tướng kéo bộ quân ra Ngao Sơn Đầu giải vây cho bộ binh Đức Châu, sau đó yêu cầu thủy quân ra phía bắc Ngao Sơn xem xét. Nếu quả nhiên phía ấy có Lục Thủy trại thì Tham tướng kéo quân từ phía núi xuống, đồng thời Diêu Thái Khánh đổ bộ thủy quân, Hắc Vân Long sẽ thọ địch hai mặt. Phá tan Lục Thủy trại, quan quân sẽ tính đến việc Linh Sơn đảo sau. Quan Tham tướng nghĩ phải không?
- Chu tiểu thư dạy chí phải, tôi đồng quan điểm. Hiện thời, ba vị đại hiệp đã ra tới đây, tôi yêu cầu Người ở ngay trong quân để tôi được tiếp cận hỏi ý kiến.

Tam hiệp ưng thuận.
Trương tham tướng liền hạ lệnh cho quân hầu dựng một căn lều lớn có đủ tiện nghi mời Tam hiệp ở lại.

Sáng hôm sau, Đan Quý trở về cho biết rằng địch quân vẫn bao vây chặt chẽ và bộ binh Đức Châu đã gần cạn lương thực. Quan Tri phủ ước hẹn trong ba hôm nữa sẽ trong đánh ra ngoài đánh vào. Trước khi khởi chiến, bộ binh Tế Nam sẽ đốt pháo hiệu cho đoàn quân bị bao vây biết.

Sẩm tối hôm ấy, trong khi Tam hiệp đang dùng bữa cùng Trương tham tướng thì quân canh vào báo có người của Diêu tướng quân xin vào ra mắt.

Tham tướng truyền lệnh dẫn người đó vào.
Viên hạ thuộc của Diêu Thái Khánh xưng tên là Dương Thao và xuất trình công văn do họ Diêu gửi tới hẹn ngày gặp nhau của hai cánh quân thủy bộ.

Trương Bỉnh Hoa đọc xong đưa công văn cho Tam hiệp coi đoạn hỏi Dương Thao :
- Thế giặc ngoài ấy ra sao? Người đi đường có thấy chi lạ không.
- Thưa tướng quân, tôi không rõ vì không đi đường chính. Chiếc thuyền không ghé bến Ngao Sơn Đầu nhưng neo ngay ở bờ biển cách đó ba hải lý.

Lam Y nghi ngờ hỏi Dương Thao :
- Là người mới tới, sao người biết đường tắt mà đi?
- Thưa, trước kia tôi ở tiểu trấn Ngao Sơn mấy năm rồi. Vì thuộc đường nên Diêu tướng quân mới sai phái lên đây.
- Chừng nào ngươi trở về phục lệnh?
- Thưa, sáng sớm mai. Bây giờ tối rồi, đi đường e nguy hiểm và mệt lắm chắc chịu không nổi.

Trương tham tướng gọi bộ hạ dẫn Dương Thao ra cho ăn nghỉ, hẹn sớm mai đầu giờ mão phải trở vào lấy công văn phúc đáp để lên đường.

Dương Thao ra khỏi hổ trướng, Lam Y nói chung với mọi người :
- Tờ công văn của thủy tướng Diêu Thái Khánh rành mạch thế này đây nhưng không chắc Dương Thao có thật là thuộc hạ họ Diêu hay không? Hay lại có chuyện Thiềm Thừ Thoát Xác như vụ Hỏa Nhãn Hầu Tống Giao đưa quân ta vào ổ phục kích. Không hiểu Hắc Vân Long thế nào, nhưng Đường Trại Nhi và Tôn Hoàn là hai kẻ túc kế đa mưu, quan tham tướng nên thận trọng.

Trương Bỉnh Hoa gật đầu :
- Chu tiểu thư nói phải. Tôi sẽ phái bốn thuộc hạ cùng đi với Dương Thao, hẹn Diêu Thái Khánh ba ngày nữa chính ngọ tiến quân đánh liền. Nếu Thao là gian tế, chúng cứ việc hạ và đem thẳng công văn đến hải đoàn cho Diêu tướng quân.

Chu Đức Kiệt nói :
- Khỏi phải sai phái ai, việc liên lạc này hệ trọng lắm. Trương tham tướng trao công văn cho chúng tôi và biên thư giới thiệu, chúng tôi tự khắc ra Ngao Sơn Đầu gặp Diêu Thái Khánh. Đi ngựa không tiện, vậy để cả ở đây nhờ trông nom cẩn thận.

Trương tham tướng mừng rỡ :
- Được quý vị đại hiệp giúp cho thì còn chi bằng. Tôi xin thảo thư ngay.
Sáng sớm hôm sau, Tam hiệp đeo hành lý nhẹ, lương khô theo Dương Thao khởi hành ra Ngao Sơn Đầu.

Ra khỏi tiểu trấn, được độ ba dặm, Dương Thao chỉ tay ra phía trước mặt, y nói :
- Đi thẳng con lộ này sẽ tới chính Ngao Sơn Đầu. Lại nữa phía tay hữu có một tiểu lộ chênh chếch hướng đông nam, theo đường ấy thì đến bờ biển nơi chiến thuyền buông neo.

Bốn người đi một quãng đường nữa, quả nhiên thấy con đường mòn bên phía hữu đại lộ.
Trong khi đi đường, mỗi khi đi một khúc nào nhiều hốc đá hoặc cây cối rậm rạp, Tam hiệp đều chú ý phòng bị phần vì tự vệ, phần vì nghi ngờ Dương Thao. Mãi sau nhận xét thấy Thao thật tình Tam hiệp mới phóng tâm tiến bước.

Xế chiều, Tam hiệp đi tới một khu toàn đất cát. Bốn người đi hàng một, len lỏi vòng qua các mô đá cao bằng đầu người.
Tiếng sóng biển dạt dào vọng tới.

Dương Thao nói :
- Đi hết quãng nhiều mô đá này thì tới bãi biển.

Chu Đức Kiệt hỏi Thao :
- Thủy đoàn neo ở đâu?
- Ở ngay bên phía hữu sau vách đá lớn, mà quý vị trông thấy xa xa kia kìa.
- Thuộc bờ biển Ngao Sơn thế này, Dương đại ca có biết phía bên kia núi có gì không?
- Tôi không vào sâu trong núi bao giờ nên không được rõ.
Lát sau, Tam hiệp theo Dương Thao tới bãi biển cát trắng, trước mặt là đại dương xanh rờn mênh mông xa tắp ngàn trùng.

Tiếng sóng ào ào hòa với gió thổi vi vu lùa vào những rặng thông cao ngất.
Xa xa, phía bên tả mũi Ngao Sơn Đầu nhô hẳn ra ngoài khơi.

Dương Thao chỉ ra phía ấy :
- Qua mũi đất kia, đi độ hai dặm thì tới chiến trường. Nào mời quý vị đi theo tôi.
Dương Thao đi trước vòng chân vách đá sang phía hữu.

Một đoàn mấy chục chiến thuyền sơn đen sì, neo thành hàng lối chỉnh tề ngay ven biển.
Dương Thao rút trong túi áo ra một tấm khăn lụa lớn, màu xanh giơ cao vẫy đi vẫy lại nhiều lần ra hiệu.

Tức khắc, một chiến thuyền tam bản do hai thủy thủ chèo vào bờ, ghếch hẳn lên bến cát.
Dương Thao nói :
- Mời quý vị theo tôi ra soái thuyền.

Bốn người lẳng lặng xuống thuyền. Hai thủy thủ đẩy thuyền ra hẳn mặt nước mới nhảy lên mũi và đuôi chiếc tam bản, chèo mạnh.

Càng tới gần, Tam hiệp càng thấy các chiến thuyền lớn đồ sộ. Mũi thuyền nào cũng chạm trổ, gắn mắt y hệt như con kình ngư khổng lồ đang nằm lù lù trên mặt nước. Mỗi mạn thuyền có sáu bơi chèo cặp dọc thành thuyền.

Chiếc tam bản nhỏ bé luồn lỏi giữa đám chiến thuyền khổng lồ ấy vào tới soái thuyền neo ở trung tâm. Các thủy thủ đua nhau xô ra mạn thuyền nhìn bọn người mới tới.

Thủy thủ trên soái thuyền bắc thanh cây xuống tam bản cho mọi người leo lên.
Thấy lềnh kềnh bất tiện, Tam hiệp nhảy vút lên thành soái thuyền. Dương Thao leo thang sau cùng.
Năm vị tướng quân võ phục đồng đều đứng ở mũi thuyền. Người nào cũng khỏe mạnh trạc ngoại tam tuần, riêng người đứng giữa lớn tuổi hơn cả trạc ngoài bốn chục. Ai nấy đều chăm chú nhìn Tam hiệp.

Dương Thao tiếp bì thư do Đức Kiệt trao cho, tiến lên trước đứng nghiêm chỉnh cúi đầu chào năm viên Thủy tướng rồi hai tay nưng bức thư đưa cho người đứng giữa.

Tướng đó vội bóc bì đọc công văn kèm theo bức thư ngắn do Trương tham tướng giới thiệu Tam hiệp. Nét mặt hân hoan, người đó tiến tới mạn thuyền nơi Tam hiệp đang đứng vòng tay vái chào :
- Diêu Thái Khánh tôi hôm nay được hân hạnh đặc biệt tiếp ba vị đại hiệp. Bấy lâu nay nghe đại danh và ước mong diện kiến, nay gặp nhau mới biết danh quả bất hư truyền.
Tam hiệp đáp lễ, Chu Đức Kiệt nói mấy lời khiêm tốn.

Diêu Thái Khánh giới thiệu bốn tướng tùy thuộc với Tam hiệp và mời mọi người vào trong khoang thuyền rộng rãi trang hoàng sơ sài nhưng gọn ghẽ, quân hầu dưng trà nóng và lên đèn.

Diêu Thái Khánh nói :
- Theo lệnh Tế Nam phủ, tôi điều khiển thủy quân đến đây giúp Trương tham tướng về mặt biển và theo lệnh công văn đây trưa mai chính Ngọ phải đổ bộ lên Ngao Sơn Đầu.

Chu Đức Kiệt hỏi :
- Tướng quân đã phái người do thám quanh đây và lựa địa điểm đổ bộ chưa? Lực lượng đối phương thế nào?
- Hắc Vân Long có phân phái quân canh phòng lác đác dọc theo bờ biển mé bên kia Ngao Sơn Đầu. Từ mũi Ngao Sơn vào tới chỗ địch quân bao vây lực lượng Đức Châu còn những hai dặm đường nữa. Có lẽ vì thế, đối phương mới bỏ lỏng phía bờ biển bên này.
- Chiến thuyền neo ở đây liệu chúng có biết không?
- Có lẽ không. Vách đá thiên nhiên kia che khuất hẳn cả đoàn thuyền. Tôi đã phái người đứng ở mũi Ngao Sơn nhận xét rồi.

Diêu Thái Khánh mời mọi người dùng trà, đoạn nói :
- Suốt ba hôm nay không có một ngư thuyền nào ra khơi và lạ hơn nữa là mé bên kia Ngao Sơn Đầu không có lấy một chiếc thuyền địch. Trong trường hợp thua chạy hay cần rút quân, chúng sẽ kéo đi đâu? Chúng còn căn cứ ở Linh Sơn đảo vậy liên lạc bằng cách gì?

- Tướng quân đã dùng đường biển vòng ra phía sau ngọn Ngao Sơn chưa?
Diêu Thái Khánh lắc đầu.
- Chưa và không dám đi e địch quân trông thấy thêm khó cuộc đổ bộ bất ngờ. Ngay như việc lên đèn tôi cũng phòng bị cẩn thận, trong khoang kéo rèm đen cho kín bế, thổi nấu thì ở dưới gầm thuyền.

Chu Đức Kiệt nói :
- Đối phương còn có Lục Thủy trại. Trại này ở trong một khu kíùn đáo mé bên kia Ngao Sơn. Có thế Hắc Vân Long mới xua quân vây đánh bộ binh Đức Châu dễ dàng mau lẹ như vậy chớ? Anh em tôi đến đây không ngoài mục đích tìm kiếm ra khu trại đó và nhờ Tướng quân cho mượn một chiến thuyền nhỏ dùng trong công tác ấy.

Diêu Thái Khánh đáp :
- Bây giờ tối rồi, đêm cuối tháng không trăng, tối kỵ cho sự đi thuyền. Từ đây đến phía bên kia Ngao Sơn đi vòng đường biển ít nhất cũng bốn năm hải lý một chuyến đi. Chờ đến sáng mai thì thời giờ ngắn ngủi quá vì cuộc đổ bộ phải được khởi sự trước giờ Ngọ mới kịp giao tiếp với bộ quân của Trương tham tướng kéo tới phá trùng vây địch. Chi bằng đằng nào cũng trễ rồi sau trận đánh, chúng ta sẽ liệu kéo toàn thể chiến thuyền tìm kiếm, truy nã địch quân ở phía bên kia Ngao Sơn luôn thể.

Chu Đức Kiệt suy tính giây lát, chàng nói :
- Tôi định thế này tiện lợi cho cả tướng quân và chúng tôi. Đầu giờ Sửu, anh em tôi lên thuyền ra khơi, như vậy chỉ độ cuối giờ Thìn thuyền về được đến đây rồi không trở ngại gì đến cuộc hành quân. Trái lại, nếu chúng tôi dò biết được sự gì thì có lợi cho việc tiến quân mau lẹ hơn thôi.

Diêu Thái Khánh ưng thuận :
- Ba vị đại hiệp cần mấy tay chèo?
- Hai người đủ rồi.
- Tôi cho họ đem theo cả hỏa pháo lỡ khi cần kíp nguy hiểm, đại hiệp cứ việc báo động.

Chu Đức Kiệt mỉm cười :
- Cám ơn tôi mong rằng công việc tôi làm sẽ đem lại đôi chút ích lợi cho việc hành quân.
Tối hôm ấy, Tam hiệp dùng bữa với Diêu Thái Khánh bên soái thuyền và an nghỉ ở trong khoang chiến thuyền kế bên.

Lam Y hỏi Đức Kiệt :
- Cứ trong công văn Trương tham tướng có ghi mấy câu (...), cớ sao hồi nãy Diêu Thái Khánh lại quyết định trưa nay đổ bộ?
- Không có gì lạ cả. Khi Trương Bỉnh Hoa biết chắc chắn là chúng ta nhất định ra Ngao Sơn Đầu trước, y có ghi lại ngày giờ tiến đánh ấn định vào trưa mai.
- A! Có thế chớ! Nếu Trương Bỉnh Hoa để dài thì giờ như trước, tiện chợt dự tính hành động của anh em ta biết chừng nào!

Đêm hôm ấy vào quãng cuối canh tư, Tam hiệp đai nịt gọn ghẽ xuống chiếc tam bản cỡ trung bình neo ngay mạn chiến thuyền.

Diêu Thái Khánh dậy sớm đứng trên mạn soái thuyền vẫy tay vui vẻ chào Tam hiệp :
- Chúc ba vị thành công. Mọi thứ cần dùng đều để cả trong ngăn khoang thuyền. Như đã nói hồi hôm, nếu cần xin cứ đốt pháo hiệu.

Chu Đức Kiệt đáp :
- Tướng quân cứ yên tâm, chúng tôi sẽ báo hiệu nếu cần.
Hai thủy thủ khỏe mạnh hạ chèo xuống nước. Chiếc thuyền len lỏi lách qua các chiến thuyền lớn hơn dọc theo bờ biển tiến ra hướng Ngao Sơn Đầu.

Sương đêm buông mỏng. Các vì tinh tú lấp lánh trên không gian. Biển lặng, nhưng những làn sóng nhỏ gần bờ cũng đủ sức đội thuyền lên cao.
Khi biển lặng, bơi thuyền gần bờ không được êm bằng ngoài khơi, nên hai thủy thủ lái thuyền tách xa ra khỏi bờ.

Chu Đức Kiệt bảo họ :
- Khi nào các đại ca thấy mệt, chúng tôi chèo thay cho, nhé!

Thủy thủ phía mũi thuyền nói :
- Thưa, không sao. Chúng tôi quen rồi.
Con thuyền lướt nhẹ trên mặt nước, mái chèo khua bì bõm.

Vượt qua mũi Ngao Sơn Đầu, viên thủy thủ đằng lái hỏi :
- Ba vị đại hiệp đổ bộ hay đi đâu để chúng tôi lựa chỗ.

Đức Kiệt chỉ ra phía Ngao Sơn lãnh :
- Không vào bờ đâu. Làm thế nào vòng được ra phía núi bên kia thăm thú xem trên bờ có gì không. Chân ngọn Ngao Sơn nhô ra đến tận mặt nước, nếu tôi không lầm thì khu đầu núi trong đất liền xa xa kia là chiến trường hiện tại.
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 2
 
Posts: 295
Joined: Mon Nov 28, 2011 11:46 pm
I am: Professional

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp - Hồi 43 (tiếp)

Postby Editor 2 » Mon Aug 18, 2014 1:02 am

(Hồi 43 tiếp)

Thủy thủ hỏi :
- Thưa chiến trường ở trúng ngay hướng có nhiều mô đá. Căn cứ vào Sao Mai, đó là hướng Tây bắc nhìn ra từ biển vào. Chúng tôi chưa ra phía sau Ngao Sơn bao giờ, nhưng thử coi. Mỗi khi chân núi đá tiếp giáp hẳn với biển thế này, chắc chắn thế nào cũng có một khu nhiều mỏm đá ngầm.

Hai thủy thủ bảo nhau chèo thuyền tách khỏi bờ hơn nữa.
Thuyền thuận gió, chèo mạnh lướt nhanh, tờ mờ sáng thì tới một khu có nhiều mô đá lớn nhỏ nhô hẳn lên trên mặt nước.

Hai thủy thủ chậm tay theo lệnh Chu Đức Kiệt, rẽ thuyền vào khu ấy quan sát.
Tam hiệp nhìn lại phía sau. Không những con thuyền nhỏ đã vượt hẳn Ngao Sơn Đầu mà còn vượt cả mỏm Ngao Sơn lãnh mới vào khu vực này.

Bích Nữ bảo Lam Y :
- Căn cứ vào mỏm Ngao Sơn lãnh nhô ra mặt nước phía sau ta xa xa kia che khuất cả Ngao Sơn Đầu, tức là thuyền ta đã vượt một đường vòng khá rộng.
- Hiền tẩu nói đúng, Không hiểu sau những mô đá này có gì đây.

Bích Nữ chỉ ngọn Ngao Sơn mà rằng :
- Cô muội và Chu lang nhận xét thử coi. Từ đây vào tới thành núi còn khá xa, vậy quãng trống từ các mô đá này vào đến chân núi là gì?

Lam Y nói ngay :
- Hoặc là các mô đá liên tiếp vào tới đó, hoặc là có bãi cát sau các mô đá này cũng chưa biết chừng. Bây giờ tiểu muội tính thế này. Ta nên neo thuyền ở đây chuyền qua các mô đá lần vào phía trong xem sao đã, huynh tẩu đồng ý không?

Đức Kiệt gật đầu :
- Được! Hành động luôn đi, sáng rõ thêm khó cho bọn ta.

Chàng bảo hai thủy thủ :
- Neo thuyền chờ chúng tôi ở đây, nhé!

Lam Y nhún mình phi thân lên mỏm đá gần thuyền nhất. Bích Nữ Đức Kiệt theo sau trước sự kinh ngạc của hai thủy thủ.
Qua được mười mỏm đá, Lam Y đừng dừng lại chỉ phiến đá cao nhất nói :
- Lên đỉnh phía kia chắc nhìn suốt được vào trong bờ. Thử coi!

Dứt lời, nàng tiếp tục tiến trước. Cũng may các mô đá dẫn tới mỏm đá cao nhất đầu lần lượt cao hơn chút đỉnh, thành thử Tam hiệp chuyền tới rất dễ dàng.

Ngồi mọp xuống trên mỏm đá nhẵn lì ấy, ba người chăm chú quan sát khắp từ phía.
Nhìn lại phía sau là biển khơi. Hai bên tả hữu đều là dãy mô đá liên tiếp chạy dài như một bức hàng rào ngăn hẳn bờ biển bên trong với mặt khơi.

Ba người mừng rỡ khi nhận thấy ngay trên bờ biển một trại rất lớn dàn từ bãi biển đến tận chân núi, nhà cửa như bát úp, ngói tranh lẫn lộn.

Lúc đó, trời chưa sáng hẳn nên trông toàn khu đại trại, đây đó còn le lói ánh đèn.
Cách trại độ bốn mươi trượng, về mé biển phía hữu, đoàn chiến thuyền lớn nhỏ neo thành hàng chữ nhất rất tề chỉnh.

Lam Y chỉ vào phía trại giáp núi :
- Bên kia núi là nơi bộ binh Đức Châu bị bao vây. Quân lực của Hắc Vân Long đóng cả ở đây tất có hiểm lộ thông qua núi mà chỉ riêng có chúng biết thôi. Quân binh Đức Châu lọt trùng vi là phải lắm. Còn đoàn chiến thuyền kia nữa. Ở đầu dãy đá phía xa kia tất có lối vào. Cũng may chúng ta neo thuyền nơi đây, nếu đi ra chút nữa thấy lối tất rẽ vào có thể bại lộ hành tích.

Chu Đức Kiệt nói :
- Lục Thủy trại của Hắc Vân Long chỉ lợi hại trước mộït kẻ địch không biết đường thôi. Bọn thủy khấu đóng quân ngay trong lòng chảo thế kia, nếu bị bao vây chạy đâu cho thoát.

Bích Nữ góp ý kiến :
- Chưa chắc. Đối phương có bao vây thì cũng chỉ lấp trọn lối mặt biển của giặc. Phía núi vách dựng đứng như trường thành thế kia, quan quân vào sao được. Các hiểm lộ chắc chắn không được rộng rãi cho sự tiến quân và thủy khấu thế nào cùng đặt nhiều chặng canh phòng. Đột nhập khó, chớ không dễ dàng đâu. Ngoài con lộ ăn thông với mé núi bên kia, nơi bộ binh Đức Châu bị bao vây, biết đâu không còn các hiểm lộ khác khiến thủy khấu có thể do các lối đó rút lui khi cấp bách? Cắm Lục Thủy trại nơi đây, Hắc Vân Long tất đã tính toán kỹ lưỡng rồi. Xem như cách thức y lừa bộ binh Đức Châu lọt trùng vây thì đủ hiểu.

Lam Y và Đức Kiệt khen phải.
Ba người nhận xét bao quát địa thế toàn khu, rồi trở bước về chỗ cũ, nhưng không thấy thuyền đâu cả.
Đức Kiệt khẽ lên tiếng gọi.

Chợt có tiếng trả lời ở phía tả :
- Chúng tôi núp sau mô đá này.
Tam hiệp theo hướng tiếng nói chuyền tới và lần lượt nhảy xuống thuyền.

Lam Y hỏi :
- Tại sao núp cả vào đây thế này?

Thủy thủ đáp :
- Ba vị đi được một lát thì có một thuyền nhỏ từ đầu phía đằng kia ra khơi. Sợ người trên thuyền trông thấy, nên chúng tôi tạm núp vào đây.
- Quái, sao chúng tôi đứng trên mô đá cao mà không trông thấy gì?
- Quý vị không trông thấy là phải vì con thuyền ấy khởi đầu lướt theo dãy mô đá này nên bị khuất, mãi sau mới tách ra khơi.

Trời đã sáng rõ, Tam hiệp về đến nơi thì trên các chiến thuyền, cơ nào đội ấy đều sẵn sàng, chờ giờ khởi công đổ bộ.
Diêu Thái Khánh cùng các tướng thuộc hạ tập hợp cả trên soái thuyền. Họ mừng rỡ tiếp đón Tam hiệp lên chiến thuyền.

Diêu Thái Khánh hỏi :
- Ba vị đại hiệp nhận xét thấy điều gì lợi cho chúng ta không.
Chu Đức Kiệt thuật lại việc Lục Thủy trại của thảo khấu đóng ở phía sau Ngao Sơn.

Họ Diêu nói :
- Nếu vậy thì can chi quân ta đổ bộ lên Ngao Sơn Đầu? Kéo quân đánh bất ngờ Lục Thủy trại trong khi bộ quân Tế Nam phủ phá trùng vây. Hiện thời, mỗi chiến thuyền lớn có bốn thuyền nhỏ, toàn quân kéo đến khu có nhiều mô đá, xuống thuyền nhỏ lên bờ xông trận ngay chớ không nên cho chiến thuyền lớn vào khu lòng chảo, lỡ cần tháo lui thì khó bề xoay chuyển.

Chu Đức Kiệt nói :
- Tướng quân tính vậy được rồi, nhưng ai lãnh trách nhiệm liên lạc với đoàn quân Tế Nam báo cho Trương Bỉnh Hoa biết để đồng loạt tấn công? Giờ này, có lẽ bộ binh ấy đã tới một địa điểm nào chờ giờ xuất chiến.

Thái Khánh đáp :
- Việc này, lại phải nhờ đến Dương Thao vì Trương tham tướng biết mặt y rồi.

Đức Kiệt lắc đầu :
- Tính thế không xuôi. Sau vụ tên Hỏa Nhãn Hầu Tống Giao dùng kế Thiềm Thừ Thoát Xác, Trương tướng quân nghi ngờ dữ lắm. Bữa nọ y tin Dương Thao, là nhờ có chúng tôi cùng đi với Thao, nếu không thì cuộc tiến quân trễ tới mấy ngày vì cần phải kiểm soát.

- Nếu thế thì hành động sao được. Lúc này thủy quân chúng tôi cũng cần nhờ quý vị dẫn đường giúp sức.
Chu Đức Kiệt điềm tĩnh :
- Tướng quân an tâm hành động được.

Nhìn Lam Y, Bích Nữ, Đức Kiệt nói tiếp :
- Hiền muội đi cùng tẩu tẩu cho Dương Thao dẫn đường lên đại lộ Ngao Sơn Đầu tiếp xúc với bộ binh Tế Nam được không? Ngu huynh đi cùng thủy quân đánh Lục Thủy trại.
Hai nữ hiệp gật đầu đồng ý.

Diêu Thái Khánh nói :
- Chúng tôi phiền ba vị đại hiệp quá nhiều.

Lam Y mỉm cười :
- Anh em tôi hành động đây là nhân danh Thẩm tri huyện Bình Dương!
Nàng đẩy ghế đứng lên :
- Hành động ngay kẻo trễ. Chúng ta chỉ còn đủ thì giờ thôi.

Tức thì, Diêu Thái Khánh truyền các lệnh cần thiết.
Chư tướng thuộc hạ họ Diêu trở về thuyền chờ lệnh tiến.
Tam hiệp đem hành lý gởi sang bên soái thuyền.

Khi Lam Y, Bích Nữ cùng Dương Thao chống thuyền nhỏ vào bờ, Chu Đức Kiệt nhắn :
- Nếu gặp Đường Trại Nhi nên bắt sống thôi nhé, đừng giết nàng tội nghiệp!
Lam Y mỉm cười nhìn chị dâu.

Bích Nữ ừ hứ, bảo Đức Kiệt :
- Sẽ đem thủ cấp nó về cho Chu lang coi. Trái lại nếu bắt được nó ở Lục Thủy trại, Chu lang phải giữ nó lại chờ chúng tôi định đoạt.

Đức Kiệt phản đối :
- Nói thế sao được? Trong trường hợp ấy, Đường Trại Nhi sẽ là tù binh của quan quân chớ đâu của riêng chúng ta?

Bích Nữ cứng cổ :
- Miễn là Chu lang giữ nó lại. Thuộc ai, sau này sẽ hay.
Chu Đức Kiệt hạ giọng nói khẽ cho Lam Y, Bích Nữ đủ nghe :
- Hai người nên tiểu tâm nhé. Bọn Bạch Liên hay dùng tà thuật, có lẽ yêu nữ Đường Trại Nhi thạo môn đó lắm.

Lam Y gật đầu :
- Chuyến này là lần thứ nhất, chúng ta mới hoạt động riêng, mong hiền huynh cũng thận trọng. Tiểu muội muốn để tẩu tẩu đi cùng hiền huynh quá, nhưng lại e hiền huynh không bằng lòng.
- Hai chị em đi với nhau phải rồi. Bọn Hắc Vân Long kéo rốc lực lượng ra bao vây bộ binh Đức Châu có lẽ Lục Thủy trại chỉ còn đủ quân canh phòng thì sức kháng chiến của chúng không có gì đáng kể. Trái lại, ngu huynh thấy mặt trận Ngao Sơn Đầu nặng nề hơn.

Lam Y, Bích Nữ xuống thuyền, cùng Dương Thao vào bờ.
Diêu Thái Khánh cũng hạ lệnh cho đoàn chiến thuyền tiến.

° ° ° ° °

Nói về Hắc Vân Long, Tôn Hoàn, Đường Trại Nhi xuất toàn lực thảo khấu vây đánh tỉa dần bộ binh Đức Châu.


Lực lượng của Quán Bội Chấn yếu dần dần không chịu đựng được bao ngày nữa, thì quân cứu viện xuất phát từ Tế Nam phủ kéo tới Ngao Sơn trấn.
Hắc Vân Long được thám tử cấp báo, bèn họp bàn với Tôn, Đường hai người lựa phương kế chống trả.

Tôn Hoàn nói :
- Sở dĩ ta bao vây được bộ binh Đức Châu cũng nhờ ở sự chúng không ngờ quân lực của ta đóng ở Lục Thủy trại. Nay quan quân phái viện quân tới, trong đánh ra, ngoài đánh vào, lượng đầu thọ địch lẽ nào ta chịu như vậy? Hắc đại ca nên phái người dò xét cho kỹ càng, chừng nào viện quân kéo ra Ngao Sơn Đầu mà ta chưa hạ xong bộ binh Đức Châu, thì ta sẽ lặng lẽ rút quân qua hiểm lộ về Lục Thủy trại hoặc ẩn núp trong rừng Ngao Sơn. Quan quân tất tập hợp với nhau và đang khi chúng hoang mang, ta sẽ xuất kỳ bất ý đánh một trận, chắc chắn phải thắng.

Hắc Vân Long nói :
- Sao quân sư không phục kích bộ binh cứu viện ngay trên đường từ tiểu trấn ra Ngao Sơn Đầu?

Tôn Hoàn lắc đầu :
- Tướng chỉ huy viện quân có là trẻ nít đâu mà lừa y được dễ dàng như vậy! Trước khi tiến quân, tất y phải thăm đường, chia quân ra thành ba đội tiên phong, trung quân, hậu tập. Quân ta đánh một đầu tất bị hai đầu kia xả tới, có phải là tiến thoái lưỡng nan không? Chi bằng rút quân bao vây vào núi khiến đối phương nghi nghi hoặc hoặc, không biết ta biến đi đâu, hiện lúc nào. Nếu chúng rút đi, ta sẽ tập kích bất ngờ. Địch không lượng đoán được quân số của ta sẽ hoang mang sợ hãi, chỉ đánh một trận chúng bị tơi bời không kịp chạy ngay.

Đường Trại Nhi nói :
- Nếu Tôn quân sư và Đại đầu lãnh nhất quyết bỏ trùng vây, để phục kích đối phương trong núi, tôi sẽ lãnh trách nhiệm về giữ Lục Thủy trại, vì biết đâu địch quân không tiến cả hai mặt thủy lục?

Hắc Vân Long suy nghĩ giây lát :
- Nữ chúa muốn về Lục Thủy trại cũng được, nhưng không chắc đối phương sử dụng Thủy quân. Khả dĩ tin như vậy là vì các căn cứ thủy quân của Triều đình đều xa Ngao Sơn Đầu. Nhưng để phòng vệ, tôi yêu cầu nữ chủ đi lối lủm xuyên sơn về ngay Lục Thủy trại huy động một phần lớn chiến thuyền và lực lượng đó trấn đóng trong vịnh Ngao Sơn. Chẳng hay Tôn quân sư có đồng ý với tôi về quan điểm này không?

Tôn Hoàn khen ngợi :
- Đại đầu lãnh phân xuất như vậy quả rất hợp ý tôi, phàm con nhà tướng, ai cũng phải hành quân theo phương pháp binh thư.
Bởi vậy cho nên, hôm Trương tham tướng kéo đại quân từ tiểu trấn ra Ngao Sơn Đầu chỉ thấy có bộ binh Đức Châu đang hoang mang ngờ vực chỉnh đốn lại hàng ngũ sau nhiều ngày bị lọt trùng vây.

Trương Bỉnh Hoa tức khắc hội kiến cùng Quán Bội Chấn và hỏi rằng :
- Tặc binh rút cả đi đâu rồi?

Quán Bội Chấn đáp :
- Chập tối hôm qua, địch quân còn bao vây chặt chẽ, sáng hôm nay chúng biến đi đâu mất cả rồi. Có lẽ chúng nghe tin đại quân cứu viện của Tế Nam phủ tới, nên sợ hãi thừa dịp đêm tối rút đi hết để khỏi bị nội kích, ngoại tập.

Giữa lúc ấy thì các tiếng pháo lệnh đì đoành nổ từ xa vọng tới xen lẫn với tiếng reo hò văng vẳng của ba quân.

Quán Bội Chấn và Trương Bỉnh Hoa còn đang ngơ ngác thì thám tử phi mã quân về cấp báo rằng hai đoàn thuyền, quan quân và thủy khấu đang sát phạt dữ dội ngay tại duyên hải Ngao Sơn Đầu.

Quán Bội Chấn chưa kịp hỏi tin tức về đường thủy quân triều đình thì Trương tham tướng nói :
- Đó là thủy đoàn Kiều Châu thuộc quyền chỉ huy của Diêu Thái Khánh. Thủy đoàn ấy định đổ bộ nhưng có lẽ gặp thủy quân hải khấu nên hai bên giáp chiến.

Nói về Diêu Thái Khánh đang chỉ huy các chiến thuyền vượt qua mỏm đất Ngao Sơn Đầu thì bị thủy quân địch chặn đánh.

Đứng trên soái thuyền của Diêu Thái Khánh, Chu Đức Kiệt thấy dự tính đổ bộ lên Lục Thủy trại bị địch quân phá ngang, chàng bèn bảo Diêu Thái Khánh :
- Tôi ước lượng thủy quân địch đã kéo cả ra đây chặn đường tiến của ta, vậy Tướng quân hãy chỉ huy trận đánh này, và giao cho tôi vài chiến thuyền lớn để đến khu Lục Thủy trại xem sao.

Diêu Thái Khánh ưng thuận ngay và lập tức truyền lệnh cho ba chiến thuyền theo Chu Đức Kiệt tiến vào phía trại giặc.

Đứng từ soái thuyền, Đức Kiệt nhảy vút sang chiến thuyền của mình hạ lệnh cho đoàn thủy binh chèo mau.

Không bao lâu, ba chiến thuyền ấy đã lướt tới dẫy có nhiều mô đá.
Vừa hay lúc đó có năm chiến thuyền giặc lướt sóng tới như bay, chúng dàn thành hình chữ nhất sẵn sàng nghênh chiến.

Chu Đức Kiệt cũng dàn thế xung phong. Chàng hạ lệnh cho đoàn thuyền mình bơi hàng dọc vòng sang bên hữu và bắn tên vào tả dực địch quân. Từ trên ba chiến thuyền quan quân, tên bay vun vút như mưa rào, khiến bọn thủy tặc trúng tên khá nhiều.

Viên nữ tướng chỉ huy thuyền giặc cũng hạ lệnh cho cung thủ bắn lại nhưng ba chiến thuyền quan quân, đã lướt vòng ra phía sau áp mạn vào thuyền giặc.

Chu Đức Kiệt cầm Thất Tinh đao đứng ở mũi thuyền chỉ huy.

Chàng nhận ngay ra viên nữ tướng trên soái thuyền giặc là Đường Trại Nhi kiều diễm.

Đứng trên thuyền, Đường Trại Nhi cũng nhận ngay ra địch tướng là trang hảo hán tuấn kiệt mà nàng đã gặp ở Kim Lăng hồi nọ. Nàng liền vẫy tay gọi :
- Này, tráng sĩ Kim Lăng còn nhớ tôi không?

Chu Đức Kiệt trừng mắt nói lớn :
- Đường Trại Nhi! Người thoát chết nơi Kim Lăng, tưởng phải xa chạy cao bay, ngờ đâu lại trú ẩn nơi Ngao Sơn Đầu làm nữ hải tặc! Biết điều hãy buông kiếm lai hàng, nghịch với ta thì thủ cấp của ngươi khó bề đứng vững trên vai!

Đường Trại Nhi cầm ngang trường kiếm cười vang :
- Chà! Oan gia nói dễ dàng nhỉ? Biết điều theo ta thì muốn gì cũng được. Bằng như cố chấp tranh đấu, có giỏi sang đây cùng ta đấu trăm hiệp chơi?

Chu Đức Kiệt cười khẩy :
- Đừng có chạy nghe! Trừ khi ngươi trốn xuống thủy tề họa chăng mới thoát thân!

Dứt lời, chàng phi thân sang thuyền địch nhẹ nhàng như chiếc én mùa thu đáp xuống cuối thuyền địch. Từ đó chàng toan phi thân lên mũi thuyền nơi Đường Trại Nhi đang đứng, nhưng Đường Trại Nhi đã nhảy sà tới lia một nhát trường kiếm vào ngang sườn địch thủ.
Đức Kiệt hoa Thất Tinh đao gạt mạnh.

Đao qua kiếm lại vừa được vài hiệp, chợt Đường Trại Nhi vung tay tả liệng một vật gì trắng xóa vào mặt Đức Kiệt.
Tưởng có ám khí, Đức Kiệt đưa Thất Tinh đao gạt mạnh, chẳng dè vật trắng đó rách bung ra, một làn phấn trắng theo gió biển tạt hẳn vào mặt Chu Đức Kiệt.

Làn phấn ấy có mùi thơm dễ chịu nhưng Chu Đức Kiệt bị phấn tạt vào mũi vào mắt, ho sặc sụa. Chàng đưa tay tả lên dụi mắt nhưng, kỳ thay, chàng bỗng thấy đầu óc nặng trĩu, mắt hoa, sự vật quanh mình chàng đảo lộn, hai chân bủn rủn. Đức Kiệt té nhào ra sàn thuyền, thanh Thất Tinh đao rớt hẳn sang một bên.

Đường Trại Nhi cả mừng hô quân sát phạt dữ dội.

Đoàn chiến thuyền thủy tặc theo lệnh nữ chủ tướng vây chặt ba chiến thuyền quan quân vào giữa, nhưng ba chiến thuyền quan quân không người chỉ huy, như rắn mất đầu vội vàng bơi chạy.
Đường Trại Nhi hạ lệnh cho bốn chiến thuyền đuổi theo.

Trong khi đó, nàng bế sốc Chu Đức Kiệt và cầm Thất Tinh đao vào trong khoang thuyền.
Nàng nhẹ nhàng đặt Đức Kiệt xuống nệm gấm, vén mấy sợi tóc lòa xòa trên trán chàng tuấn kiệt Chu gia.

Đường Trại Nhi ngây ngất nhìn khuôn mặt đáng yêu đang thiêm thiếp mê man. Bỗng chợt nghĩ ra điều gì, Đường Trại Nhi lấy một cuộn dây da có tẩm dầu trói gô tứ chi Chu Đức Kiệt lại. Đoạn nàng cởi bao Thất Tinh đao, tra đao vào bỏ và đeo luôn vào ngang hông.

Đường Trại Nhi lấy trong túi ra gói thuốc bột khều chút ít ra bàn tay rồi thổi vào mũi Đức Kiệt.
Sau đó, Đường Trại Nhi trở ra mũi thuyền truyền lệnh thâu quân, mặc cho chiến thuyền quan quân bơi chạy về phía Ngao Sơn Đầu họp với đại đoàn lúc đó còn đang hỗn chiến tơi bời với chiến thuyền thủy tặc.

Có hơn mười chiến thuyền bị cháy, hoặc đâm phải nhau bể hông đắm. Nơi đó, mực nước không sâu lắm nên các cột thuyền còn trồi lên khỏi mặt nước. Chiến binh đôi bên lóp ngóp bơi về chiến thuyền nhà, hoặc cũng có toán bơi tán loạn vào bờ.

Đầu lãnh thủy khấu là Lục Định Kính thấy đoàn thủy thủ lục quan quân thiện chiến và bên mình thiệt hại nhiều bèn ra lệnh thâu quân bơi thẳng ra khơi.

Thừa thế, Diêu Thái Khánh truyền lệnh đuổi theo truy kích nhưng không kịp, thuyền giặc nhỏ hơn bơi lẹ hơn, nên thâu quân về Ngao Sơn Đầu.

Lúc ấy, viên thuyền trưởng chiếc thuyền chở Chu Đức Kiệt hồi nãy mới sang được soái thuyền báo cáo vụ áp mạn năm chiếc thuyền giặc và Đức Kiệt nhảy sang thuyền giặc giao đấu cùng nữ hải tặc trúng “Mê Hồn phấn” bị nữ tặc bắt mang đi. Thấy nữ tặc dùng thuật lợi hại, quan quân không dám nghinh chiến nữa bỏ chạy về cấp báo.

Diêu Thái Khánh không hiểu bộ quân Tế Nam phủ xung trận kết quả thế nào vì mặt trận ở sâu trên lục địa, nên hạ lệnh cho viên thuyền trưởng neo thuyền của y lại bến Ngao Sơn Đầu, và y lên bờ liên lạc với bộ quân tìm Lam Y nữ hiệp và Chu phu nhân báo cho biết việc Đức Kiệt thất trận bị bắt.

Diêu Thái Khánh nghĩ thầm chắc Đức Kiệt bị giặc đem về Lục Thủy trại bèn truyền lệnh cho hai thủy thủ đã đi với Chu gia hồi sáng sớm sang soái thuyền chỉ đường, rồi đốc xuất đại đoàn rẽ sóng tiến về hướng trại giặc quyết đổ bộ tiếp cứu.

Khi vừa tới khu có nhiều mô đá, thì đoàn thuyền của Lục Định Kính đã neo đầy cả trước lối vào Lục Thủy trại.
Hai bên cùng nổ pháo lệnh xung phong giao chiến một trận thật kinh khủng.

Nhờ ở sức thuyền lớn, chắc chắn hơn thuyền giặc nên quan quân xông mạnh, áp mặt đánh giáp lá cà giữa tiếng trận thúc giục vì tiếng la hò xung phong dậy cả một góc trời.
Chiến thuyền bơi qua lại ngả nghiêng gây sóng lớn, nước bắn tung tóe như giữa cơn bão táp thiên nhiên.

Đầu lãnh thủy tặc Lục Định Kính là một tên rất gan dạ thấy quân mình yếu thế thiệt hại nhiều nhưng nếu không liều mạnh xung trận tất quan quân sẽ vào Lục Thủy trại.

Nghĩ vậy, Lục Định Kính hạ lệnh cho thủy thủ thuyền mình tiến thẳng vào soái thuyền quan quân áp mạn quyết đấu với tướng chỉ huy. Hạ được viên chỉ huy, quan thuyền tất tan vỡ.
Hai mạn thuyền quan và địch va phải nhau chuyển động.

Lục Định Kính tay mộc tay đao, nhảy sang soái thuyền. Bọn thủy quân thấy chủ tướng xông xáo, cũng hô nhau nhảy bừa sang theo bị quan quân chống trả kịch liệt.

Diêu Thái Khánh thấy tướng chỉ huy lợi hại cũng cầm dùi sắt nhảy tới đón đánh.
Hai tướng đồng sức đồng tài soắn lấy nhau, chiến đấu ngay trên sàn mũi soái thuyền, bên nào cũng hầm hè như hổ đói quyết hạ lẫn nhau. Cả hai cùng biết rằng nếu thất trận tức là cả đoàn chiến thuyền cùng bị đối phương đàn áp cho tan rả theo. Vậy trận đấu ấy tuy chỉ có hai người nhưng là trận định đoạt số mệnh cả một đoàn chiến thuyền.

Lối đánh đoản đao và lá chắn của Lục Định Kính lợi hại bao nhiêu, thì phép sử dụng ngọn dùi sắt của Diêu Thái Khánh cũng linh diệu bấy nhiêu.

Trận đấu tuy diễn ra thật khủng khiếp, hai món khí giới va vào nhau chát nảy lửa. Hai chiến tướng càng hăng hái dữ tợn.

Quân hai bên xung phong loạn xạ trên hai chiến thuyền lớn áp mạn. Trận hỗn đấu tiếp diễn khắp mọi nơi.

Bỗng có một chiếc quan thuyền từ phía Ngao Sơn Đầu lướt tới như bay xông thẳng vào vòng chiến. Chiến thuyền ấy nhằm soái thuyền tiến tới.

Trên mũi thuyền, hai cô gái võ phục màu lam và đỏ thẫm, tay cầm trường kiếm sáng ngời phi thân sang thuyền nhẹ như én liệng.

Đó là Lam Y nữ hiệp và Âu Dương Bích Nữ nghe báo tin Chu Đức Kiệt lâm nạn vội vàng bỏ quân ra bến Ngao Sơn Đầu bảo thuyền trưởng hạ lệnh cho thủy thủ dùng toàn lực chèo nhanh tiến sang phía Lục Thủy trại là nơi mà hai nàng cho là Đường Trại Nhi đem Chu Đức Kiệt về giam cầm.

Hai nữ hiệp cùng nóng ruột đi lại trên mũi thuyền.

Lam Y khó chịu :
- Phải chăng là đất liền, ta dùng thuật phi hành lẹ hơn nhiều! Thủy chiến dở quá, xoay sở khó khăn!
Âu Dương Bích Nữ máu bốc lên mặt đỏ nhừ, mắt phượng xếch ngược dữ dội. Nàng cau có :
- Hừ! Con yêu nữ Đường Trại Nhi này ghê gớm thật! Dám bắt Chu lang! Chuyến này ta quyết gặp mi và xé tan xác mi ra thành từng mảnh!

Nàng quay lại hỏi Lam Y :
- Bản lãnh con đó thế nào?
- Có giáp chiến với nó chuyến nào đâu mà biết? Dù sao cũng có thể dự đoán được. Tỉ dụ công phu luyện tập của nó đạt mức cao siêu nhưng dâm loạn như nó thì giữ mức siêu việt sao được. Chu huynh vô tình bị bắt chớ đâu vì kém nó! Tiểu muội đã nói trước là bọn Bạch Liên giáo hay dùng yêu pháp mà!

Âu Dương Bích Nữ nói :
- Trong trường hợp mà Chu lang bị Trại Nhi bắt đây không phải là vì yêu thuật. Viên thuyền trưởng nói rằng Chu lang đưa đao gạt bụi phấn hay mù, chàng bị sặc sụa và lảo đảo té quỵ xuống sàn thuyền địch. Tức là Trại Nhi dùng “Mê Hồn phấn” chi đó chớ không phải là yêu thuật bàng môn tả đạo.

Dứt lời, nàng vẫy viên thuyền trưởng đứng ở cuối thuyền chỉ huy thủy thủ gắng chèo.

Viên thuyền trưởng tới nơi, Âu Dương Bích Nữ gặng hỏi :
- Thuyền trưởng chắc chắn rằng Chu hiệp trúng bụi phấn té nằm lịm ngay chớ?
- Thưa tôi theo dõi trận đấu nên trông rõ lắm. Vừa giao đấu chưa được vài hiệp, thì nữ hải tặc liệng thẳng vật gì nhằm mặt Chu hiệp. Chu hiệp đưa đao gạt trúng vật đó và bị mê man luôn. Chỉ có thế thôi. Chúng tôi muốn tiếp cứu nhưng phần thủy tặc đông hơn, bên ta có người bị bắt nên quân binh hoang mang có đánh chắc chắn cũng bất lợi, chúng tôi đành rút về báo. Xin phu nhân an tâm, tôi chắc chắn nữ tặc chỉ bắt sống Chu hiệp chớ không hạ sát đâu.

Âu Dương Bích Nữ hỏi thêm :
- Căn cứ vào đâu thuyền trưởng nói là con yêu nữ ấy cố ý bắt sống Chu hiệp?
Thuyền trưởng cả quyết :
- Tôi ngoái nhìn xem nữ tặc hành động thế nào, thì thấy nó cúi xuống lượm thanh đơn đao đoạn bế bổng Chu hiệp lên ngực đi thẳng vào khoang thuyền...

Âu Dương Bích Nữ ngắt lời :
- Nó bế thẳng vào khoang thuyền?
Thuyền trưởng gật đầu :
- Quả đúng như thế. Tôi trông thấy rõ ràng.

Âu Dương Bích Nữ gần như gắt gỏng :
- Thôi, cảm ơn, tôi biết thế đủ rồi.
Viên Thuyền trưởng ngơ ngác không hiểu gì cả vì lẽ gì Chu phu nhân hay hỏi gặn và chuyến nào tới đoạn này là cũng tỏ ý khó chịu gắt gỏng.

Y trở về cuối thuyền tiếp tục thúc thủy thủ chèo lẹ.

Âu Dương Bích Nữ lẩm bẩm :
- Trong nhiều trận đánh, Chu lang thường hay né tránh ám khí địch chớ không bắt hay gạt. Cớ sao chuyến này lại gạt để trúng mẹo của Đường Trại Nhi? Nghĩ càng thêm bực!

Lam Y nói :
- Chu huynh không né tránh cũng dễ hiểu lắm: hoặc vì sàn thuyền chật chội hoặc vì Trại Nhi dụng ý liệng túi “Mê Hồn phấn” rất gần. Chu huynh vô tình tưởng ám khí đưa lưỡi đao chặt túi phấn bị tung ra. Trúng độc, Chu huynh choáng váng mê liền. Tiểu muội nghe thứ “Mê Hồn phấn” của bọn Bạch Liên giáo còn mạnh hơn cả “Mông Hãn dược” rất nhiều. Bực quá! Lần thứ nhất hành động xa nhau thì trúng ngay buổi không may mắn này.

Chiến thuyền lướt như bay, không mấy chốc đã tới khu mô đá và trận thủy chiến đang diễn ra ở phía trước.

Âu Dương Bích Nữ nghiến răng kèn kẹt :
- A! Có lẽ yêu nữ Trại Nhi có trong trận chăng? Bắt được nó là thấy Chu lang.
Nàng rút phắt Trảm Lư trường kiếm ra, chém gió mấy lát, kiếm quang chớp nhoáng, rít lên như tiếng lụa xé.

Nàng quay về phía cuối chiến thuyền nói lớn :
- Thuyền trưởng lái thẳng vào trận, nhằm soái thuyền tiến tới! Phải chăng thuyền giặc có kỳ hiệu chỉ huy kia là thuyền nữ hải tặc?
- Không phải! Mũi thuyền kia chạm hình đầu rồng và hiệu kỳ màu đỏ. Tôi nhận kỹ không thấy chiến thuyền đó trong đoàn đang xung phong này.

Lam Y lên tiếng :
- Được! Ta cứ nhập trận, sau sẽ hay.
Chiếc chiến thuyền của hai nữ hiệp lướt thẳng vào giữa trận nhằm thuyền chỉ huy của giặc áp mạn.

Lam Y, Âu Dương Bích Nữ nhìn qua trận đấu giữa Diêu Thái Khánh và tướng giặc Lục Định Kính khen thầm hai người cùng khá, đối thủ ngang tay.

Lam Y nhất quyết :
- Chờ hai tay ngang này thua được còn lâu lắm, ta phải giúp Diêu Thái Khánh cho lệch trận chiến đi mới được!

Dứt lời, Lam Y rút trong túi Bát bảo ra một ngọn Liễu Diệp phi đao chờ đúng tầm tay phóng mạnh.
Mũi phi đao sáng loáng bay sang chiến thuyền địch như một vết chớp cắm phập vào bọng chân tả tặc tướng khiến y đau quá la lớn, rồi lăn kềnh ra sàn thuyền vừa vặn tránh được mũi dùi sắt của Diêu Thái Khánh đâm nhằm cổ y.

Không hiểu tại sao Lục Định Kính lại bỗng dưng té như vậy trong lúc y còn giao tranh mãnh liệt, Diêu Thái Khánh lợi thế, ham đòn, quật luôn mũi ngọn dùi vào ngang vai tặc tướng. Lục Định Kính đau đớn quá rời hẳn tay đao.

Thái Khánh mừng rỡ giơ cao khí giới định kết quả đời tặc khấu, thì Lam Y, Âu Dương Bích Nữ đã nhảy vút sang thuyền.
Lam Y vội hô lớn :
- Diêu tướng quân ngưng tay! Bắt sống nó hơn là giết nó!

Diêu Thái Khánh vội quay lại nhận ra là người nhà, bèn hô quân xô tới trói tròn Lục Định Kính lại.
Bọn thủy khấu như rắn mất đầu vội vàng nhảy ào xuống biển bơi chạy.
Âu Dương Bích Nữ lẹ tay nhảy tới tóm gáy một tên bóp mạnh. Tên ấy đau quá như kẻ bị gọng kềm sắt cặp trúng gáy liền van lạy xin tha.

Âu Dương Bích Nữ quát :
- Con nữ chủ Đường Trại Nhi đâu?

Tên thủy khấu run rẩy :
- Con theo chủ tướng dư trận ở Ngao Sơn Đầu, sau bơi ra khỏi vòng về đây chỉnh đốn lại chiến đoàn định kéo về Ngao Sơn Đầu dự chiến nữa, chẳng ngờ gặp quan thuyền ngay ở khúc này. Thực thà con không biết chiến thuyền riêng của Nữ chủ hiện thời ở đâu.

Âu Dương Bích Nữ điên tiết siết mạnh hơn khiến tên thủy khấu đau quá kêu rống lên như heo bị chọc tiết :
- Ngươi dám chối! Lẽ nào không biết Đường Trại Nhi ở đâu?
Tên giặc biển hoảng quá :
- Thực là con không biết xin nữ tướng kiếm thử trong Lục Thủy trại xem sao.
- Được, ngươi sẽ biết ta, nếu nói sai!

Nàng quay lại phía Lam Y :
- Ta trở về thuyền để vào Lục Thủy trại đi, cô muội? Có lẽ con yêu nữ ở trong đó.

Diêu Thái Khánh nói với hai nữ hiệp :
- Vừa nghe báo Chu đại hiệp trúng “Mê Hồn phấn” của nữ tặc, tôi vội cho thuyền trưởng đổ bộ đi báo với nhị vị, và kéo rốc chiến thuyền đến đây tìm Lục Thủy trại định ý cứu Chu hiệp thì gặp ngay thuyền địch và khởi trận giao tranh tại chỗ. Nhị vị chờ chốc lát kết thúc nốt trận này rồi cùng đổ bộ Lục Thủy trại cho chắc chắn.

Lam Y nói :
- Chúng tôi cần vào đó trước tìm chiến thuyền Đường Trại Nhi, trì trể bất lợi. Vậy Diêu tướng quân cứ tiếp tục phá tan thủy quân tặc khấu đi rồi đổ bộ Lục Thủy trại sau.

Nói đoạn, Lam Y cùng Âu Dương Bích Nữ xách tên giặc nhảy về thuyền mình bảo thuyền trưởng điều khiển thuyền vào Lục Thủy trại theo sự hướng dẫn của tên tù binh.

Con thuyền lướt nhanh rời hẳn khu thủy chiến hỗn loạn độ sáu, bảy trăm sải tay nữa là tới một khúc thưa hẳn các mô đá. Quãng trống khá rộng, chiến thuyền lớn có thể điều khiển ra vào dễ dàng ở khúc đó được.
Sở dĩ thủy khấu không đặt vọng lâu canh phòng ngay trên mô đá gần chỗ ra vào là vì đoàn chiến thuyền của chúng đóng ngay gần đấy.

Lam Y hỏi tên tù binh :
- Lục Thủy trại hiện còn bao nhiêu quân giặc?
- Thưa, hiện tại chỉ có vài nơi canh phòng, mỗi nơi có độ mươi người là cùng. Còn toàn lực là thủy quân và bộ quân. Bộ quân thì đã đi đường hiểm qua núi đánh trận ở phía bên kia rồi.

Lam Y quắc mắt :
- Lẽ nào bọn giặc chúng bây lại bỏ trống khu trại ấy sao?
Tên tù binh sợ hãi :
- Thưa nhị vị nữ tướng, con không nói thế. Nơi đây là chỗ đóng quân, có nhà riêng của các đầu lãnh. Người nào có gia đình cũng ở luôn cả đây. Hiện thời, đại đầu lãnh tuy kéo hết quân qua bên kia Ngao Sơn xuất trận nhưng trong Lục Thủy trại vẫn còn nhiều gia đình binh sĩ ở.

Thấy trong bến chỉ có vài chiến thuyền nhỏ neo bờ cát, Âu Dương Bích Nữ nóng ruột bảo Lam Y :
- Đoàn chiến thuyền của Đường Trại Nhi có năm chiếc lớn, hiện thời không neo ở đây tức là con yêu nữ ấy không về trại này, ta vào làm chi thêm mất thì giờ?

Nghe vậy, Lam Y nhìn trừng trừng tên thủy khấu khiến tên này ngại nói quá luôn :
- Nếu năm chiến thuyền đó không neo ở Lục Thủy trại và cũng không đóng ở Ngao Sơn Đầu tức là kéo cả về Linh Sơn đảo rồi. Nhị vị nữ tướng cần ra đảo ấy con xin dẫn đường.

Lam Y bảo tên tù binh :
- Từ đây ra Linh Sơn đảo còn bao xa nữa?
- Thưa, còn non sáu hải lý, chênh chếnh với mé biển chớ không xa tít ngoài khơi.

Âu Dương Bích Nữ quay lại hỏi thuyền trường :
- Ta có đủ sức chèo như vậy không? Lương thực thế nào?

Viên thuyền trưởng đáp :
- Lương khô đầy đủ chuẩn bị dư tới mấy ngày. Lượt đi, lượt về gọi dư ra là mười lăm hải lý, mười tay chèo của thuyền ta thừa sức, nhị vị đại hiệp yên trí. Ngại một điều là ta không hiểu lực lượng của giặc ngoài đảo ấy thế nào, đi một thuyền ra đó lỡ chúng cậy đông đón đánh thì sao?

Lam Y nói :
- Không lo! Thuyền trưởng lái thuyền trở ra, tôi nhắn Diêu tướng quân tiếp ứng.
Trận thủy chiến đã chấm dứt. Đoàn quân thuyền đang dồn theo hàng lối dàn trên mặt biển, chiếc soái thuyền đứng hàng đầu.

Thấy thuyền của Lam Y, Âu Dương Bích Nữ trở ra, Diên Thái Khánh đứng trên thuyền hỏi lớn :
- Nhị vị cần thêm chiến thuyền? Tôi sửa soạn đổ bộ Lục Thủy trại đây.

Lam Y đáp :
- Chúng tôi không thấy đoàn năm chiến thuyền của Trại Nhi nên không lên bờ. Bây giờ tôi ra Linh Sơn đảo nên muốn hỏi ý kiến Tướng quân về việc tiếp ứng?
- Không khó! Tôi phái ngay mười chiến thuyền theo nhị vị ra Linh Sơn đảo bây giờ. Phần tôi đổ bộ xong Lục Thủy trại sẽ theo ngoài đảo ra tiếp ứng sau?

Lam Y nhận lời, Diêu Thái Khánh hạ lệnh tức thì cho mười một chiến thuyền cộng với chiếc Lam Y đang dùng là mười hai, trao quyền chỉ huy đoàn hải hạm ấy cho Cao Kiến Tường theo giúp hai nữ hiệp ra Linh Sơn đảo.
Chiếc thuyền Lam Y bơi trước chỉ đường.

Đoàn thuyền ngạo nghễ lướt nhẹ trên mặt đại dương như đoàn kình ngư đạp sóng.
Cao Kiến Tường kéo cờ hiệu ban lệnh dương buồm.

Gió biển xuôi chiều thổi phùng mười hai cánh buồm lớn sơn đen đẩy thuyền lướt sóng như bay nhằm nẻo Linh Sơn đảo.

Lam Y, Âu Dương Bích Nữ chưa cứu được Chu Đức Kiệt, lòng dạ bồn chồn, đứng ngồi không yên.
Hai nàng dựa khuỷu tay xuống đầu mũi thuyền, đăm chiêu nhìn chân trời xa tắp ngàn trùng mây nước lẫn lộn một màu xanh thẳm.

Luôn mấy năm nay Chu Đức Kiệt, Lam Y, Âu Dương Bích Nữ hợp thành khối Tam hiệp hoạt động chung trên bước đường du hành, lúc ở nơi thị thành hoa lệ, khi nhập chốn thâm sơn rừng núi chập chùng.
Ba người luôn luôn sát cánh thế thiên hành đạo vào sanh ra tử cũng đã nhiều phen, lưỡi gươm kiếm sĩ, vì công lý đã từng uống máu không biết bao nhiêu tham quan ô lại, ác bá cường hào, lục lâm cường tặc trăm trận đánh trăm trận được, vậy mà giờ đây Đức Kiệt có lẽ đang mê man bất tỉnh dưới quyên sanh sát của Đường Trại Nhi.

Hai nữ hiệp chung lo âu nhưng mỗi người một tâm sự khác nhau.

Lam Y là em ruột của chàng hiệp sĩ tài ba tuấn kiệt. Nàng hiểu rõ hơn ai hết tài nghệ của anh nàng.
Sức bạt sơn cử đảnh của Đức Kiệt đang buổi hoa niên, thêm vào sức dũng mãnh phi thường ấy, chàng hiệp sĩ hào hoa còn thọ hưởng được lối đao pháp gia truyền danh vang đất Bắc và công phu điêu luyện. Chàng đã từng so tài cùng không biết bao nhiêu hảo hán giang hồ, lục lâm cường đạo, mỗi lần trổ công phu giao đấu là một lần đối phương của chàng phải thất đảm kinh hồn.

Vậy mà giờ đây chàng hiệp sĩ bách chiến bách thắng ấy đang nằm gọn dưới quyền sanh sát của Trại Nhi một thủ lãnh lợi hại của Bạch Liên giáo.

Bản lãnh của Đường Trại Nhi thế nào, Lam Y chưa có dịp cùng nàng ta so kiếm nên không biết, nhưng không phải vì thế mà Lam Y nghĩ rằng Trại Nhi đủ sức đương đầu cùng Đức Kiệt.
Trại Nhi đã dùng “Mê Hồn phấn” bắt Chu Đức Kiệt.

Bắt để hành hạ, để thủ tiêu trả thù việc chàng nhúng tay vào vụ Kim Lăng chăng?
Thiệt ra giữa Trại Nhi và Đức Kiệt không có gì đáng gọi là thù. Vụ Kim Lăng không đủ hiệu lực để Trại Nhi phải theo đuổi cố tình bắt Đức Kiệt để trả thù.

Chữ “thù” đã bị loại ra thì chỉ còn sự kiện thứ hai nữa là Đường Trại Nhi - vốn tánh lẳng lơ - mê luyến Đức Kiệt hơn là ghét bỏ chàng.
Bởi vậy, Trại Nhi mới dụng ý bắt sống người mà nàng hằng mê luyến, hằng ước mong được ở bên để trao đổi tâm tình.
Trại Nhi cậy có sắc đẹp tưởng Đức Kiệt cũng như các chàng trai khác dễ bị nàng chinh phục. Khi hết say phấn mê hồn. Trại Nhi sẽ biết rõ Đức Kiệt là con người thế nào.

Chưa biết chừng, chàng sẽ dùng tài sức tùy cơ ứng biến bắt Đường Trại Nhi đem về Ngao Sơn Đầu.
Dù sao, suy tính kỹ càng, Lam Y chắc chắn Đường Trại Nhi chưa tới lúc muốn sát hại hoặc để cho kẻ khác sát hại anh nàng. Họ Đường còn rất đỗi mê luyến Đức Kiệt. Vậy trong thời gian gần đây còn cần phải dụ dỗ thì chưa dám hại chàng.

Cũng nghĩ ngợi lo âu về Đức Kiệt, Âu Dương Bích Nữ băn khoăn giữa trạng thái: lo và ghen.
Nàng lo vì người chồng mà nàng tôn kính yêu thương đang bị đối phương giam hãm.
Đối phương đó là ai? Là thiếu phụ đã bao lâu nay mê luyến chồng nàng.

Âu Dương Bích Nữ tuy không nói ra miệng nhưng hiểu rằng Đường Trại Nhi dám bỏ hết mọi sự để theo Đức Kiệt.
Nàng ghen chẳng phải vì không tin ở mối tình đằm thắm thủy chung của người chồng quân tử như Chu Đức Kiệt, nhưng nàng vốn đã ghét sẵn Đường Trại Nhi là hạng dâm đãng nên không ưa việc Trại Nhi để ý tới chồng nàng.

Giờ đây, Đức Kiệt bị Trại Nhi dùng “Mê Hồn phấn” bắt, thì cũng có thể chàng sẽ bị kẻ kia lừa dỗ cho uống thứ thuốc nào đó đến nỗi mất hết lương tri, chiều theo sự đòi hỏi của Trại Nhi.

Họ Đường là một nhân vật quan trọng của một giáo phái nổi danh về bùa thuốc, tất phải biết đủ nội, ngoại khoa. Nàng ta sẽ không ngần ngại dùng đủ mọi phương pháp để thỏa mãn tà tánh.
Âu Dương Bích Nữ e ngại là vì lý do tà đạo của Trại Nhi, thiệt ra nếu họ Đường dụ dỗ một cách đàng hoàng thì nàng lại không lo. Nàng hiểu Đức Kiệt rất quân tử chính khí. Trại Nhi đẹp quyến rũ đa tình, khéo léo cũng không nghĩa lý gì.

Căn cứ vào việc Đường Trại Nhi quyến rũ Hoàng Bách Thắng ở Kim Lăng, buộc y quyết tâm dấy quân mau lẹ khởi phản, sau đó nàng thấy tình thế biến chuyển bất lợi cho phe Ngũ Hổ Tướng, nàng không hề do dự rủ Tôn Hoàn bỏ đi ngay từ lúc khởi chiến trong Vương phủ.

Nhờ sự suy tính xác đáng, mau lẹ và cả quyết, Trại Nhi đã cứu thoát Tôn Hoàn và cả hai cùng thoát khỏi lò lửa Kim Lăng rất dễ dàng.

Nàng dùng phấn mê hồn bắt được Đức Kiệt là người mà Trại Nhi say mê ham muốn, nhưng cũng là kẻ thù không những riêng vì về vụ Vương phủ Kim Lăng mà còn của toàn phái Bạch Liên, một khi thấy dụ dỗ không được Trại Nhi dám cả quyết sát hại Đức Kiệt ngay để tránh hậu họa.

Âu Dương Bích Nữ lo nhất về điểm này. Nàng đứng ngồi không yên, ước mong chiến thuyền đang lướt sóng kia mọc thêm cánh bay cho mau lẹ tới Linh Sơn đảo tìm chồng nàng. Mà có chắc rằng Trại Nhi ra Linh Sơn đảo không? Hay sẵn thuyền lớn, lương thực tiền bạc đầy đủ, Trại Nhi dọc theo bờ biển xuôi thẳng về Nam đem Đức Kiệt đi khỏi đất Sơn Đông?

Nghĩ tới đây, Âu Dương Bích Nữ không khỏi rùng mình lo ngại.
Nàng thấy Lam Y đang đăm chiêu nhìn trời biển mênh mông bèn hỏi :
- Cô muội! Nếu yêu nữ Trại Nhi không ra Linh Sơn đảo thì ta làm thế nào?

Lam Y uể oải quay lại, dựa tay vào đầu chiến thuyền nhìn chị dâu :
- Ở Ngao Sơn Đầu, Lục Thủy trại ta đều không thấy thuyền của Đường Trại Nhi. Nay ra Linh Sơn đảo nếu cũng không thấy nốt, tiểu muội dám tin rằng Trại Nhi bỏ đi nơi khác. Nó cả quyết, suy tính mau lẹ lắm.

Âu Dương Bích Nữ ngại lo :
- Trong trường hợp Trại Nhi bỏ đi như vụ nó bỏ Vương phủ Kim Lăng, cô muội tính nó xuôi thuyền về phương nào?
- Chắc xuôi Nam. Tiểu muội tính nó chỉ sống nổi ở miền Nam thôi. Theo dọc biển này lên Bắc vào đất Trực Lệ hay Liêu Đông, Đường Trại Nhi khó bề hoạt động. Lát nữa tới Linh Sơn đảo, nếu không thấy Trại Nhi, ta sẽ tra xét xem nó đi đường nào và sẵn thuyền đây, chị em ta đuổi theo luôn. Trại Nhi không đi trước ta bao nhiêu đường đất đâu mà lo!

Trước sự quyết định của Lam Y, Âu Dương Bích Nữ cảm thấy an tâm được phần nào.
Nói về Đường Trại Nhi khi bắt được Chu Đức Kiệt thì tính toán ngay những công việc phải làm.
Nàng thổi thêm Mê Hồn phấn vào mũi Đức Kiệt, hạ lệnh thâu quân kéo đoàn thuyền thuộc quyền nàng cai quản lướt sóng chỉ nẻo Linh Sơn đảo.

Trại Nhi suy tính rất chặt chẽ. Sở dĩ nàng cùng Tôn Hoàn lên đất Sơn Đông ra tận miền duyên hải Ngao Sơn Đầu cũng không ngoài mục đích tìm nơi dong thân.
Nàng đã lựa đúng chỗ và từ địa vị một người khách, nàng trở thành Nữ chủ Bạch Liên giáo, lung lạc Hắc Vân Long gây bề thế vững chãi tại đó.

Nếu cuộc đời cứ kéo dài như vậy thì Trại Nhi cũng mãn nguyện tiếp tục ở mãi tuy đã nhiều lần Tôn Hoàn tính với nàng ra đi kiếm một nơi nào khả dĩ an thân nhàn trí. Tôn Hoàn tính như vậy là vì y yêu thương nàng, cũng muốn nàng biệt lập. Nhưng Trại Nhi không nghĩ vậy.

Lúc ở Vương phủ Kim Lăng, nàng hứa sẽ biệt lập riêng sống với Tôn Hoàn không ngoài mục đích dụ dỗ họ Tôn bàn tính cùng Hoàng Bách Thắng mau lẹ khởi phản để Bạch Liên giáo lợi dụng tình thế mà lan tràn truyền giáo, củng cố vị trí.

Tôn Hoàn không phải là con người nàng mong muốn cùng nhau chung sống đời đời. Trại Nhi sẽ bỏ Kim Lăng về Hồ Nam tiếp tục giúp Cố giáo chủ sau khi Thuận Vương khởi phản được thuận lợi, nghĩa là lợi dụng xong Tôn Hoàn là bỏ đi không hề luyến tiếc.

Nhưng cơ sự đã biến đổi trái ngược hẳn lại.
Lực lượng Kim Lăng bị tan vỡ. Trại Nhi tính trở về Hồ Nam cũng vị tất đã an thân, nên rủ Tôn Hoàn chạy trốn cho có bạn đồng hành đỡ cô quạnh. Và cũng trong thời gian cùng nhau luân lạc ấy, Đường Trại Nhi mới thực thà thân thiết với Tôn Hoàn.

Lên địa hạt Sơn Đông, Trại Nhi gây được bề thế cho chính nàng và cho Tôn Hoàn, nàng lại cảm thấy ham muốn cuộc đời hỗn loạn luôn được thỏa mãn và thay đổi như trước.
Tới khi quan quân Đức Châu kéo tới chinh phạt. Tuy bày mưu tính kế chống chọi, thắng lợi, Trại Nhi đã thấy ngay sự khó bề ở vĩnh viễn nơi Ngao Sơn Đầu và Linh Sơn đảo.

Hiện thời lực lượng quan binh nguy khốn thiệt, nhưng rồi đây Tế Nam phủ đâu có chịu nhận cuộc thất bại ấy? Tế Nam sẽ phái trại quân cứu viện bộ binh Đức Châu và khởi cuộc quân tiễu khấu đại quy mô, thì dù lực lượng của Hắc Vân Long mạnh mẽ đến đâu cũng không ra vòng thảo khấu, một ngày kia sẽ tan rã như thường.

So với binh lực của Thuận Vương khi trước, lực lượng của họ Hắc quả không có gì đáng kể trước số quân vô tận của triều đình một khi đã nhất quyết chinh phạt.

Tôn Hoàn, Hắc Vân Long không thể nào dự đoán được ý định thầm kín của Đường Trại Nhi trong cuộc chống chọi với quan quân. Tuy vẫn cùng mọi người bày mưu tính kế chống lại đối phương, nhưng nàng tin rằng “vận mệnh” của Hắc Vân Long ở Ngao Sơn Đầu sắp chấm dứt, bởi vậy lúc nào nàng cũng sẵn sàng bỏ đi nếu xảy ra đại biến.

Ngay từ khi mới đến Ngao Sơn Đầu, Trại Nhi củng cố xong địa vị là nàng bắt đầu sửa soạn đường lối, cách thức phương tiện rút lui nếu Ngao Sơn Đầu hay Linh Sơn đảo ở trong tình trạng nguy hiểm.
Theo lời nàng yêu cầu “Thủy thừa thuyền, Bộ kỵ mã”. Hắc Vân Long để nàng sử dụng một chiến thuyền lớn chạm trổ đầu rồng sơn đen, thuyền lấy tên là Hắc Long, ngụ ý rằng do Hắc Vân Long tặng nàng.

Chiếc Hắc Long không những đã lớn mà còn được trang bị thiệt đầy đủ, ngăn nắp có thể ra khơi được nhiều ngày và không sợ sóng to gió lớn.
Khoang thuyền bày trí thành một thư phòng rộng rãi, thanh nhã dành riêng cho Đường Trại Nhi. Các thủy thủ và hỏa đầu ở dưới hầm thuyền trang bị ngăn nắp đàng hoàng.

Chính trên chiếc Hắc Long này, trong một cuộc ra khơi thăm thú đại dương cùng Hắc Vân Long, Đường Trại Nhi đã thừa dịp tư thông cùng họ Hắc trong khi Tôn Hoàn bận giảng giáo tại Lục Thủy trại.
Linh Sơn là một đảo nhỏ có cây xanh, nước ngọt. Dân trên đảo toàn là gia đình ngư phủ di cư đã mấy đời nay rồi, từ Ngao Sơn ra đảo ấy họp thành hai làng chài lưới khá đông đúc.

Làng Tây Hải Đầu được xây dựng sau một mũi đá lớn nhô ra ngoài biển. Nhờ mũi đá thiên nhiên này hàng năm đến mùa bão táp dân ngư phủ Tây Hải Đầu không bị tai hại, luồng gió chuyển thổi từ phương Bắc tới, mà phương ấy đã có mũi đá cao sừng sững như tấm bình phong che chở cho Tây Hải Đầu vô sự.

Trái lại với Tây Hải Đầu, làng Đông Hải Đầu được xây dựng ngay trên bến cát, nơi đó biển ăn sâu vào đất liền thành vịnh nhỏ, hai mỏm đất cây cối xanh tốt nhô ra mặt nước như hai cánh tay ôm vòng lấy vịnh ấy.

Hắc Vân Long gốc người Liêu Đông xứ Bắc, học võ Thái Cực, lang bạt kỳ hồ nhập Bạch Liên giáo thuộc khu vực Sơn Đông. Chàng thấy cảnh sắc Ngao Sơn Đầu đẹp một cách man dại nên ngừng gót giang hồ theo thuyền thủy khấu ra khơi “ăn hàng”.

Bọn hải khấu thấy Vân Long võ dũng có tài thủy chiến nên sau mấy trận đại thắng Nụy khấu, tôn Hắc Vân Long lên làm đại đầu lãnh.

Giữa khi ấy, nhân viên truyền giáo Bạch Liên ở khu vực Ngao Sơn trở về Hồ Nam có việc bị lục lâm cướp và hạ sát luôn khi y mới ra khỏi ranh giới Sơn Đông, Giáo chủ Cố Dục Thanh liền chỉ định Hắc Vân Long lên thay thế cầm đầu luôn giáo giới Bạch Liên trong khu vực hoạt động của chàng.

Vốn có nhiều sáng kiến, Hắc Vân Long len lỏi thăm thú khắp trong vùng Ngao Sơn mà chàng thuộc từng tấc đất một, xây dựng Lục Thủy trại, chiếm Linh Sơn đảo, biến đảo ấy thành căn cứ riêng.
Trước kia dân chài hai làng Tây Hải Đầu, Đông Hải Đầu đã nhiều lần bị Nụy khấu đến quấy nhiễu. Từ Hắc Vân Long chiến thắng Nụy khấu, dân ngư phủ làng đó được an thân, nên khi Hắc Vân Long chiếm Linh Sơn đảo, dân làng theo luôn, phái các con, em gia nhập bộ binh của bị đầu lãnh hữu danh hữu tài ấy.

Vân Long đi khắp đảo xem xét địa thế lập căn cứu thủy đoàn ở phía Nam Linh Sơn đảo, xây dựng một ngôi nhà riêng ngay trên một diện tích phẳng thiên nhiên gần căn cứ, phía sau là rừng cây rậm rạp.
Không ưa việc lập gia đình, Hắc Vân Long thờ chủ nghĩa độc thân, nhưng không phải vì thế mà chàng xa lánh nữ giới đâu! Trong ngôi nhà riêng rộng rãi, bày trí thanh nhã của chàng, nhân viên hầu hạ toàn là phụ nữ... thanh sắc vẹn toàn.

Từ ngày đến Ngao Sơn Đầu, Đường Trại Nhi, Tôn Hoàn được Hắc Vân Long trọng vọng quý mến mời cùng ở nơi nhà riêng với chàng.

Trước khi ở Vương phủ Kim Lăng, Trại Nhi uốn éo lợi dụng Tôn Hoàn nên có hứa với anh hùng si ngốc họ Tôn là sẽ cùng y, sau cuộc phản loạn, đi xa chung sống ca khúc bạch đầu. Tính thế đã biến đổi hẳn. Cuộc khởi loạn thất bại. Trại Nhi, Tôn Hoàn cùng phải trốn tránh một thời gian. Nay Tôn Hoàn đã gây lại được địa vị khả quan, Trại Nhi muốn nhân dịp ấy xa y lần lần.

Sau một thời gian ngắn cùng ở tại ngôi nhà riêng của Hắc Vân Long ngoài Linh Sơn đảo. Trại Nhi hành động hướng dẫn Hắc Vân Long đặt Tôn Hoàn vào địa vị Quân sư kiêm luôn trách nhiệm truyền giáo điều khiển Lục Thủy trại.
Hắc Vân Long mừng rỡ tưởng nàng muốn cùng mình chung sống nên tìm cách đẩy Tôn Hoàn vào đất liền bèn nhận lời ngay.

Phần Tôn Hoàn không muốn xa rời Trại Nhi thì dĩ nhiên y không hoan nghinh quyết định ấy, nhưng chẳng lẽ đi nương nhờ người mà ăn không ngồi rồi ư? Thành thử họ Tôn đành vui vẻ nhận lời.
Trại Nhi nói riêng với Tôn Hoàn hôm y xuống thuyền vào lục địa :
- Tôn huynh đừng buồn, cứ an tâm lãnh đạo Lục Thủy trại đi, tôi sẽ tìm cách ở gần và hiện thời sẽ tới... thăm nom luôn luôn.

Tôn Hoàn còn tin tưởng :
- Thật nhé, đừng để ngu huynh mỏi mắt trông chờ.
Trại Nhi giữ lời hứa thật. Thỉnh thoảng nàng đến Lục Thủy trại hỏi thăm Tôn Hoàn, cũng như thỉnh thoảng nàng... gần Hắc Vân Long.

Nhưng từ khi được Vân Long tặng cho chiếc chiến thuyền Hắc Long, Trại Nhi đã có ý khác, sang sửa chiến thuyền ấy cho thiệt đủ tiện nghi và rời xuống ở ngay dưới thuyền.

Vân Long ngạc nhiên hỏi tại sao, Trại Nhi giải thích dễ dàng :
- Tôi vốn ưa lối sống trên thuyền. Với chiếc thuyền Hắc Long đầy đủ tiện nghi kia tôi muốn được neo khắp mọi chỗ quanh đảo Linh Sơn thần tiên này, đại đầu lãnh khá an tâm. Công việc, tôi sẽ làm đầy đủ theo bổn phận và riêng với đầu lãnh tôi cũng chẳng... xao lãng mối tình.

Biết Trại Nhi ngang bướng, Hắc Vân Long cũng chiều theo ý nàng miễn là thỉnh thoảng nàng không... quên mình là được. Thiệt ra, Vân Long cũng không muốn luôn luôn bị câu thúc.
Trại Nhi không phải là một phụ nữ có tánh chất bình thường để sống trong nền nếp gia đình. Từ vật chất đến tinh thần, nàng không duy nhất, luôn luôn cần thỏa mãn và đổi mới.

Trại Nhi là con người tài sắc song toàn nhưng vô hạnh. Từ địa vị một đồ đệ Bạch Liên giáo, nàng trở thành Nữ giáo chủ khi Cố Duy Thanh viên tịch và rất hoạt động dưới thời Minh Thành Tổ.

Cuộc đời của nàng là cả một thiên tình sử lãng mạn, gay cấn sôi nổi trong đó có mấy lần dính líu đụng độ với Tam hiệp. Sau này, nếu tiện dịp, chúng tôi sẽ phiên dịch tiểu sử nữ lang họ Đường ấy hiến quý vị độc giả thân mến nhàn lãm trong khi trà dư tửu hậu.

Từ khi có chiến thuyền riêng, Đường Trại Nhi không ở nhất định một nơi nào. Lúc nàng neo thuyền ở làng Tây Hải đầu, khi ở Đông Hải khẩu. Nàng vào ở hai nơi ấy liên lạc, giao dịch gây cảm tình được với toàn thể mọi người. Gặp được một ngư phủ nào trúng ý, nàng bịa đặt ra cách nọ việc kia, giàn xếp gặp riêng người ấy quyến rũ thỏa mãn rồi lại cho thuyền đi nơi khác.

Trại Nhi có tài dùng người. Như trường hợp hai thể nữ Mỹ Vân, Mỹ Phụng và các thủy thủ dưới chiến thuyền Hắc Long chẳng hạn người nào cũng trở thành nô lệ tuyệt đối của nàng. Chúng im lìm phục vụ nữ chủ xinh đẹp, rộng rãi nhưng nghiêm khắc ấy, không hề ta thán nửa lời hoặc tiết lộ bất cứ chuyện gì. Ngay đến Hắc Vân Long, Tôn Hoàn nhiều khi cố ý dò dẫm hỏi han về đời sống bình bồng của Trại Nhi, bọn thủ hạ chiến thuyền Hắc long đều một mực trả lời không biết.

Nói về hôm Đường Trại Nhi nhận ra tráng sĩ tuấn kiệt trên thuyền địch là người mà nàng đã từng diện kiến trên tửu lầu Kim Lăng, ngày nọ.
Binh lực Kim Lăng tan rã, Trại Nhi phải bôn đào nhưng không lúc nào là nàng quên được hình dáng nét mặt trang dũng sĩ hào hoa gặp trên Hoa Viên lầu thành Kim Lăng hoa lệ kia.
Trong khi bôn tẩu đó đây, nàng luôn luôn chú ý những mong được cùng chàng tái ngộ trên chốn hải hồ.
Thế rồi bỗng dưng hôm nay gặp nhau, gặp trong trường hợp mà hai người nghiễm nhiên là đối thủ. Nàng không hiểu tại sao chàng biết đích danh nàng là Đường Trại Nhi, quát tháo, hung hãn xông đánh ngay như hai kẻ tử thù!

Hồi nọ, chàng xưng danh là Vân Bưu, hành nghề tiêu sư, sao bây giờ lại chỉ huy chiến thuyền quan quân trong duyên hải Ngao Sơn Đầu?

Đường Trại Nhi suy nghĩ rất lẹ làng. Phải rồi, hay hồi ở Kim Lăng tráng sĩ họ Vân kia là võ tướng của triều đình trang hóa vào Kim Lăng thăm dò tình hình trước khi khởi trận? Thuyết này có lẽ đúng.

Trong thời kỳ ấy, nàng nhớ có vài lần Tôn Hoàn kể chuyện bọn anh hùng hảo hán thuộc giới giang hồ đối lập với Thuận Vương đã từng chiến đấu tại kỵ mã trường, trong bọn có anh em Chu gia và Tôn Hoàn tả hình dáng họ cho nàng nghe. Cho nên sau khi gặp Chu Đức Kiệt tại Hoa Viên lầu, Đường Trại Nhi có phần nghĩ ngợi nghi ngờ không khéo con người trúng ý nàng nhất kia lại là anh nàng Lam Y, kẻ thù số đông thủ hạ Thuận Vương cũng chưa biết chừng. Nghĩ thôi, nàng không chủ tâm gì hết, vì thiệt ra hai người chưa bao giờ đụng độ với nhau để trở thành thù địch.

Gặp nhau đây tuy ở trường hợp đối phương, tráng sĩ tuấn kiệt hành động hoàn toàn vô tình, quên hẳn nàng là người đã từng ngồi chung thồi cùng chàng trên Hoa Viên lầu! Không những vậy chàng coi nàng như một kẻ bỏ đi, đáng ghét cần phải tiêu trừ!
Thái độ ấy rất mích lòng Trại Nhi, sau khi nàng đã kêu gọi vài lời mà tráng sĩ anh kiệt kia vẫn lãng quên chẳng biết hồi tâm.

Trại Nhi nghĩ thầm: “Hừ! Oan gia này vô tình thật! Ngờ đâu con người đẹp đẽ nhường kia lại vô tình đến mức ấy. Người ta vẫn nói người đẹp vô tình, có lẽ đúng thế chăng? Được lắm, oan gia đã xông xáo muốn giao tranh, ta sẽ giao tranh cho mà coi!”

Nhận xét thấy kiểu cách tráng sĩ thiệt lợi hại, Trại Nhi không coi thường nhưng cũng không sợ hãi, ngang nhiên đón đánh, khi Chu Đức Kiệt nhào tới. Nhưng chỉ một vài hiệp khởi trận, nàng tự hiểu không phải là địch thủ của tay đao lợi hại này, và suy tính ngay đến cách bắt sống anh chàng.
Đường Trại Nhi bao giờ cũng mang trong người túi “Mê Hồn phấn” chế hóa theo phương pháp của Giáo chủ Cố Duy Thanh.

Đã có nhiều lần, nàng sử dụng thứ phấn mê hồn này, và nghiệm thấy chế theo phương pháp của Giáo chủ có phần hơi nhẹ nên tự ý nàng hòa thêm bột “Mông Hãn dược” để tăng sức mê man mau lẹ hơn của liều thuốc. Nàng hiểu rằng khi tăng chất Mông Hãn dược, nguy hiểm cho kẻ bị mê hơn, nhưng nàng không có quyền lựa chọn. Sự an ninh của nàng ở trên hết.

Bởi vậy khi tráng sĩ anh kiệt kia bản lãnh rất lợi hại, Đường Trại Nhi không dám kéo dài hiệp đấu và lựa cách sử dụng Mê Hồn phấn.

Nàng biết tâm lý của đối phương mỗi khi giao tranh với một nữ đối thủ, việc cần phòng bị trước nhất là ám khí.

Cho nên vừa đấu được vài hiệp, Trại Nhi thò tay vào túi lấy túi phấn Mê Hồn cố ý cho đối phương trông thấy cử chỉ của nàng, rồi lẹ như chớp, nàng liệng túi phần mê hồn vào thẳng mặt đối thủ. Đức Kiệt vô tình đưa lưỡi dao chặt ám khí địch chẳng dè phấn tung ra ngay trước mặt. Chàng hít phải độc dược, hắt hơi luôn mấy cái, thuốc mạnh liền vào bộ thần kinh khiến Đức Kiệt bủn rủn tứ chi, mắt hoa té liền trên sàn chiến thuyền địch.

Đường Trại Nhi mừng rỡ như bắt được báu vật, bế sốc chàng vào khoang thuyền đặt chàng xuống giường nệm êm ấm của nàng. Nhưng biết chàng lợi hại hữu dũng, Đường Trại Nhi cẩn thận dùng dây da tẩm dầu cột chặt tứ chi anh chàng vô tình lại.

Nàng sợ trận đánh còn tiếp diễn thêm sau khi bắt được tướng địch nên thổi thêm bột thuốc nữa vào mũi Đức Kiệt phòng khi chàng tỉnh dậy thì toàn thân cũng bị bải hoải không hành động quấy rối được.
Các quân thuyền mất tướng bỏ chạy.

Trại Nhi hạ lệnh thâu quân và không cần tính toán lâu dài, nàng phái một thủy thủ về Lục Thủy trại theo đường hiểm qua Ngao Sơn báo cho Hắc Vân Long và Tôn Hoàn biết việc bắt được tướng địch, đoạn nàng cho thuyền chỉ nẻo Linh Sơn đảo.
Việc đem Chu Đức Kiệt về thẳng Linh Sơn đảo không phải là một hành vi mà Trại Nhi không tính toán.
Trái lại nàng đã tính rất kỹ.

Hiện thời, Tế Nam phủ phái viện binh đến Ngao Sơn Đầu cứu bộ binh Đức Châu, tức là nhà chức trách thượng cấp đã để ý đến hành động của Hắc Vân Long và nhất định tảo trừ.
Ngao Sơn Đầu chống sao nổi với lực lượng hùng hậu của Tế Nam phủ? Chẳng chóng thì chầy, quân lực Hắc Vân Long sẽ tan rã.

Đường Trại Nhi tính rằng trong trường hợp ấy sẽ trốn vào lục địa Sơn Đông cũng rất khó khăn nếu nàng cứ theo đuổi mãi cuộc chiến đấu hiện tại.
Nhưng không lẽ bỏ Hắc Vân Long và Tôn Hoàn giữa lúc hai người ấy đang chiến đấu mà cán cân thắng bại chưa ngã hẳn về bên nào?

Dù sao sự thắng bại sẽ hoàn toàn do trận đánh đêm nay định đoạt.
Nàng đã nói với Hắc Vân Long rằng nàng về Lục Thủy trại, mặt trận Ngao Sơn hoàn toàn do Hắc Vân Long, Tôn Hoàn và các đầu lãnh khác chỉ huy, vậy giờ đây sau khi bắt được tướng địch, nàng có ra Linh Sơn đảo cũng là một sự thường, không hại đến lực lượng chiến đấu của Hắc Vân Long.

Về mặc thủy quân, việc chỉ huy đã có đầu lãnh Lục Định Kính. Nếu đoàn chiến thuyền ấy và bộ quân Ngao Sơn Đầu thất trận, thì dù nàng có ở lại Lục Thủy trại hiện thời trống rỗng cũng không ích gì cho cuộc diện.
Chiếc chiến thuyền mà Hắc Vân Long tặng nàng không phần thủy lực. Còn bốn chiến thuyền theo nàng thuộc đoàn phòng vệ Linh Sơn đảo, nay trở về căn cứ thiết tưởng rất hợp tình lý.
Đường Trại Nhi suy tính, cân nhắc cẩn thận, thấy hàng động của nàng không phương hại cho cuộc diện chiến tranh hiện tại, nên nàng cả quyết ra Linh Sơn đảo.

Nàng không được ích kỷ hèn nhát làm hại Hắc Vân Long hay Tôn Hoàn, nhưng nàng có quyền sắp đặt công cuộc tự vệ, phòng sự Ngao Sơn Đầu thất trận.

Dĩ nhiên, trong hành vi hiện tại, Trại Nhi mê luyến Chu Đức Kiệt muốn đem chàng đi nơi khác ngay, nên suy luận viện lẽ nọ cách kia tự bào chữa hành động đột ngột của nàng. Dù sao đối với Hắc, Tôn hai người, nàng không phải là người đáng trách.

Còn sự kiện Trại Nhi cấp tốc đem Chu Đức Kiệt đi là việc cá nhân nàng.
Khi bắt được Đức Kiệt, nàng e là các đoàn quân thuyền sẽ đuổi theo nên hạ lệnh cấp tốc rút ngay về Linh Sơn đảo.

Trong thời gian chiến thuyền rẽ sóng về đảo, Đường Trại Nhi ngồi trên kỷ say đắm nhìn tráng sĩ tuấn kiệt bị trói nằm co trên nệm gấm. Nàng sung sướng thỏa lòng mong ước được ở bên chàng hảo hán mã thượng phong lưu, nhưng nàng cũng không khỏi phập phồng lo sợ chẳng hiểu rồi đây chàng có tha thứ cho nàng, chịu nàng cùng tay ấp má kề...

Trại Nhi đứng lên toan đến bên giường cởi bớt nút áo cổ ra cho tráng sĩ dễ thở thì thanh đơn đao của tráng sĩ, mà nàng tháo bao ra hồi nãy đeo tạm vào lưng, nặng trĩu xuống.
Nàng bèn tháo dây đeo, tay cầm thanh đao tuốt hẳn lưỡi ra xem xét. Lưỡi đao long lanh xanh lè, đao khí bốc lạnh như băng rợn người.

Trại Nhi tấm tắc khen thầm báu vật. Nàng lật đi lật lại lưỡi đao xem kỹ, chợt thấy nơi gần cán đao có bảy điểm tròn và hai chữ “Thất Tinh” đúc nổi.

Trại Nhi lẩm bẩm :
- Thất Tinh đao! Chắc đặc biệt lắm đây. Chưa bao giờ ta trông thấy một bảo đao quý nhường này!
Dứt lời, nàng bứt sợi tóc lòa xòa sau gáy để bao đao xuống cuối giường, rồi kề sợi tóc vào gần lưỡi đao thổi mạnh. Sợi tóc đó bị đứt làm đôi.
Trại Nhi thử lại một lần nữa, sợi tóc vẫn đứt, rớt xuống sàn thuyền như thường.

Tấm tắc khen ngợi luôn miệng, Trại Nhi đến bên giường tra đao vào vỏ và vừa lúc ấy thì nhận thấy trên cái bao, nơi gần tay nàng cầm, có dát ba chữ nhỏ bằng vàng:
“Chu Đức Kiệt”.
Trại Nhi giật mình thốt lên như tiếng vang của tâm trí nàng :
- Chu Đức Kiệt!
- A! Thế ra chàng hảo hán giang hồ mã thượng kia, mà bao lâu nay nàng hằng ao ước được cùng chàng sánh má kề vai, lại là Chu Đức Kiệt, anh nàng Lam Y nữ hiệp.
Bao lâu nay nàng từng nghe danh hai nhân vật giang hồ kỳ tài ấy nay mới được diện kiến và đích danh có một người.

Tôn Hoàn chư tướng trong Vương phủ Kim Lăng trước kia thường đồn rằng Nữ hiệp Lam Y không những là một kiếm khách đại tài mà còn là giai nhân tuyệt sắc. Lời đồn ấy chắc không ngoa. Dáng dấp, diện mạo chàng oan gia họ Chu còn như thế kia - khiến chính nàng cũng mê mẩn tâm thần ước ao được cùng chàng vui duyên loan phượng - thì nhan sắc của cô em phải như thế nào!

Chợt nhớ đến một câu nói của Tôn Hoàn, Đường Trại Nhi bỗng cảm thấy hồi hộp thắc mắc lạ lùng: Anh em Lam Y nữ hiệp thường đi với một thiếu nữ võ dũng tuyệt vời và thinh sắc chẳng nhường tiên tử.
Nàng nhớ rằng câu chuyện ba nhân vật ấy phá Nam môn Kỵ mã trường cho mọi người bị Thuận Vương nhốt trong đó thoát thân.

Vậy thiếu nữ dũng mãnh diễm kiều, nhân vật thứ ba đó là ai?
Bạn của Lam Y chăng? Ý trung nhân của chàng Lã Ôn Hầu tái thế này chăng? Có thể lắm!

Dù rằng thiếu nữ kia chỉ là bạn của Lam Y nữ hiệp, nhưng nàng ta luôn luôn gần Chu lang, thì tránh sao được sự thầm kín yêu đương giữa hai người!

Hạnh phúc thay cô gái đó. Chẳng như nàng - Trại Nhi - phải đứng xa mòn mỏi ước ao một mối tình vô vọng.
Lần thứ nhất gặp Chu lang ở Kim Lăng dưới giả danh Vân Bưu, Trại Nhi chỉ thấy lòng xao xuyến ao ước được cùng chàng vui thể xác tận hưởng mối tình vật chất tầm thường. Lúc này, biết chàng là Chu Đức Kiệt một nhân vật tạm gọi là đối lập của nàng, Trại Nhi bỗng cảm thấy một cảm giác lạ lùng đang ngự trị trong tâm trí nàng.
Đó là thứ cảm giác yêu đương, yêu thật sự với tất cả một tâm hồn của Trại Nhi, thiếu nữ đôi tám xuân xanh, trong mối tình đầu.
Nàng thiệt không ngờ với cả chính nàng.

Một thiếu phụ từng trải lãng mạn, dạn dầy với tình nhục dục bỗng dưng lúc này tim nàng tràn ngập yêu đương, yêu với cả mối tình chân thật của thiếu nữ trinh trắng thơ ngây.

Nàng ao ước được cùng Chu lang chỉ non thề biển, đồng ca khúc bạch đầu. Nàng muốn rời bỏ cả thế giới loài người đem chàng đến một nơi hoang đảo đầy cây xanh quả lạ, bông dại ngàn tía muôn hương giữa vùng trời mây nước mênh mông.

Trong khung cảnh man dại ấy chỉ riêng có Chu lang và nàng là hai người yêu nhau tha thiết tận hưởng ái ân...
Nhưng chàng oan gia họ Chu kia liệu có chịu như vậy không? Hay là chàng vẫn hằn học nhìn nàng là một kẻ thù bất cộng đới thiên?

Nghĩ tới đây, Trại Nhi tự vấn. Nàng không thấy giữa Chu lang và nàng vẫn gợn một mối thù nào hết. Đường ai nấy đi, sự vô tình đã đặt nàng đứng phải phe đối lập với anh em Chu Đức Kiệt, thì lần thứ nhất đụng độ tại Vương phủ Kim Lăng, nàng trốn đi ngay đến nỗi không biết mặt anh em họ Chu ra thế nào cả. Vậy, chẳng lẽ Lam Y nữ hiệp và anh chàng oan gia kia ghét bỏ nàng?
Hiện tại con Tạo xoay vần cho hai người gặp nhau lần nữa cũng trong hoàn cảnh đối lập. Đường Trại Nhi đã bắt được Chu Đức Kiệt nhưng không có ý hãm hại. Trái lại, nàng còn muốn tha cho nếu chàng ưng chịu tình... bạn của nàng.


Giữa lúc đang tha thiết, mải mê say đắm nhìn Chu Đức Kiệt, Trại Nhi suy luận có những hảo ý dịu hiền không phải là việc lạ lùng.
Nhưng nàng đã quên rằng tôn chỉ Bạch Liên giáo hoàn toàn trái ngược với lẽ phải, hay nói cho trúng hơn nữa là phần lớn nhân viên đạo giới Bạch Liên - không hiểu vì cố ý hay lầm lẫn - hành động nghịch với giới Giang Hồ Kiếm Khách trong đó có anh em Chu gia.

Một việc mà giáo giới Bạch Liên đã khiến Chu gia Tam hiệp công phẫn hơn hết là vụ Từ Thúy Nhi, đồ đệ của Đường Trại Nhi - theo Tiêu chân nhân và Hắc Đầu Đà sát hại Phàn Mộng Liên. Sau đó, ba người này tòng đảng lừa bị dân chúng Tiên Long trấn cho thuốc lấy tiền và sống dâm bôn ti tiện.
Đường Trại Nhi ngồi xuống mé giường, chăm chú nhìn Chu Đức Kiệt. Nàng nhẹ tay vuốt mấy sợi tóc mai xõa tên má chàng. Toàn thân nàng rung động đê mê, mặt bốc nóng khó chịu khiến nàng vội đứng phắt dậy đi thẳng ra cửa khoang thuyền, vén rèm hoa cho gió biển lùa vào mặt nàng.

Tỉnh táo hơn, Trại Nhi chợt nghĩ đến Lam Y nữ hiệp và vị giai nhân tài sắc nhưng dũng mãnh tuyệt vời vẫn đồng hành với anh em Chu gia. Đức Kiệt đã ở trong Ngao Sơn Đầu mà hai người kia cũng quanh quẩn trong khu và thế nào chẳng dùng chiến thuyền đuổi theo giải cứu?

Một lần nữa anh em Chu gia giúp sức quan quân và cầm chắc sự thắng trận trong tay.
Đường Trại Nhi đang nghĩ liên miên thì tiếng thở dài nhắc nàng quay lại.
Gió biển mát lạnh lùa vào khoang thuyền giúp Chu Đức Kiệt tỉnh sớm hơn thời khắc mà nàng Trại Nhi đã định.

Nàng mỉm cười nhìn cặp mắt đen láy lờ đờ vì chưa tỉnh hẳn của chàng tuấn kiệt giang hồ. Đức Kiệt phều phào :
- Khát quá! Lấy hớp nước đây!
Trại Nhi ngoan ngoãn, như vị nội trợ chăm nom cho người chồng yêu quý, rót ly nước trà nóng cầm đến bên giường, vòng tay xuống gáy đỡ đầu cho Chu Đức Kiệt uống nước.
Trông thấy tứ chi chàng bị trói gò, nàng ái ngại muốn cởi ra, nhưng lại sợ tan thuốc tỉnh hẳn, chàng trở mặt chăng?

Đoàn thuyền được gió lướt sóng không bao lâu ra đến căn cứ Linh Sơn đảo. Đường Trại Nhi lấy thêm thực phẩm thêm xuống chiến thuyền riêng của nàng dự bị đi biển nhiều ngày rồi tức khắc nhổ neo, hạ lệnh cho thủy thủ ra bến Đông Hải Khẩu là nơi xa căn cứ hơn hết.

Thiệt ra, Trại Nhi định tâm xuống miền Nam ngay, nhưng lúc đó ngày đã gần tàn, đi đêm không tiện. Nàng rời căn cứ Linh Sơn đảo phòng khi Lam Y nữ hiệp có đuổi kịp thì cũng khó mà kiếm được bến Đông Hải Khẩu trong đêm tối.
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 2
 
Posts: 295
Joined: Mon Nov 28, 2011 11:46 pm
I am: Professional

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp

Postby Editor 1 » Mon Aug 25, 2014 10:45 pm

Lam Y Nữ Hiệp
Tác Giả: Tề Phong Quân
Dịch giả: Trường Giang Mạnh Vũ

Hồi 44

Gặp Nụy khấu bao vây, kẻ thù thành bằng hữu
Chiến Sơn Điền thủy tướng, yêu nữ thoát trùng vi


Nói về đoàn chiến thuyền do thủy tướng Cao Kiến Tường chỉ huy đưa Lam Y, Âu Dương Bích Nữ ra Linh Sơn đảo được nửa đường thì trời tối hẳn. Gió chiều thổi mỗi lúc một mạnh hơn và sóng cũng lớn hơn.

Hai Nữ hiệp cũng băn khoăn nóng ruột đứng ngồi không an.

Theo đúng phương hướng chỉ dẫn bởi tên thủy khấu tù binh, đoàn thuyền ra đến nơi, Cao Kiến Tường hạ lệnh ngừng tiến cho thuyền đậu cách bến chừng non trăm trượng, đoạn sang chiến thuyền Lam Y hỏi ý kiến.

Âu Dương Bích Nữ nói :
- Chúng tôi đi gấp cốt tìm ra chiến thuyền có Đường Trại Nhi. Nay đã ra đến hải đảo không lẽ vì đêm tối mà không đổ bộ được! Mặc dầu nguy hiểm việc cần vẫn phải tiến hành như thường. Theo lời tên thủy khấu đem theo đây thì hiện tại lực lượng thủy chiến quân địch kéo cả ra ngoài Ngao Sơn Đầu trợ chiến rồi. Tại căn cứ hải đảo của chúng chỉ còn vài chiến thuyền không đáng kể.

Cao Kiến Tường nói :
- Lỡ nó khai không đúng sự thật đưa chiến thuyền quan quân vào tử địa thì sao?

Lam Y quắc mắt nhìn thẳng mặt tên thủy khấu bị trói nằm cong trên sàn thuyền mà rằng :
- Mi nghe thấy chưa? Nếu nói sai, chúng ta sẽ moi ruột gan mi ra trước.

Tên tù binh cả quyết :
- Nếu con nói sai sẽ xin chịu tội. Các vị đổ bộ thế nào cũng gặp phản ứng, nhưng không mạnh mẽ đâu.

Lam Y bảo Cao Kiến Tường :
- Tướng quân cứ nghe tôi ra lệnh đổ bộ vào thẳng căn cứ địch, nếu xảy ra chuyện gì tôi cam chịu hết trách nhiệm khi gặp Diêu Thái Khánh.

Được lời hứa của Lam Y, Cao Kiến Tường không do dự nữa, hạ lệnh tiến quân.

Bị đánh bất ngờ giữa đêm tối, quân giặc không đông lại hoang mang không hiểu đối phương nhiều ít thế nào nên tan rã chạy tản mát cả vào rừng cây trên đảo. Mấy chiến thuyền nhỏ và bốn chiếc theo hộ tống Đường Trại Nhi hồi trưa đều bị quan quân đốt phá tan tành, nhưng không thấy chiến thuyền của Đường Trại Nhi đâu cả.

Cao Kiến Tường bắt được một viên thuyền trưởng hộ tống Trại Nhi ngày hôm ấy dẫn đến chỗ Lam Y :
- Tên này biết Đường Trại Nhi. Nữ hiệp thử tra hỏi xem sao.

Lam Y bảo tên ấy :
- Khai thật thì có lợi cho ngươi được sống sót, vậy không nên để ta hạ thủ. Đường Trại Nhi có bắt được người nào bên quan quân hồi quá trưa hôm nay không? Người ấy bây giờ ở đâu? Chỉ điểm đến nơi đến chốn, ta tha chết cho, nghe?

Viên thuyền trưởng vững dạ khai mọi sự :
- Đường nữ chủ có bắt được vị tráng sĩ tuấn tú và hình như vẫn giam trên thuyền Hắc Long. Hồi chiều, về tới đây, nữ chủ có hạ lệnh lấy nhiều thực phẩm và nước ngọt xuống thuyền, và cất neo đi nơi khác ngay.

Âu Dương Bích Nữ vội hỏi :
- Chiến thuyền Hắc Long đi nơi nào?
- Thưa, thường ra thì chiến thuyền ấy hay neo ở hai nơi Tây Hải Đầu, Đông Hải Khẩu là hai làng ngư phủ tại hải đảo này.

Nghe viên thuyền trưởng nói vậy, Lam Y bảo Cao Kiến Tường :
- Tướng quân ở lại điều khiển căn cứ này, tôi cần hai chiến thuyền để tiếp tục truy nã chiếc Hắc Long.
Kiến Tường đáp :
- Đuổi giặc bằng thuyền trong khu xa lạ giữa lúc đêm tối là một cuộc phiêu lưu nguy hiểm. Nữ hiệp cho phép tôi đi theo, để lại mười chiến thuyền canh phòng căn cứ này là đủ rồi. Hoặc giả, sáng sớm mai sẽ tiếp tục cuộc truy nã. Tôi chắc chắn chiếc Hắc Long, dù lớn biết mấy, cũng không dám rời khỏi đảo này ra khơi đâu.

Âu Dương Bích Nữ nóng ruột :
- Cứu binh như cứu hỏa không thể trì trễ được. Chúng tôi cần đi ngay!

Cao Kiến Tường nhất quyết :
- Nếu thế, tôi phải theo nhị vị kẻo sau này Diêu tướng quân trách cứ là không cẩn thận.

Nói đoạn, Cao Kiến Tường họp các thuyền trưởng lại dặn dò việc canh phòng nơi căn cứ mới chiếm được, lấy thêm nước ngọt lương khô xuống hai chiến thuyền rồi cùng hai nữ hiệp Lam Y, Âu Dương Bích Nữ đem theo một tên thủy khấu bắt chỉ đường.

Hai chiếc quan thuyền theo ven bờ đến quá nửa đêm thì tới Tây Hải Đầu không thấy có chiến thuyền nào neo ở bến cả, bèn quay mũi trở lại đường cũ sang bên phía đông thì trời đã sáng rõ, và chiến thuyền Hắc Long đã nhổ neo đi từ sớm rồi.

Dân ngư phủ cho biết chiến thuyền ấy xuôi về hướng nam.

Âu Dương Bích Nữ đứng ngồi không yên, nàng nói :
- Đường Trại Nhi bắt chước vụ Kim Lăng. Nó thấy có sự khó khăn nên lẹ chân đào tẩu trước, đem theo cả Chu lang. Này cô muội, tôi không hiểu tại sao Chu huynh không thừa dịp Trại Nhi neo thuyền ở bến ngư phủ này mà thoát thân, nhỉ?

Lam Y đáp :
- Một là Chu huynh còn say thuốc chưa tỉnh hẳn, hai là bị trói giữ chưa có dịp thoát thân.
Âu Dương Bích Nữ lắc đầu tặc lưỡi :
- Gặp con Trại Nhi chuyến này, chết sống tôi cũng quyết bắt nó.

° ° ° ° °

Vì mồi thuốc mê thứ hai thổi vào mũi, Chu Đức Kiệt tuy không mê man ngủ say như lúc ban đầu, nhưng thần trí chưa sáng suốt hẳn.

Khi chiến thuyền bỏ neo ở Đông Hải Khẩu, Đường Trại Nhi mới dùng bữa tối. Nàng sai tì nữ Mỹ Vân, Mỹ Phụng đem nước canh thịt tự tay đổ cho Đức Kiệt uống.

Phần Đức Kiệt nửa mê, nửa tỉnh, toàn thân bải hoải, trí óc nặng trĩu, chịu sự săn sóc của Đường Trại Nhi mà không phân biết được là ai cả.

Thấy hai tay chàng bị dừng máu tím lịm vì dây da tẩm dầu, Đường Trại Nhi xót xa, đành cởi xả trói cho chàng.

Uống xong tô nước thịt đủ chất bổ, Đức Kiệt lăn ra giường ngủ say. Đường Trại Nhi ngồi một bên chàng nhìn không chán mắt, sau đó nàng cũng mặc nguyên võ phục nằm xuống bên chàng dưỡng sức. Nàng không dám thay áo vì ở trong tình trạng báo động.

Chưa rời khỏi hải đảo Linh Sơn, nàng còn không an tâm. Lam Y nữ hiệp có thể xuất hiện bất cứ lúc nào.

Đường Trại Nhi là con người từng dạn dầy, lăn lóc nhiều trong tình trường. Đối với nàng, ngoài lúc cần thỏa mãn ra, người đàn ông không có nghĩa lý gì cả.

Vậy mà suốt đêm nằm kế bên Chu Đức Kiệt, nàng cảm thấy bẽn lẽn như thể một tân nương đêm đầu chung giường cùng chồng. Nàng để ý từng nét mặt, từng lúc xoay mình của anh chàng họ Chu. Mỗi lúc chàng đổi chiều nằm, mền tuột xuống khỏi vai, nàng chăm chỉ đắp lại, e chàng bị lạnh.

Và suốt đêm như vậy.

Được lệnh trước, bọn thủy thủ chưa tới canh năm đã nhổ neo đi liền. Chiến thuyền Hắc Long rời địa phận Linh Sơn đảo, giương buồm chỉ nẻo phương nam.

Tới khi sáng rõ, Chu Đức Kiệt mới chợt tỉnh giấc. Sau giấc ngủ ngon lành suốt đêm và gió biển trong sạch, chàng hoàn toàn khỏe hẳn, tâm trí sáng suốt như thường.

Trong mền ấm áp dễ chịu, các rèm cửa lại được kéo kín nên khoang thuyền còn tối mờ mờ. Đức Kiệt vươn vai khoan khoái, xây lưng lại ôm ngay Trại Nhi vì thức nhiều nên lúc đó ngủ say. Thoạt tiên, chàng tưởng là Âu Dương Bích Nữ nhưng mùi hương tỏa ra từ mớ tóc huyền của Trại Nhi khiến chàng thấy lạ, hoàn toàn tỉnh hẳn, trừng mắt nhìn thiếu phụ nằm bên và toàn thể khoang thuyền. Chàng nhớ lại ra lúc Trại Nhi vừa khởi đầu, gạt ám khí và sặc sụa mê man bất tỉnh. Giờ đây, người đang thiêm thiếp giấc nồng bên chàng không phải là Âu Dương Bích Nữ vợ chàng, mà chính là Đường Trại Nhi! Chàng giật mình không hiểu cơ sự đã xảy ra như thế nào! Con thuyền đang bồng bềnh lướt gió ngoài khơi. Đức Kiệt tung mền ngồi dậy nhìn Trại Nhi xinh đẹp một lần nữa. Trại Nhi cũng tỉnh giấc, nét khoan khoái lộ trên khuôn mặt đều đặn. Nàng đưa tay lên miệng hoa ngáp nhẹ, mở bừng mắt thấy Đức Kiệt đang ngồi nhìn nàng trừng trừng. Nằm yên, nàng dịu dàng nhìn tráng sĩ họ Chu.

Đức Kiệt cau mày hỏi :
- Tại sao lại thế này?

Lẳng lặng, Trại Nhi tung mền ngồi dậy, buôn hai chân xuống sàn thuyền xỏ võ hài xốc áo, sửa lại mớ tóc cho thêm gọn gàng. Nàng kéo rèm cửa sổ trong khoang cho sáng, thở mạnh khoan khoái được hô hấp không khí trong sạch ngoài biển khơi. Chu Đức Kiệt ngồi nguyên trên giường nhận xét từng cử chỉ một của người đàn bà lạ đời khó hiểu ấy. Chàng biết là mình bị bắt vì Mê Hồn phấn và hiện thời đang ở trong tay nàng. Chiến thuyền đang lướt sóng biển khơi đây là thuyền địch nhưng không hiểu đang tiến về phương nào đây và từ bao giờ? Đức Kiệt nhảy xuống sàn đi ủng, đưa mắt nhìn quanh thấy thanh Thất Tinh đao treo trên vách khoang, song song với thanh trường kiếm của Trại Nhi. Chàng lấy đao, rút ra nhìn qua rồi đeo lên lưng. Trong khi ấy, Trại Nhi vẫn đứng trước khuôn cửa sổ trông thẳng ra khơi từ từ hô hấp. Nàng hành động như chỉ riêng có nàng trong khoang thuyền, quên hẳn Chu Đức Kiệt đang chăm chú nhìn nàng vẻ mặt khó chịu. Hô hấp hồi lâu, Trại Nhi quay mặt lại. Im lịm, Chu Đức Kiệt ra khỏi khoang thuyền xem xét.

Chiến thuyền xuôi gió lướt trên mặt biển mênh mông. Buổi sáng màn sương phủ nhẹ, chàng cố nhìn tứ phía đều không thấy lục địa. Trên thuyền các thủy thủ đi lại lăng xăng làm công việc thường ngày. Họ chăm chú là bổn phận, không hề để ý đến người khách lạ đang đi bách bộ suốt dọc mé thuyền.

Đến trước viên thủy thủ cầm lái ở cuối thuyền, Đức Kiệt hỏi :
- Thuyền đi về đâu thế này?

Người cầm lái cúi chào lễ phép, im lìm như một tên câm, tiếp tục nhìn trời biển, tay đưa trục lái. Biết rằng nhân viên trên thuyền nhận huấn lệnh của Đường Trại Nhi cấm không nói chuyện với mình, Đức Kiệt không hỏi thêm câu nữa. Chàng lững thững đi vòng sang mẽ thuyền bên hữu rồi trở vào trong khoang.

Đường Trại Nhi đã sửa soạn xong, thay bộ võ phục, tóc mây đen nhánh chải gọn gàng làm nổi khuôn mặt bầu bầu, làn da trắng nuột. Nàng xức hương trầm thơm ngào ngạt khắp trong khoang thuyền thuần khiết nhanh nhã, lịch sự, dù người khó tánh đến mấy cũng phải ca ngợi ưng ý. Các đồ đạc trong khoang đều được gắn chặt xuống sàn thuyền, phòng khi gặp biển động bị xô trượt. Trại Nhi ngồi trên kỷ kê sát vách ván đang đọc sách.

Thấy Đức Kiệt bước vào khoang thuyền, nữ tỳ Mỹ Phụng tiến tới chắp tay kính cẩn :
- Mời thiếu gia vào trong rửa mặt ạ.
Lẳng lặng nhìn quang trong khoang, Chu Đức Kiệt vén rèm bước vào trong phòng xép bên phía trong. Đó là phòng trang sức vệ sinh, ngăn nắp, gọn gàng. Thấy nước sôi đã được tì nữ sửa soạn đầy đủ, Chu Đức Kiệt khép cửa lại cởi áo tắm táp cho khoan khoái tinh thần.

Sửa soạn xong, chàng thấy trên mắc có một bộ võ phục mới bằng lụa Cẩm Châu màu tím thẫm, liền mặc thử: Chiếc quần vừa vặn duy có cái áo chật vai không cài được nút ngực. Chàng bỏ áo mới, mặc áo cũ lại như trước và chỉ thay bộ áo lót mình.

Đeo đơn đao lên lưng, Đức Kiệt ra khỏi phòng tắm.

Nữ tì Mỹ Phụng tiến tới :
- Kính mời thiếu gia lại nơi án kia dùng điểm tâm.

Chàng nhìn theo tay tì nữ chỉ về hướng Đường Trại Nhi ngồi. Trên án bày khay trà và lồng hấp bánh điểm tâm.

Trại Nhi nhìn Đức Kiệt. Cặp mắt bồ câu đen lánh của nàng lờ đờ hấp dẫn đa tình. Đôi môi mọng đỏ chúm chím cười nửa miệng cực kỳ duyên dáng. Nàng cất giọng ấm áp dịu dàng, lặp lại lời mời của nữ tì Mỹ Phụng :
- Kính mời Chu thiếu gia lại đây dùng điểm tâm.

Đức Kiệt giật mình không nhận thức ngay ra lý do Trại Nhi biết tên mình. Chàng chợt nhớ đã từng xưng danh là Vân Bưu hôm gặp nàng ở Hoa Vương lầu thành Kim Lăng. Như đoán được ý nghĩ của

Đức Kiệt, Trại Nhi nói tiếp :
- Thiếu gia chẳng phải tìm nguyên nhân thêm mất công! Quý danh được dát bằng chữ vàng trên bao Thất Tinh đao đeo kia kìa.

Đức Kiệt nghĩ thầm:
“Thì ra trong lúc ta mê man, nàng đã xem thanh đơn đao Thất Tinh. Tinh khôn, ngăn nắp, thứ tự, có tài tổ chức, dịu dàng, tiếc rằng hữu tài vô hạnh. Nếu không thì trên đời này thêm một vị nữ kiệt anh thư!”

Chàng thấy đói bụng nên đến án bàn ngồi xuống chiếc kỷ độc nhất đối diện với Đường Trại Nhi từ nãy cứ chúm chím cười nhìn mình. Cặp mắt nhung huyền của nàng thiệt dịu dàng nhưng lúc nào cũng bao hàm một tánh chất ranh mãnh.

Đức Kiệt vừa ngồi xuống kỷ, đã toan tự kỷ rót trà uống. Trại Nhi dành lấy chiếc ly, chẳng hiểu hữu ý hay vô tình hai bàn tay chạm nhau; nàng rót trà ra hai ly tự để cho mình một và đặt một trước mặt Đức Kiệt, hé hàm răng ngọc nõn nà :
- Thiếu gia là khách, thiếp là chủ, xin cho thiếp được quyền thù tiếp. Mời thiếu gia dùng trà rồi còn ăn bánh kẻo nguội. Chiến thuyền chật hẹp, không tích trữ được nhiều thứ mong Người hiểu cho.

Nói đoạn, nàng hai tay bưng tống trà nóng hổi duyên dáng mời Chu Đức Kiệt và vừa thổi nhẹ, vừa uống từng hớp nhỏ một. Đức Kiệt lẳng lặng uống theo, hương trà toàn hảo bốc thơm dễ chịu. Chàng thấy đói khát nhiều nên nghĩ thầm có lẽ nhịn ăn uống khá lâu rồi. Trại Nhi mở nắp lồng quả hấp lấy mấy thứ bánh nhân thịt ngon lành bầy ra đĩa mời :
- Thiếu gia dùng thử xem có vừa ý không! Phải ăn nhiều mới được, đi biển mau đói lắm.

Vừa nói, nàng vừa rót nước chấm. Cách săn sóc của nàng khéo léo gọn gàng như thể một bà nội trợ chuyên nghiệp. Mời xong, nàng cũng gấp bánh nhỏ nhẹ ăn coi rất đáng yêu.

Đang đói sẵn Đức Kiệt ăn luôn một mạch năm sáu bánh lớn nhân thịt. Bao tử được “ấm áp” dễ chịu rồi, Chu Đức Kiệt mới nhìn thẳng vào mắt Trại Nhi, chàng hỏi :
- Tôi bị mê man bao lâu rồi? Thuyền này đi đâu vậy? Tại sao cô nương hành động kỳ dị thế này?

Đường Trại Nhi mời Đức Kiệt dùng bánh nữa. Chàng đủ no lắc đầu từ chối. Nàng đưa dĩa khăn bông trắng nuốt vò sẵn mời chàng lau tay. Đức Kiệt đón lấy một chiếc dùng.

Thấy hai người đã điểm tâm xong, nữ tì Mỹ Phụng tiến tới dẹp mọi thứ trên án, riêng để lại có bình trà. Trong khoang bấy giờ có hai người, Đường Trại Nhi nghiêm nét mặt :
- Thiếu gia mê man đúng ba ngày rồi, sáng hôm nay nữa bước sang ngày thứ tư, trong lúc mê mệt, thiếp phải đổ nước thịt hầm sâm cho uống quý thể mới khỏi mệt như vậy đó.

Chu Đức Kiệt ngạc nhiên không ngờ mình đã mê man lâu như vậy, một hồ rượu bỏ Mông Hãn dược cũng không đến nỗi khiến người uống phải say bấy nhiêu lâu! Chàng có cảm tưởng như mới bị Đường
Trại Nhi bắt hôm qua. Dù sao, chiếc chiến thuyền lớn nhường này có hai cánh buồm thuận gió thì đi cũng xa lắm rồi!

Chàng nhắc :
- Tôi vẫn chờ cô nương trả lời: ‘Đây là đâu? Đi đâu và được bao lâu rồi!’ Đường Trại Nhi giữ nguyên nét mặt nghiêm nghị :
- Thiếp đã nói là thiếu gia mê man ba ngày rồi. Chiến thuyền rời khỏi Ngao Sơn Đầu ngay từ lúc thiếu gia té quỵ. Thuyền lướt sóng ngoài khơi thiếp trả lời sao được là đâu? Ba ngày đường thuận gió, với tốc lực hiện tại, chắc chúng ta đang ở trong duyên hải Giang Tô.

Đức Kiệt bực mình :
- Thế ra cô nương bắt cóc tôi đem xuống miền Nam?

Đường Trại Nhi im lặng tình tứ nhìn hiệp khách họ Chu. Chu Đức Kiệt nói tiếp :
- Tôi trúng Mê Hồn phấn mất thần trí, cô nương không muốn sát hại, không coi tôi là kẻ thù, thả cho
tôi về có hơn không, đem đi xa thế này ích lợi chi?

Trại Nhi nghiêm trọng :
- Chúng ta không quen biết nhau, không hề sát hại lẫn nhau để trở thành hai kẻ thù địch, cớ sao thiếu gia nói đến chuyện sát hại? Thiếu gia là trang hảo hán giang hồ lão luyện, đã từng mục kích những kẻ không thù ghét nhau, nhưng bị định mệnh đặt họ vào hai khu luôn luôn đối lập như trường hợp hiện tại của thiếu gia và thiếp. Hiện thời, thiếp lang bạt vô gia đình, cảm mến thiếu gia ngay từ ngày mới gặp nhau. Biệt bẵng đi một thời gian khá lâu, nay bỗng nhiên tái hội, dĩ nhiên thiếp không khi nào để lỡ dịp dùng mẹo đem thiếu gia đi với mục đích duy nhất là được thiếu gia định đoạt cho thiếp theo cùng. Con thuyền này là hiện thời bồng bềnh không bến, cũng như phận bèo dạt mây trôi này không chủ không chồng... Thiếp hằng mong được gặp đấng trượng phu tài sức vẹn toàn để tuyệt đối phục tùng. Đấng trượng phu ấy là Chu lang người duy nhất đã khiến thiếp có cảm tình với giả danh Vân Bưu do hoàn toàn chinh phục thiếp với thực danh hiệp khách Chu Đức Kiệt.

Đức Kiệt nhìn Đường Trại Nhi giây lát, đoạn lắc đầu mà rằng :
- Rất tiếc tôi không đồng cảnh đồng thuyền để chung hưởng cuộc đời cùng cô nương. Hai lần gặp nhau, hai lần chúng ta đối lập. Đối lập trong trường hợp mà chính Chu mỗ này không ngờ được tái hội cùng cô nương. Ngoài ra còn một sự kiện mà Chu mỗ, dù có muốn, cũng không thể chiều ý cô nương được, chi bằng cô nương hạ lệnh cho chiến thuyền trở về Ngao Sơn Đầu hoặc vào bờ để tôi tự kỷ về Sơn Đông là êm thấm hơn cả. Hành động ấy giúp cô nương giữ được mãi mãi cảm tình bằng hữu của riêng tôi. Sau này trên đường đời, nếu gặp nhau tôi quyết không quên được buổi hôm nay. Cô nương có thể tin được lời hứa của tôi.

Sắc diện Đường Trại Nhi chuyển từ hồng đến trắng bạch, nàng nói :
- Nếu thiếp không chịu nghe thì thiếu gia sẽ làm gì?

Đức Kiệt cười khẩy :
- Hỏi câu ấy tức là cô nương không hiểu gì cả về Đức Kiệt này! Số nhân viên trên chiến thuyền - kể cả cô nương - hơi sức không được bao nhiêu. Nếu tôi dùng võ lực bắt buộc thuyền phải trở mũi hay vào bờ thì cô nương nghĩ sao?

Đường Trại Nhi điềm nhiên :
- Thiếu gia còn muốn thiếp nghĩ gì hơn trước sức thần võ nổi danh ấy? Mến thương nhau sao được, khi một trong hai ta không chút cảm tình? Nếu Đường Trại Nhi này e sợ võ lực của họ Chu tất một là phải trói thiếu gia, hai là cất giấu thanh Thất Tinh đao quý báu lợi hại kia đi, ba là cho thiếu gia uống một thứ thuốc liệt thần kinh, đưa thiếu gia tới một hải đảo hoang vắng cùng nhau chung sống, trong trường hợp ấy chắc thiếu gia không từ khước chê bai Đường Trại Nhi hèn mọn, nhơ nhuốc này nữa!

Hiện nay Chu lang được tự do cử động, đi lại khắp nơi trên chiến thuyền, lưng đeo báu ‘đao’, đói ăn khát uống, kẻ hầu người hạ, những sự kiện ấy đủ tỏ tình yêu thực thà của thiếp riêng đối với Chu lang, có nghĩa là thiếp tin ở đức tánh quân tử của một nhân vật hữu danh trong giới Nghĩa Hiệp Giang hồ. Không lẽ một người tài sức như Chu lang lại lợi dụng lòng tin tưởng, trổ võ nghệ áp bức những kẻ hèn yếu hơn chàng ư?

Nghe luận điệu khôn khéo, rào trước, đón sau của Đường Trại Nhi, Đức Kiệt khen thầm, chàng nói :
- Suy luận trúng tâm lý con người lắm, song tôi đây nghĩ khác. Nếu tôi dùng võ lực bắt buộc chiến thuyền này phải trở lại đường cũ cũng không ngoài mục đích tự vệ, thiệt ra tôi đâu muốn hại cô nương và các thủy thủ? Còn một điều nữa cô nương cần phải biết kẻo thành hậu họa. Đó là tôi đến Ngao Sơn Đầu với hai người nữa...

Đường Trại Nhi ngắt lời :
- Lam Y nữ hiệp và một thiếu nữ tài sắc mà thiếp không biết danh tánh?

Chu Đức Kiệt gật đầu :
- Phải, Lam Y là gia muội và người kia, cô nương có thể gọi là... Chu phu nhân.
- Nội nhân của Chu lang?
- Phải, đính hôn từ cuối năm rồi, và đầu năm nay mới thành hôn.

Đường Trại Nhi đứng phắt dậy, biến sắc. Nàng thở mạnh, bộ ngực nở nang đều đặn lên xuống dồn dập :
- Đáng lẽ thiếp phải nghĩ ngay tới cơ sự ấy mới phải. Thảo nào Chu lang khinh rẻ không màng tới thiếp...

Không nói hết câu, Đường Trại Nhi khổ sở đi thẳng ra cửa sổ vén rèm nhìn mặt biển mênh mông.

Đức Kiệt nhìn theo thấy màn sương mai đã tan hẳn, trời xanh nước biếc, vừng thái dương đã lên cao hơn hai trượng, le lói trong không trung. Gió biển lùa vào khoang thuyền mát mẻ dễ chịu. Chàng tiến tới phía sau Đường Trại Nhi :
- Đường cô nương! Khi nhắc đến gia muội Lam Y và gia nội tôi có ý nhắc để cô nương hay rằng hai người ấy thế nào cũng đuổi theo ta và theo trúng đường dù rằng biển cả mênh mông.

Đường Trại Nhi im lặng nhìn biển cả xa khơi. Đức Kiệt nói tiếp :
- Tôi biết rằng cô nương không hiểu rõ lực lượng quan quân nên trước đây không tin là sẽ có người đuổi theo tiếp cứu. Lực lượng cứu viện quân Tế Nam phủ dư sức đàn áp quân Lục Thủy trại. Ngoài số quân lục chiến ấy, Tế Nam phủ còn xuất phát cả thủy quân hùng hậu Kiều Châu, đổ bộ Lục Thủy trại và Linh Sơn đảo. Lực lượng của Hắc Vân Long khó bề chống chọi. Chị em Lam Y ở trên bộ được cấp bác việc tôi bị trúng Mê Hồn phấn và sử dụng ngay đoàn chiến thuyền hùng hậu đuổi theo. Vào Lục Thủy trại không thấy tôi, chị em Lam Y ra thẳng đảo Linh Sơn. Nội hai nơi ấy, họ điều tra và dư biết hướng đi của chiến thuyền này. Cô nương từng nghe Lam Y nữ hiệp chứ gì? Nàng và gia nội không bao giờ từ nan nếu phải đảo lộn cả sơn hà để tìm tôi. Cô nương chẳng nên chọc giận hai người ấy. Hãy nghe tôi ghé bến và đi nơi khác ngay. Tôi không hiểu lẽ gì hai lần tôi gặp là hai lần cô nương đụng độ với quan quân.

Đứng nguyên chỗ, Đường Trại Nhi nói :
- Nói vậy là sai lạc! Chính thiếp không muốn đụng đọ với quan quân. Ở Kim Lăng cũng như ở đây, thiếp đều bỏ đi trước... Nhưng Chu lang!

Nàng bỗng ngưng nói, đưa tay lên trán, lảo đảo như người bị trúng phong xây xẩm mặt mày, té ngửa ra phía sau. Đức Kiệt thẳng thắng vội đưa tay đón lấy nàng bế bổng lên đi về phía giường định đặt nàng nằm nghỉ. Vừa hay lúc ấy, Đường Trại Nhi đưa lẹ bàn tay hữu thoa một thứ nước gì thơm ngào ngạt lên mũi miệng Chu Đức Kiệt. Đức Kiệt giật mình vội buông nàng ra, nhưng Đường Trại Nhi đã ôm chặt lấy chàng, áp má vào mặt chàng, tính tứ nói nhỏ :
- Không, Chu lang nên hiểu thiếp yêu thương Chu lang biết chừng nào. Đừng bỏ thiếp tội nghiệp! Hãy nằm xuống đây cùng thiếp...

Kỳ thay, chất nước hương ngào ngạt ấy có một sức hiệu nghiệm huyền bí lạ lùng.

Thoạt đầu, Đức Kiệt thấy tâm hồn ngây ngất, chàng buông Đường Trại Nhi ra mà không buông nổi vì cô gái đa tình kia cứ ghì chặt lấy chàng... Hương thơm kỳ lạ từ mớ tóc huyền, từ khuôn mặt khả ái với làn da mềm mại trắng ngà và từ y phục nàng bốc lên ngào ngạt càng khiến tâm hồn Đức Kiệt ngây ngất mông lung. Xưa nay, chàng vốn là người gan dạ, không háo sắc, nhưng kỳ thay không hiểu sao lúc này chàng không thể tự chủ được nữa! Toàn thân rung động bởi một cảm giác lạ lùng với sức ôm ghì thật chặt của Đường Trại Nhi đa tình.

Đường Trại Nhi kéo Đức Kiệt ngã xuống ngực nàng, nói qua hơi thở :
- Chu lang! Chu lang yêu mến! Bao lâu nay thiếp mơ ước... gần chàng! Chúng ta chẳng nên lỡ thời khắc ngàn vàng...

Chu Đức Kiệt bàng hoàng, tâm thần hoàn toàn hỗn loạn :
- Đường Trại Nhi nàng hỡi, hãy buông ta ra! Buông ra! Buông ra, cởi đao sẽ chiều ý nàng! Nàng đẹp vô ngần...

Chắc chắn đã hoàn toàn chinh phục người yêu bằng thứ hương luyến ái, Đường Trại Nhi đê mê sung sướng buông tay ra... Đức Kiệt mải miết say sưa nhìn cặp mắt huyền mơ màng, cặp mắt bồ câu chớ không phượng nhỡn xếch ngược oai hùng như mắt nàng nữ trung anh kiệt Âu Dương Bích Nữ.

Bốn tiếng “Âu Dương Bích Nữ” chợt như ngọn roi da do một bàn tay bí mật quất ngang vào mặt Đức Kiệt khiến chàng rùng mình lắc đầu, sợ hãi bóng hình cô gái Thiếu Lâm tự đang khoanh tay nghiêm nghị căm hờn khinh bỉ đứng nhìn thẳng vào mặt chàng. Đường Trại Nhi vẫn nhìn mặt Đức Kiệt, nhận thấy sự thay đổi trong khoảnh khắc hiện trên khuôn mặt anh dũng của chàng hiệp khách họ Chu, bèn vội đưa tay bá cổ chàng định kéo xuống... Nhưng Đức Kiệt cố gỡ tay nàng ra, đứng phắt dậy, loạng choạng sang khoang xép gục đầu vào thùng vớt nước lên mặt nhiều lần. Nước lạnh khiến chàng tỉnh táo dễ chịu ngay. Giữa lúc ấy, Đường Trại Nhi vùng dậy chạy vào ôm chặt lấy Đức Kiệt, toan xoa tay lên mặt chàng.

Lẹ làng, Đức Kiệt nắm chặt lấy cổ tay ấy đoạn đẩy nàng ra xa, chàng quát :
- Đường Trại Nhi! Nàng không còn hy vọng dùng hương luyến ái làm ta mê muội để đưa ta vào ô nhục nữa. Đức Kiệt này tỉnh rồi! Dù Hằng Nga, Tây Tử có hiện ra đây cũng thế thôi! Ta khuyên nàng hạ lệnh thủy thủ trở về đường cũ và đừng để ta bạo động nghe?

Đường Trại Nhi căm tức nhìn Đức Kiệt, nhưng nàng ngạc nhiên thấy Đức Kiệt đờ người ra, nghểnh mặt nghe ngóng sự gì. Chàng hớn hở chỉ tay lên mui :
- Kìa! Đường cô nương nghe thấy gì không?

Trại Nhi chú ý nghe. Từ trên không trung, vọng ra tiếng đàn “hải điểu” réo vang cả một góc trời. Đức Kiệt nói lớn :
- Hải điểu bay có nghĩa là gần đây có hòn hải đảo nào hoặc có đoàn thuyền nào quanh quẩn trong khu vực này. Cô nương nhớ lời tôi nói không? Có lẽ đoàn chiến thuyền quan quân đuổi theo. Thế nào cũng có Lam Y và...

Đường Trại Nhi cười gằn, cướp lời :
- ... Và nàng tiên của Chu lang, phải không? Đường Trại Nhi này đáng bỉ lắm! Chu lang khinh sợ thiếp một con vật kinh tởm.
- Đường cô nương đừng nặng lời, chúng ta vô duyên vô nợ thế thôi. Giờ đây không phải là lúc nói dông dài, đoàn quan thuyền đuổi theo kịp là phúc, nếu gặp thủy khấu thì phiền lắm đó. Ta lên lần mui khoang thuyền xem sao. Nên quên mọi sư đã qua để lo hiện tại.

Đường Trại Nhi còn đang dùng dằng thì thị nữ chạy vào báo :
- Thưa Nữ chủ, viên thuyền trưởng nói rằng xa xa có đoàn thuyền lạ đi cùng hướng với ta.
- Được, ta sẽ ra xem sao. Bảo y giương hết buồm lên.
- Thưa Nữ chủ, hiện thuyền ta đang chạy bằng sức gió ba cánh buồm.

Thế nữ Mỹ Phụng trở gót. Đường Trại Nhi nán lại nhìn Chu Đức Kiệt chải tóc lại cho gọn gàng và buộc dây tơ cột búi tóc trên đỉnh đầu. Chàng sốc áo kiểm soát lại giải Thất Tinh đao, túi Bát Bảo.

Đường Trại Nhi vẫn chưa hết cơn mê luyến :
- Chu lang sửa soạn nghênh chiến và có lẽ chúng ta chia tay nhau từ đây sao?

Đức Kiệt sửa soạn xong, nhìn nàng mà rằng :
- Nhất định là phải chia tay. Tôi dặn trước điều này: Nếu gặp quan thuyền thì sau khi tôi đổi thuyền rồi, mời cô nương cứ thẳng tiến đường ai nấy đi. Trái lại, nếu gặp thủy khấu, cô nương nên hiểu biết tin ở sức chiến đấu của tôi, truyền bảo thủy thủ chớ hoang mang và sửa soạn chịu trận. Riêng phần cô nương, tôi khuyên không nên rời xa tôi trong khi lâm chiến. Sửa soạn đi, tôi ra trước.

Dứt lời, Chu Đức Kiệt đi thẳng ra khoang ngoài rót trà uống, rồi ra mũi thuyền đứng lố nhố đây đó nhìn cả về phía Đông Bắc. Chu Đức Kiệt lẳng lặng nhảy lên khoang thuyền nhìn vòng quanh chân trời và nhìn theo về hướng ấy.

Quả nhiên, một đoàn thuyền buồm từ xa trực chỉ về phía thuyền Hắc Long. Chàng không nhận ra số thuyền là bao nhiêu nhưng lượng đoán không đông lắm. Đường Trại Nhi ra tới nơi. Đức Kiệt nhìn thấy nàng đai nịt gọn gàng, lưng đeo trường kiếm, khá lẫm liệt oai phong.

Nàng ra thẳng phía mũi hỏi viên thuyền trưởng :
- Chưa nhận ra thuyền nào phải không?
- Thưa, còn xa quá. Chúng từ Đông bắc kéo tới vậy không phải hướng Ngao Sơn Đầu hay Linh Sơn đảo.
- Thuyền trưởng cho mọi người không phải phiên canh sửa soạn đi lỡ phải nghênh chiến.
- Mọi người sẵn sàng cả rồi.

Đường Trại Nhi quay lại toan nhảy lên mui với Đức Kiệt, thì không thấy chàng đâu cả. Có tiếng từ trên cao vọng xuống :
- Tổng cộng năm chiến thuyền. Buồm vuông tức không phải quan thuyền.

Đường Trại Nhi nhìn lên thấy Đức Kiệt đang đứng cheo leo trên trục chiếc buồm cao nhất, một tay chống vào cột buồm.

Nàng nhảy lên mui khoanh tay thành loa lên miệng hỏi lớn :
- Có gì khác nữa không?
- Không. Cánh buồm nào cũng vuông, kỳ lắm Viên thuyền trưởng nghe thấy vội chạy tới nói :
- Thưa nữ chủ, nếu là buồm vuông thì chắc chắn là Nụy khấu.

Đức Kiệt buông mình xuống mui thuyền nhẹ nhàng như lá rụng trước sự kinh ngạc thán phục của mọi người.
Đường Trại Nhi nghĩ thầm: “Con người này nổi danh trong chốn giang hồ cũng không sai, quả thật đích đáng”.

Đức Kiệt hỏi viên thuyền trưởng :
- Chắc chắn buồm vuông là thuyền của Nụy khấu?
- Dạ chắc chắn. Tôi đã mục kích và giáp chiến cùng bọn ấy hai lần. Chúng bị đàn áp vì thiểu số không địch lại số đông của chiến thuyền Linh Sơn đảo, nhưng dũng mãnh và quả cảm lắm. Cặp trường, đoản kiếm và cây thương của chúng rất đáng sợ. Trước khi áp mạn Nụy khấu hay bắn loại dần đối phương

Đức Kiệt hỏi Đường Trại Nhi :
- Chiến thuyền này có cung tên và đại mộc chống tên không? Bây giờ là lúc cần các thứ đó chống địch quân. Giàn đại mộc sang hai bên thành thuyền, các cung thủ núp cả vào sau đó chờ lệnh mới được bắn. Mặt khác người cầm lái phải hướng thuyền vào phía đại lục, may ra Nụy khấu không dám đuổi theo chăng

Đường Trại Nhi truyền lệnh cho thuyền trưởng hành động theo lời Chu Đức Kiệt. Thủy thủ người nào việc ấy răm rắp. Lát sau, các bản đại mộc đã được dựng khắp chung quanh khoang thuyền, và nơi tay lái. Chiến thuyền Hắc long bắt đầu đổi hướng chạy vào đại lục. Chu Đức Kiệt nhìn quanh, bảo Đường Trại Nhi :
- Cô nương không theo lời tôi cho thuyền chạy ven bờ. Nay Nụy khấu kéo đến nơi giữa biển khơi, ta quả bất địch chúng biết làm sao đây? Nghe đồn Nụy tặc thường có “Đồng sang” (súng đồng), nếu thuyền ta bị bắn tan tành, thì toàn thể chúng ta đều làm mồi cho cá biển

Đường Trại Nhi cười lạt :
- Chu lang vợ đẹp, em khôn gia đình đầy đủ hạnh phúc mới sợ chớ thiếp đây chết cùng Chu lang là mãn nguyện rồi.
- Không nên nói cố cùng như vậy! Một người lanh lợi như cô nương phải biết xử sự cho xứng đáng! Lý đâu lại chịu thua Nụy khấu ngay trong hải phận nước nhà! Trong tình thế bất lợi này, cô nương còn giấu giếm nhiều điều!

Đường Trại Nhi nhìn thẳng vào mắt Đức Kiệt :
- Thiếp giấu gì, Chu lang?
- Nụy khấu chỉ hay quấy rối trong hải phận Sơn Đông thôi, nghĩa là tôi muốn nói rằng chiến thuyền này còn chưa xa khỏi vịnh Hoàng Hải. Phải không?

Đường Trại Nhi nín thinh. Nàng thầm phục xét đoán của hiệp khách họ Chu.

Chu Đức Kiệt nóng ruột nói tiếp :
- Mất nhiều thì giờ quá! Thuyền này rời bến được bao lâu rồi!? Có chịu nói thật, tôi mới định liệu được!
Đường Trại Nhi buông sõng :
- Thuyền rời Linh Sơn đảo từ canh năm hôm nay và trực chỉ hướng nam.

Nghe vậy, Đức Kiệt cả mừng :
- Nếu thế thì ta chưa đi được bao xa. Chắc quan thuyền thế nào cũng rượt theo. Ta nên quay trở lại!
Nhưng Đức Kiệt bỗng im bặt vì năm chiến thuyền Nụy khấu giàn thành hàng chữ nhất chặn ngang đường về hướng bắc.

Thấy nguy ngập, Đường Trại Nhi nói :
- Chúng dự đoán ta quay về, nên chặn đường. Chu lang tính sao bây giờ?

Đức Kiệt nói :
- Nụy khấu biết chặn đường về của ta tức là chúng theo dõi từ lâu rồi, mà nhân viên thuyền này không ai để ý. Cô nương đừng hoang mang. Ta cứ vào bờ, gần bờ thêm chút nào hay chút ấy. Cho tôi mượn một cây cung thật tốt và bao tên

Đường Trại Nhi xưa nay đi đến đâu, ở đâu cũng chỉ biết lợi dụng người, ăn trên ngồi trước, chẳng hề chịu kém một ai. Lúc này trước sức hấp dẫn mạnh mẽ của Đức Kiệt, nàng thấy cảm phục, tôn kính chàng nhất mực và ngoan ngoãn phục tùng. Nàng tự kỷ lấy một cây cung tốt và bao tên đầy cầm đến cho Đức Kiệt. Chàng cầm lấy cây cung gỗ sơn đỏ gương thử thấy nhẹ tay nhưng dùng cũng được

Từ ngày Âu Dương trang dưới Tô Châu, chàng quen dùng thứ thiết cung ba tạ, trong khi tập luyện, và mỗi khi săn bắn chàng thường dùng cung một tạ. Bởi vậy nay dùng mộc cung, chàng thấy nhẹ nhõm dễ sử dụng lạ thường. Lúc này, thuyền Nụy khấu đến gần lắm rồi. Đức Kiệt lo lắng giặc sẽ dùng đồng sang, nhưng không, chúng lù lù tiến tới bao vây chiến thuyền Hắc Long vào giữa. Chàng bảo Đường Trại Nhi núp vào cuối thuyền trong ổ tay lái nhất quyết hướng thuyền vào đất liền, đoạn chàng đeo cung tên phi thân lên cột buồm đứng vào Viễn phòng bản quan sát lối giáp trận của Nụy khấu. Trên chiến thuyền Hắc Long các thủy thủ đều núp cả vào sau các tấm đại mộc.

Loạt tên thứ nhất từ các thuyền Nụy khấu bắn sang thuyền Hắc Long còn xa chút đỉnh nên rớt lẻ tẻ xuống nước. Cùng lúc ấy, Đức Kiệt tinh mắt trông thấy một đoàn thuyền buồm lố nhố rất xa trên phía bắc. Chàng mừng thầm chắc đó là đoàn quan thuyền đuổi theo chiến thuyền của Trại Nhi. Nhận xét kỹ càng, chàng thấy trên cột thuyền chỉ huy của giặc cũng có một người đứng trên Viễn phòng bản quan sát khắp đó đây, nên sợ tên ấy trông thấy đoàn thuyền lạ ở phía bắc mà báo động cho đồng bọn chăng. Đức Kiệt tính vừa tầm tay, giương cung lắp tên, nhằm tên ấy bắn một phát trúng vai. Bị thương, tên giặc bị té quỵ ngay trên bản Viễn phòng nhờ vướng lan can nên không đến nỗi rớt xuống sàn thuyền. Trong khi xông xáo, hình như bên thuyền Nụy khấu không để ý tới người bị thương ở trên cao.

Loạt tên thứ nhì do Nụy khấu bắn sang cắm cả vào thành thuyền và đại mộc tua tua như lông nhím vậy.

Chưa được lệnh, các thủy thủ Hắc Long núp nguyên tại chỗ.
Bọn Nụy khấu bắn rào rào, họ hét vang dậy. Chúng lái thuyền chạy vòng quanh chiếc Hắc Long, khiến sóng bể động mạnh, thuyền nào cũng chòng chành nghiêng ngả. Đứng trên Viễn phòng bản, Đức Kiệt nhằm bắn những tên Nụy khấu xông xáo nhất trên năm chiến thuyền. Không mấy chốc, chàng đã dùng hết ống tên, bèn nhảy xuống mui thuyền hạ lệnh bắn trả lại thuyền giặc. Đường Trại Nhi cũng chạy ồ ra đứng bên chàng nhưng Đức Kiệt vội kéo tay nàng nhảy xuống núp sau bản đại mộc.

Nguyên bọn Nụy khấu này là người Kinh Điều đảo thuộc Phù Tang quốc chuyên hoạt động trong Hoàng Hải, hoặc ven bờ nước Cao Ly, hoặc vào thẳng hải phận Sơn Đông đánh các thương thuyền. Bọn Nụy khấu Kinh Điều đảo này đã từng bị Náo Hải Thần Hắc Vân Long đánh thua hai lần nên chúng rất bực tức, chiêu tập người tài quyết chí báo thù. Tên đầu đoàn là Liễu Hạ Đằng nghe nói bên Xung Thằng trường đảo có một hảo hán võ nghệ tuyệt luân, mỹ danh Sơn Điền Dã Tử chuyên xử hai thanh Trường Nụy Kích Đao bách chiến bách thắng chưa hề gặp đối thủ. Sơn Điền Dã Tử to ngang nhưng thấp dáng điệu y hệt con gấu. Y búi tóc lên đỉnh đầu, mắt một mí xếch ngược, lông mi chổi xể giao nhau, râu quai nón, tiếng nói oang oang như lệnh vỡ. Sơn Điền thường đeo hai thanh Trường và Nụy đao (đó là thứ kiếm Phù Tang tên là Yatagan) gài ngay nơi thắt lưng. Lưỡi hai thanh đao này rất sắc, có thể chém đứt những vật rắn như gỗ, gạch, đá.

(Người Phù Tang có phương pháp đúc lưỡi thép rất sắc còn truyền lại tới bây giờ. Ngay các nước văn minh Âu tây, kỹ nghệ đúc thép tối tân tiến bộ rất nhiều cũng chỉ chế ra được thứ thép không han rỉ, nhưng không thể sắc hay cứng rắn đến độ chém đứt nổi các vật rắn chắc. Trong kỳ thế chiến thứ hai, khi bộ binh Phù Tang chiếm đóng Đ.D., dịch giả đã có dịp mục kích một viên sĩ quan, dòng dõi võ sĩ đạo, dùng thanh Yatagan gia truyền chặt vát hẳn một góc chiếc bàn granito, mà lưỡi thép vẫn không hề gợn mẻ. Có điều lạ là không hiểu tại sao người Trung Hoa lại gọi thứ khí giới ấy là: “Đao” mà không là “Kiếm”. Thứ Kích đao bao giờ cũng thành cặp, một Trường, một Nụy, hình thức như nhau, duy chỉ có lưỡi thanh Nụy ngắn hơn thanh Trường đến một nửa). Trong khi xung phong, Sơn Điền Dã Tử lúc sử dụng thanh Trường kích đao, lúc thanh Nụy vô chừng. Cũng có khi y sử dụng cả hai, xông xáo hằm hè cực kỳ dữ dội không khác chi mãnh hổ.

Khi Liễu Hạ Đằng đến Xung Thằng trường đảo mời, Sơn Điền Dã Tử có hỏi rằng :
- Đại ca mời tôi có mục đích gì khác hơn hay là phụ tá làm thủy khấu chăng?

Vốn nghe tánh Sơn Điền tánh tình khí khái, Liễu Hạ Đằng lựa lời đáp :
- Có mục đích khác nữa, nhưng e nói ra hiền đệ cho là tôi đa sự, không chịu hợp tác.

Sơn Điền cười khà :
- Phải nói cho ta hay mới được. Tôi ưa biết công việc mà tôi sẽ phải làm.
- Mấy lần tôi vào miền duyên hải Sơn Đông đều đụng độ với tên Náo Hải Thần Hắc Vân Long và bị nó đánh thua đến nỗi tôi phải nhảy xuống biển trốn mới thoát chết. Chuyến cuối cùng, trong khi giao tranh, Hắc Vân Long mạt sát ta là bọn Nụy khấu không có người tài mà dám vào hoạt động trong hải phận Trung Quốc. Sức tôi hèn kém không đánh nổi đã đành, nhưng nó dám mạt sát toàn thể dân tộc ta thì quả là một sự không thể tha thứ được. Dò hỏi khắp nơi, không gặp người tài sức khả dĩ áp đảo nổi Hắc Vân Long, mới đây, nghe danh hiền đệ nên tôi thân đến yết kiến, yêu cầu hiền đệ giúp tôi, đánh Hắc Vân Long một trận tơi bời cho y bớt kiêu căng, hỗn xược khinh dân tộc ta bất tài.

Nghe Liễu Hạ Đằng nói vậy, Sơn Điền Dã Tử sắc diện đỏ gay, đứng phắt dậy, hai tay chống nạnh lên sườn, đi đi lại lại như con hùm dữ. Lát sau, Sơn Điền đứng sững lại trước mặt Liễu Hạ Đằng hỏi :
- Nếu tôi nhận giúp, đại ca chịu để tôi điều khiển đoàn thuyền đi tìm Hắc Vân Long ngay?

Liễu Hạ Đằng cả quyết :
- Tùy ý hiền đệ điều khiển, ngu huynh chỉ đóng vai dẫn đường.

Sơn Điền Dã Tử vỗ vai Liễu Hạ Đằng :
- Nếu vậy, tôi ưng chịu giúp đại ca. Bao giờ đi?
- Đi được ngay càng hay.
- Đại ca để lại số tiền cho gia mẫu chi dùng, tôi sẽ đi ngay.

Liễu Hạ Đằng mở bọc hành lý lấy một nén vàng đưa cho Sơn Điền :
- Hiền đệ hãy cầm số vàng này đưa cho lệnh mẫu chi dùng.

Sơn Điền lẳng lặng nhận vàng vào nhà trong, lát sau trở ra lưng đeo khăn gói, đai dắt Trường Nụy Kích Đao. Y bảo :
- Nào đi!

Liễu Hạ Đằng ngạc nhiên :
- Xong rồi ư?

Sơn Điền Dã Tử cười vang :
- Tôi hỏi đại ca tiền, đại ca cho vàng yêu cầu tôi đi cùng. Nay tôi đi ngay theo lời hứa, đại ca lạ lắm sao?

Liễu Hạ Đằng vội chữa :
- Tôi ngạc nhiên ở chỗ hiền đệ lanh lẹ giản dị. Đức tính ấy thiệt đáng quý!

Hai người ra khỏi cổng tre, Sơn Điền chỉ cây soan gốc lớn bằng bắp đùi đoạn rút phắt thanh Trường kích đao lưỡi lóng lánh sáng ngời dưới ánh mặt trời mà rằng :
- Liễu Hạ Đằng đại ca chém đứt nỗi cây xoan kia không?

Hạ Đằng nhìn gốc cây ước lượng, rút trường đao đáp :
- Chắc không nổi, nhưng cũng thử xem sao?
Dứt lời, y hoa đao nhảy bổ tới chém mạnh một nhát, lưỡi đao đâm ngập hẳn vào gốc cây. Liễu Hạ

Đằng dùng sức nhấc tới ba lần mới rút được võ khí ra :
- Rắn quá! Tôi lo gãy đao. Hiền đệ thử không? Thanh Trường đao của hiền đệ có vẻ lâu đời rồi hả?

Sơn Điền Dã Tử cầm ngược kích đao đưa ra trước mặt cho Liễu Hạ Đằng coi :
- Thứ võ khí này đã bốn đời do các võ sĩ họ Sơn Điền sử dụng rồi. Cầm thử xem?

Nói đoạn, Sơn Điền liệng thanh đao cho Liễu Hạ Đằng đón lấy coi.

Họ Liễu nhìn kỹ, trả đao cho Sơn Điền :
- Lưỡi đao này thật hiếm có. Hiền đệ thử chém cây xoan xem nào.
Hạ Đằng vừa dứt lời thì Sơn Điền đã hai tay cầm cán đao hoa lên mấy đường, lưỡi đao loang loáng rít lên trong không khí, y nhảy tới bên gốc xoan dùng toàn lực chém mạnh.

Soạt! Làn đao vút lên như chớp giựt. Gốc xoan bị tiện đứt đôi, nửa cây đầy cành lá đổ xuống bên đường, cát bụi mù mịt.

Liễu Hạ Đằng tấm tắc khen ngợi :
- Lưỡi đao thiệt tốt, nhưng dũng lực của hiền đệ mới càng ghê gớm. Thiên hạ đồn hiền đệ là một dũng sĩ vô địch kể cũng danh bất hư truyền.

Sơn Điền nói :
- Đao tốt, dũng lực là một chuyện, nhưng cũng phải biết cách chém, lưỡi đao mới qua. Gốc cây xoan này thì còn chém đứt được, nếu lớn hơn chút nữa, tiểu đệ cũng khoanh tay chịu hàng.

Các người lối xóm kéo ra xem Sơn Điền Dã Tử thử Kích đao, ai nấy đều lắc đầu thè lưỡi thán phục. Sơn

Điền tra đao vào vỏ, rồi cùng Liễu Hạ Đằng tiến bước. Y vẫy tay chào lớn :
- Quý vị ở lại nhà nhé, tôi đi ít lâu trở về sẽ mua quà tặng. Nhờ để ý tới lão mẫu dùm.
Mọi người đều niềm nở chào lại :
- Liệu về mau lẹ nhé. Xóm này nhờ Sơn lang lắm đó!

Hai người bạn mới vừa đi vừa chuyện trò không mấy chốc đã ra tới bến. Liễu Hạ Đằng chỉ chiếc thuyền lớn đậu lù lù ở giữa đám ngư thuyền mà rằng :
- Chiến thuyền của chúng ta kia kìa.

Sơn Điền đứng dừng ngắm nghía :
- Khá lắm! Bốn buồm lớn, nhỏ phải không? Tôi ưa thứ thuyền này hơn là những thứ lớn hơn nữa, kềnh càng bất lợi.
- Phải rồi, bốn buồm. Thuyền lớn hơn cũng có lợi ở chỗ đem theo được nhiều bộ hạ hơn. Sơn Điền hiền đệ thạo về thủy chiến?

Sơn Điền mỉm cười nhìn bạn đồng hành :
- Ba năm trước, tôi ở trong thủy đội của Lục Xuyên Hầu bên Quang Đảo. Vì một chuyện tức mình, tôi hạ hai tên thủy tướng của Lục Xuyên và bỏ chạy về đây ẩn danh.

Hai người xuống bãi cát đi qua các ngư thuyền, rồi leo lên chiến thuyền mà Sơn Điền thấy đằng mũi đề hai chữ “Kinh Điều”.
- A! Chiếc này là soái thuyền?

Liễu Hạ Đằng gật đầu :
- Tôi dùng thuyền chỉ huy rước hiền đệ cho long trọng.
- Cảm ơn hảo ý. Tôi chỉ e phụ lòng quý mến của đại ca thôi.

Vỗ vào cán Kích đao, y nói tiếp :
- Dù sao đại ca cũng có thể tin ở cây đao này được. Đao còn thì Sơn Điền này còn làm nên chuyện.

Các thủy thủ tặc khấu thấy đầu lãnh đi với một dũng sĩ oai phong lẫm liệt lên thuyền, giàn thành hàng lối chào. Để mua lòng Sơn Điền, Liễu Hạ Đằng nghiêm nghị bảo các thủ hạ :
- Tướng quân Sơn Điền Dã Tử đây là biểu đệ ta. Các ngươi phải tuân lệnh Tướng quân cũng như ta, nghe?

Bọn thủ hạ dạ vang. Chiến thuyền Kinh Điền cất neo trở về căn cứ Nụy khấu. Sơn Điền Dã Tử ở Kinh Điều đảo mấy hôm cho đủ thì giờ quen thuộc các bạn mới, và xem xét thủy đội xong xuôi là đòi đi tìm Hắc Vân Long ngay.

Liễu Hạ Đằng ưng thuận, định đốc xuất toàn thể chiến thuyền đi theo. Sơn Điền can :
- Bộ đại ca định đi đánh Hắc Vân Long báo thù chơi hay là có ý muốn chiếm đại lục Trung Quốc vậy?
- Đánh Hắc Vân Long một trận tơi bời, chớ chiếm sao được Trung Quốc với một nhóm chiến thuyền cũ kỹ này?

- Đánh Hắc Vân Long mà đem toàn số chiến thuyền của ta theo thì nhiều quá. Đại ca quên rằng chúng ta cũng là phường cướp bể như Hắc Vân Long. Hơn nữa, ta sang tận hải phận ngoại bang để tìm đánh một bạn đồng nghiệp, đại ca huy động toàn lực như vậy há không sợ thủy đoàn tuần tiễu Trung Hoa bắt gặp thì tất cả đều lâm nguy sao? Huy động năm chiến thuyền lớn, gọn gàng và đoàn thủy thủ tinh nhuệ là đủ rồi. Lỡ gặp thủy đoàn ngoại bang, ta phân tán cũng dễ dàng không lo ngại.

Liễu Hạ Đằng nói :
- Thủy lực của Hắc Vân Long cũng đông và ghê gớm lắm. Chúng ta chỉ vỏn vẹn năm chiến thuyền thì địch sao lại?

Sơn Điền phản đối :
- Thủy đoàn của y tuy đông, nhưng tôi quyết rằng, vì lẽ sợ đụng độ với quan thuyền, y không khi nào dám ngang nhiên kéo toàn lực nghênh ngang ven biển như vậy. Khi gặp Hắc Vân Long, dám đoán chỉ gặp một phần lực lượng của y thôi.
- Số là hiền đệ không hiểu, tôi muốn vào tận sào huyệt của họ Hắc tại Linh Sơn đảo đánh cho nó một trận tan tành mới hả giận.

Sơn Điền cả quyết :
- Tôi chỉ chủ trương dùng năm chiến thuyền thôi. Khi gặp Hắc Vân Long áp đảo một thuyền y tất sẽ áp đảo được toàn thể.

Biết Sơn Điền tự tin không cần tới số đông, Liễu Hạ Đằng chiều và lập tức huy động năm chiến thuyền ăn ý nhất ra khơi, tiến về hướng vịnh Trực Lệ. Thuận gió, đoàn thuyền Nụy khấu tiến lẹ, tảng sáng ngày thứ ba thì nhập hải phận Sơn Đông. Sương mù dày đặc, Liễu Hạ Đằng và Sơn Điền Dã Tử cùng ở trên thuyền chỉ huy Kinh Điều. Hạ Đằng nhìn địa bàn toan hướng mũi thuyền về phía Linh Sơn đảo thì chợt thấy một chiếc thuyền quen mắt vượt sóng tiến về hướng nam. Nhờ ở sương mù chỗ dầy, chỗ đậm, Liễu Hạ Đằng nhận ra chiến thuyền Hắc Long mà trái lại bên thuyền Hắc Long đoàn thủy thủ không trông thấy thuyền Nụy khấu.

Liễu Hạ Đằng mừng rỡ bảo Sơn Điền Dã Tử :
- Chúng ta may mắn quá! Chiến thuyền vừa rồi là của Hắc Vân Long. Trong hai trận đụng độ của với y trước kia, Vân Long đều ngự trên thuyền này. Hiện thời không hiểu y đi đâu mà chiến thuyền đó độc xuất, ta theo đánh đi?
- Ta nên theo xa xa chờ sương mù tan hẳn sẽ áp mạn đánh mới sướng tay.
Liễu Hạ Đằng đồng ý.

Về phần chiến thuyền Hắc Long nhân viên lục đục gần suốt đêm sửa soạn để đi xa theo lệnh của Đường Trại Nhi, nên lúc ra khơi trừ vài thủy thủ có phận sự điều khiển lái và buồm cho thuyền chạy còn thì ngủ êm hết cả. Họ thuộc hải phận Sơn Đông nên an tâm không lo nguy hiểm, chẳng dè gặp đúng hôm Nụy khấu tới.

Chờ lúc sương mù tan hết Liễu Hạ Đằng hạ lệnh cho đoàn thuyền giương thêm buồm đuổi theo, giàn thành chữ nhất chặn lối về thuyền Hắc Long. Sơn Điền bảo Liễu Hạ Đằng :
- Đại ca nên ra hiệu lệnh cho các thuyền khác lúc đuổi kịp thuyền địch thì chỉ được bao vây và dành phần áp mạn cho thuyền chỉ huy và mặc tôi chiến đấu với Hắc Vân Long. Như vậy, khi thua trận, lỡ y có trốn thoát, không còn viện được lẽ quả bất địch chúng.
- Hiền đệ nói phải. Xử sự như vậy mới là hảo hán anh hùng chớ! Tôi chắc chắn ở sự thành công của hiền đệ.
- Tôi chưa từng được mục kích phương pháp sử dụng võ thuật Trung Quốc như thế nào, nhưng tôi tin ở sức tôi và hai cây đao này!

Nhờ có Sơn Điền, nên khi Nụy khấu đuổi kịp, chiến thuyền Hắc Long chỉ bị vây và bị tấn công lấy lệ bằng các loạt tên để mở đường cho chiến thuyền Kinh Điều áp mạn. Sơn Điền, Liễu Hạ Đằng tuốt võ khí đứng ở mũi thuyền quan sát cuộc bao vây. Hai người lấy làm lạ không thấy bên thuyền địch bắn trả lại mà cứ thỉnh thoảng lại có một mũi tên từ đâu bay tới hạ một thủy thủ bên đoàn thuyền nhà.

Mãi sau, nhìn một thủy thủ trúng tên trên thuyền Kinh Điều, thấy đuôi tên chổng ngược, thấy đuôi tên chổng ngược, Sơn Điền mới nhận ra Chu Đức Kiệt đứng cheo leo trên Viễn phòng bàn, ẩn hiện sau một cánh buồm, liền chỉ cho Liễu Hạ Đằng coi :
- Tên địch đứng trên cao kia bắn lợi hại quá! Bách phát bách trúng, phải chăng đó là Hắc Vân Long?

Liễu Hạ Đằng cố nhìn, mãi sau mới nhìn thấy mặt Đức Kiệt, y nói :
- Không phải! Tên nào lạ mặt quá! Có lẽ nó là thuộc hạ của Hắc Vân Long.

Sơn Điền bảo thủy thủ đưa cung tên, toan nhằm người đứng trên Viễn phòng bàn bắn trả lại thì vừa lúc Chu Đức Kiệt nhảy xuống mui thuyền. Một thiếu phụ xinh đẹp từ ổ lái chạy tới đứng bên tráng sĩ kỳ lạ. Sau đó cả hai người cùng núp sau đại mộc, tránh tên.

Sơn Điền lấy làm lạ, bảo Liễu Hạ Đằng :
- Ủa! Sao không thấy Hắc Vân Long? Hay là đại ca nhận lầm thuyền địch?
- Làm gì có chuyện ấy! Hai chữ Hắc Long còn đề rành rành ngay mũi thuyền chạm chổ đầu rồng kia thôi
- Được lắm! Ta cứ áp mạn đánh, sau sẽ hay.

Giữa lúc hai người đang bàn tán thì bên chiến thuyền Hắc Long, Chu Đức Kiệt hạ lệnh cho thủy thủ nhả tên sang thuyền địch. Sơn Điền, Liễu Hạ Đằng vội núp vào một cột buồm lớn tránh tên và hạ lệnh áp mạn. Hai chiến thuyền Kinh Điều, Hắc Long lướt nhẹ sát nhau. Nhân viên cả hai bên cùng sợ đụng mạnh bể hông thuyền. Nụy khấu nhân dịp ấy tung câu liêm ra móc thuyền địch dìu hai mạn thuyền với nhau. Phần thủy thủ Hắc Long nhất định xô ra chặt dây nhưng chi chặt được vài cái thì hai mạn thuyền đã gắn chặt với nhau. Thủy thủ hai bên cùng reo hò xông cả ra mạn thuyền xáp chiến, đâm chém bừa bãi. Sơn Điền và Liễu Hạ Đằng cùng nhảy lên mui tàu, Hạ Đằng dùng tiếng Trung Hoa rất thạo :
- Ai là Hắc Vân Long, ra đây cùng Liễu Hạ Đằng nói chuyện!

Nghe vậy, Đường Trại Nhi nói nhỏ với Chu Đức Kiệt :
- Bọn này là Nụy khấu trước kia bị Hắc Vân Long đánh thua nên muốn trả thù. Chúng lầm tưởng có họ Hắc trên thuyền. Ta trả lời rằng không có Vân Long ở đây, may ra chúng bỏ đi chăng?

Chu Đức Kiệt bảo Liễu Hạ Đằng :
- Đại ca lầm rồi. Hắc Vân Long là ai chúng tôi không quen biết.

Liễu Hạ Đằng trừng mắt :
- Ta biết rõ chiến thuyền này của Hắc Vân Long, cớ sao các ngươi chối cho y? Ta chỉ cần nói chuyện với y thôi, không can gì đến mọi người.

Chu Đức Kiệt điềm nhiên :
- Không tin, mời đại ca qua đây khám xét xem, nếu thấy Hắc Vân Long muốn làm gì y thì làm.
- Nói vậy không nghe được! Giao mỹ nhân cho ta làm tin và bảo Hắc Vân Long đến chuộc thì được.

Biết không tránh được xung đột, Chu Đức Kiệt bảo nhỏ Đường Trại Nhi :
- Thế nào cũng xung đột. Tôi sẽ nhảy sang thuyền giặc chiến đấu, trong khi đó thì cô nương liệu bề đào tẩu, nhé?

Trại Nhi dùng dằng :
- Ai lại thế! Để Chu lang lại nơi nguy hiểm, chạy lấy một mình thì dù thác thiếp cũng không khi nào chịu như vậy.

Đức Kiệt gắt :
- Đừng làm mất thì giờ! Đoàn quan thuyền đến đằng xa kia rồi. Chính vì lý do đó tôi bảo cô nương chạy. Thiệt ra, tôi sợ gì lũ Nụy khấu này? Muốn tỏ tình mến thương nhau, hãy nghe lời tôi. Sau này tái hội...

Thấy cặp nam, nữ nọ thì thào với nhau, Liễu Hạ Đằng không hiểu, nóng ruột quát lớn :
- Thế nào? Mỹ nhân có chịu làm con tin theo ta không?

Đức Kiệt nghiêm nghị :
- Nàng ưng thuận nhưng với điều kiện là trong bọn các ngươi, ai dám đấu võ với ta? Nếu ta thua thì tùy ý các ngươi đem nàng đi đâu cũng được. Nhưng trái lại các ngươi thất trận thì phải rút lui tức khắc! Được không?

Liễu Hạ Đằng quay lại nói bằng tiếng Phù Tang với Sơn Điền Dã Tử, đoạn hỏi Đức Kiệt :
- Vị võ sĩ đạo này muốn nghinh tiếp ngươi trong một trận đấu đao. Vậy đấu bên thuyền nào?

Nhân dịp thuận lợi. Đức Kiệt đáp :
- Đấu bên thuyền ngươi, hãy dọn dẹp chỗ đấu đi cho sạch và neo thuyền cho đỡ bồng bềnh.

Trong khi hai tên Nụy khấu đốc thúc thủy thủ sửa soạn nơi đấu ở mũi thuyền còn buông neo bên chiến thuyền Hắc Long, Chu Đức Kiệt bảo Đường Trại Nhi :
- Thuyền địch buông neo, tôi sẽ bất chợt chặt đứt dây móc áp mạn khi sang bên thuyền chúng. Cô nương liệu bảo thủy thủ sẵn sàng chạy liền, mặc tôi cản Nụy khấu nghe.

Nghe vậy, Đường Trại Nhi biến sắc, cặp mắt huyền mơ màng nhìn Đức Kiệt, miệng hoa thổn thức :
- Chu lang!

Nàng không muốn rời người mà nàng yêu thương thành thật cũng như nàng không nỡ bỏ đi giữa lúc - theo ý nàng - Đức Kiệt có thể lâm nguy. Đức Kiệt hào hùng, kiêu dũng như vị thần tướng đứng trước mặt nàng. Biết nam giới đã nhiều, nhưng chưa bao giờ nàng gặp một trang hảo hán anh hùng chân chánh như chàng. Hạnh phúc thay, vị nội tướng của chàng! Yêu bao nhiêu, cảm mến Đức Kiệt bao nhiêu, Trại Nhi càng tủi phận bèo dạt mây trôi bấy nhiêu. Bao nhiêu hy vọng tràn ngập tim nàng từ hôm qua khi dùng Mê Hồn phấn bắt được chàng, nay phút chốc tan như mây khói! Thôi, thế là xong!

Cuộc trùng phùng mà bao lâu nay nàng đặt cả tâm tư mong ước đã hiện hình trong thời gian ngắn ngủi, và giây phút này đây trước viễn tượng chia ly không hạn kỳ tái ngộ. Trại Nhi cảm thấy bâng khuâng xao xuyến, tim nàng tan tành như bãi chiến trường... Từ đây nàng lại là con thuyền không bến, lênh đênh trôi dạt má hồng phận bạc kiếp sống phù du...

Đau đớn hiện trên khuôn mặt xinh đẹp, Trại Nhi cầm lấy tay Đức Kiệt, năn nỉ :
- Chu lang, đừng khinh thường tay kiếm của thiếp, thiếp có thể giúp chàng...

Đức Kiệt khích lệ :
- Cô nương hãy tỏ cảm tình bằng cách nghe lời tôi. Tình thế vô cùng cấp bách. Quan thuyền đuổi kịp vây chặt, chạy sao thoát? Hãy đi đi? Non xanh kia chẳng đổi, nước biếc nọ còn dài, trên bước giang hồ, lo chi chẳng ngày hậu hội? Tay kiếm của cô nương vô ích, mặc bọn Nụy khấu phần tôi. Vả lại, quan thuyền sắp tới nơi rồi, chúng sẽ đồng loạt sa lưới.

Trại Nhi rớm lệ nhìn chàng :
- Nhưng lúc này Chu lang đơn thương nhất mã.
- Không lo! Dù chúng vạn mã, muôn binh cũng không đáng kể nữa là!

Bên chiến thuyền Nụy khấu đã sửa soạn xong, Liễu Hạ Đằng vòng tay bắc loa miệng gọi :
- Nào, sang đây! Từ biệt chưa chán ư?
Đức Kiệt nhẹ nhàng rút tay ra khỏi hai bàn tay trắng nuột mềm mại của Trại Nhi. Nhìn nàng, chàng mỉm cười :
- Chúc cô nương thượng lộ bình an, gặp nhiều may mắn... Nhớ bất chợt cho thuyền chạy, nghe?
- Chu lang...

Đức Kiệt đã thoăn thoắt nhảy vút lên thành thuyền, bất chợt rút phắt Thất Tinh đao đưa nhẹ mấy nhát cắt đứt dây chão áp mạn. Hai chiến thuyền rời hẳn ra. Từ thành chiếc Hắc Long, Đức Kiệt nhảy sang thuyền địch trước sự công phẫn của hai tướng Nụy khấu. Liễu Hạ Đằng tiến lên quát :
- Ngươi gian ngoa hứa như vậy ư?
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 1
 
Posts: 687
Joined: Wed Nov 23, 2011 5:39 pm
I am: Reader

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp

Postby Editor 1 » Mon Aug 25, 2014 11:26 pm

Hồi 44 (Tiếp)


- Ngươi gian ngoa hứa như vậy ư?

Đức Kiệt trợn mắt mắng :
- Bọn tặc khấu các ngươi thì hứa và giữ lời làm chi cho mất công! Bộ các ngươi lo thuyền ta chạy và lo luôn cả cho ta đơn thân giữa bọn sài lang các ngươi sao?

Liễu Hạ Đằng chưa kịp đáp thì Sơn Điền Dã Tử đã dũng mãnh xô lên trước nhíu cặp mày chổi xể, trợn mắt tròn xoe, dữ như Hứa Chử thời Tam Quốc, gườm gườm nhìn Đức Kiệt. Đoạn y quay bảo Liễu Hạ Đằng :
- Thiếu chi mỹ nhân mà tranh luận mất thì giờ? Xong trận này về Trường đảo, tôi sẽ dẫn đại ca đến một nơi mà mỹ nữ Phù Tang nhan sắc tuyệt vời! Muốn bao nhiêu cũng có! Lùi xuống, để tên này ta lo!

Dứt lời, Sơn Điền quắc mắt nhìn đối phương, chuyển bộ cước đứng xoạc hai chân, cầm ngược thanh Trường kích đao lưỡi long lanh phản chiếu ánh Thái dương có ý nạt đối thủ bằng thứ khí giới đặc biệt của y.

Đức Kiệt mỉm cười, khen thầm địch thủ dũng mãnh. Nhìn qua khí giới của Sơn Điền không hẳn là kiếm mà cũng chẳng ra đao, nhưng Đức Kiệt biết là lợi hại. Chuyến này là lần thứ nhất chàng đụng độ với một ngoại nhân và ngoại nhân ấy là người của một quốc gia nổi danh có môn Võ Đạo đặc biệt. Môn Võ Đạo đó như thế nào? Hiện thời chàng sắp biết rõ. Chỉ hiểu rằng lúc này trước mặt chàng, trang hảo hán đang diễn võ dương oai, thẳng thắn phô bày võ khí kia bề ngoài lợi hại, tuy rằng chưa hiểu công phu của y điêu luyện đến đẳng cấp nào.

Về phần Sơn Điền Dã Tử, giữa lúc y dương oai phô bày thanh Kích Đao, quắc mắt nhìn chầm chập đối phương mới là lúc y nhận thấy chân giá trị về sự cân đối, dũng lực, biểu lộ bởi thân hình lực sĩ cực đẹp
của chàng hảo hán giang hồ mã thượng đang điềm tĩnh, tươi cười đứng trước mặt y.

Xưa nay, mỗi khi Sơn Điền lâm trận, mỗi khi y biểu diễn thế võ dữ dội để phô trương món võ khí lợi hại của y, chưa bao giờ y thấy đối phương không thận trọng, không nhận xét rõ ràng. Sơn Điền nhận thấy rằng sau khi đối thủ nhận rõ y thì sự lo sợ, ngần ngại hiện ngay ra trong cặp mắt địch, chân tay cử động mất mạch lạc, nhịp nhàng. Lúc ấy, y chỉ có việc chuyển mình thật dữ dội sang thế võ khác, đồng thời gầm lên một tiếng, chỉ phắt mũi Kích Đao vào phía đối phương là kẻ địch mất thần lui luôn một mạch bốn năm bước, hay ít ra cũng lùi quanh vòng chiến để tránh sức nhìn điện tử của cặp mắt diều hâu và mũi Kích Đao lăm lăm như muốn xiên thẳng qua lồng ngực kẻ nào dám chống đối với nó.

Địch thủ hiện thời của y là người Hán. Hơn nữa, trận đấu sắp tiếp diễn ra đây ở trong hải phận Sơn Đông, vậy có lẽ tráng sĩ kia là người Sơn Đông chăng? Tuy chưa lần nào Sơn Điền đụng độ với ngoại nhân, nhưng từ hôm theo giúp Liễu Hạ Đằng, y luôn luôn nghe mọi người trong bọn nói đến Sơn Đông nghịch địa rất mạnh mẽ, quả cảm nếu không gọi là liều mạng. Phải chăng gã địch thủ này là một tên liều mạng nên y mới khinh thường Tử Thần đại diện bởi Sơn Điền Dã Tử? Sơn Điền còn nhớ lời dạy của Sơn Điền Thất Lang - phụ thân y - sau khi đã truyền hết môn Võ Đạo gia truyền cho y.

Lời nói ấy lúc này bỗng dưng vang dội trong trí óc y:
“Dã tử! Ta đã truyền hết nghề nhà cho con. Đừng quên rằng môn Võ Đạo của họ Sơn Điền là một trong tám danh gia của Phù Tang tam đảo. Ta nghèo, nhưng võ nghệ của dòng họ Sơn Điền không nghèo. Với cặp kiếm Kích đao ta nhường lại cho con đây, con có thể kiếm ra tiền ở bất cứ phương trời nào. Mãi võ lấy tiền, sát nhân cho phải lẽ là những điều rồi đây con phải làm, miễn sao cho đích đáng.

Trong trường hợp ngoại chinh, nếu sau này con đầu quân, ta nhắc cho một điều là nên rất thận trọng trước một võ sĩ Hán tộc. Ta đã có dịp giao tranh với họ và kinh nghiệm sự lợi hại, tinh vi của môn võ người Hán. Biết đâu con sẽ như ta có dịp giao chiến với họ, với người có bản lãnh cao hơn những đối thủ của ta? Căn cứ vào kinh nghiệm rút trong những trận ngoại đấu ấy, ta thấy phải cần dạy bảo con ngay sau khi lãnh cặp Kích đao gia truyền này để bảo vệ thanh danh dòng họ Sơn Điền”.

Dã Tử nhận vàng, giúp sức Liễu Hạ Đằng để đánh một tên thủy khấu kiệt liệt Hán tộc. Hành động ấy không ô danh dòng họ Võ Đạo, trái lại giúp Liễu Hạ Đằng còn hiếm dịp để y được giao tranh với một đấu thủ người Hán có thành tích cao cường mà từ ngày phụ thân y về Trời, y vẫn ao ước có dịp so đao để phân tài cao thấp giữa môn Võ đạo của dòng họ y và môn võ Hán tộc. Dịp đó đã đến, thanh kích đao của Dã Tử sắp lấy máu địch thủ ngoại nhân, hoặc chính ngoại nhân đó sẽ lấy máu y. Đối với Dã tử, trận đấu sắp khởi diễn đây có điểm quan trọng: so sánh hai môn võ, danh dự của dòng họ y và chính mạng sống của y. Đối thủ kiêu dũng kia đã không phải là Náo Hải Thần Hắc Vân Long thì là ai?

Tức thật, không biết tiếng để mà hỏi cho biết. Lỡ hạ lầm tên vô danh tiểu tốt chỉ có mã ngoài thì sao?

Hỏi đã vội chi!
Nghĩ vậy, Sơn Điền Dã Tử bỗng nhiên thâu đao, lùi bước, quát hỏi đối thủ bằng tiếng Phù Tang.

Liễu Hạ Đằng hiểu tình hình, bèn thông ngôn với Đức Kiệt :
- Vị võ sĩ đạo đây muốn biết danh tánh của ngươi.

Đức Kiệt đáp :
- Dù nói tên ta thì bọn Nụy khấu ngoại nhân các ngươi cũng không hiểu biết chi cả. Tuy vậy, đã hỏi, ta cũng cho nghe: Sơn Đông Đơn Đao Chu Đức Kiệt danh trấn giang hồ là ta.

Liễu Hạ Đằng lập lại với Sơn Điền Dã Tử.

Sơn Điền thích chí cười vang :
- Ha, ha! Ta đang muốn so đao với một võ sĩ Hán tộc hữu danh, thì kẻ đó đang đứng trên chiến thuyền này! Khoái quá! Liễu đại ca cũng nên cho nó biết tên dòng họ nhà tôi. Nói cho nó biết kẻo lát nữa nó oán hận!

Liễu Hạ Đằng chỉ Sơn Điền bảo Đức Kiệt :
- Võ sĩ đây là Sơn Điền Dã Tử, một trong tám danh gia Võ Đạo của Tam Đảo, cặp Kích đao truyền thống kia đã từng uống máu nhiều địch thủ anh hùng, nếu ngươi có điều chi ngần ngại cứ việc trình bày. Võ sĩ đạo nước ta rất rộng lượng, thương kẻ yếu hèn.

Từ lúc khởi đầu đến nay, Đức Kiệt bình tĩnh là vì chàng cho rằng trận đấu này cũng như các trận đấu khác, gặp giặc thì đánh, không có gì đáng quan tâm. Nhưng bây giờ chàng hiểu thái độ của đối phương. Thì ra y muốn giao chiến để thử thách, so sánh hai môn võ, hai danh gia. Được lắm, ta cũng muốn thử xem tài sức của Nụy khấu cao đến mức độ nào!

Nghĩ vậy, chàng bảo luôn :
- Ta muốn hiểu tại sao Võ sĩ đạo lại hiện diện trong đoàn thủy khấu. Mạo danh thì chết đa!
Sơn Điền rất tinh ý, nhận thức được ý nghĩa câu hỏi của đối phương nên y căn vặn Liễu Hạ Đằng. Họ

Liễu không dám nói sai đành thuật đúng nghĩa câu hỏi của Đức Kiệt.

Chạm lòng tự ái, Sơn Điền Dã Tử nhìn thẳng vào mặt đối thủ, vỗ ngực nói một thôi, một hồi những gì mà Đức Kiệt như vịt nghe sấm chẳng hiểu chi cả, chỉ biết là Sơn Điền có vẻ mích lòng.

Liễu Hạ Đằng thông thuật :
- Sơn Điền Dã Tử võ sĩ tới đây giúp ta cốt ý đánh bại Hắc Vân Long rồi trở về Trường đảo. Nhưng rất bằng lòng được gặp ngươi là con người kiệt liệt, danh trấn giang hồ. Tuy vậy, võ sĩ cũng muốn cho người hay rằng, có thực tài hãy giao đấu, kẻo để mất mạng đó.

Chu Đức Kiệt cười ròn rã :
- Ngươi bảo Sơn Điền an tâm. Ta lo thứ công phu võ nghệ của y chưa được tuyệt hảo!
Liễu Hạ Đằng thông ngôn nguyên văn. Sơn Điền Dã Tử nổi giận đùng đùng trừng mắt nhìn Chu Đức

Kiệt, đoạn nhảy phắt ra chỗ cũ biểu diễn một thế võ khác, cầm tréo Trường kích đao cho đối thủ coi.

Sợ Đức Kiệt không hiểu tác động ấy, Sơn Điền đưa tay tả chỉ vào lưỡi Kích đao để giới ý địch thủ.
Chu Đức Kiệt thừa hiểu, Sơn Điền là một võ sĩ muốn đấu thực sự. Tánh tình y ngay thẳng, phô cho đối thủ biết rằng y có báu đao nên đề phòng kẻo lúc thua lại oán hận về sự xấu tốt chênh lệch của võ khí. Đã vậy, y cũng cần hiểu giá trị của bảo đao Thất Tinh.

Từ nãy, Đức Kiệt đã gài đao vào bao, chàng điềm đạm vào vòng chiến rút phắt Đơn đao hoa tròn trên đỉnh đầu một vòng, đao ảnh xanh lè, làn đao rít lên như tiếng xé lụa. Chàng biểu diễn mấy đường bái tổ tuyệt đẹp của bài Chu Gia Phong Vũ Đao và thủ luôn thế Võ Tòng Đả Hổ cực oai dũng.

Giữ nguyên bộ vị, Sơn Điền Dã Tử chăm chú nhìn võ khí đối phương và nhận xét lối khởi chiến hoa mỹ dũng mãnh của địch thủ. Y khen thầm Đức Kiệt nhưng tự hào sức vạn nhân địch vẫn chưa hết ỷ ở thành Trường kích đao của mình. Trái lại, Liễu Hạ Đằng so sánh nhận xét thấy thanh Đơn đao của Chu Đức Kiệt lưỡi dài bằng Trường kích đao của Sơn Điền, vẫn ngắn hơn một phần ba, nhưng bản đao rộng hơn gấp ba lần, sắc đao long lanh khác hẳn những thanh đao khác của người Trung Quốc mà y đã có dịp gặp.
Hai lần thua Hắc Vân Long nên chuyến này, trước một Chu Đức Kiệt oai vũ hơn Hắc Vân Long nhiều, Liễu Hạ Đằng thấy lo thay cho trang võ sĩ của mình. Sơn Điền to ngang thô kệch như một con gấu, dũng lực biểu lộ ngay trên toàn thân y. Ngược lại, Chu Đức Kiệt nở nang tột bực, nhưng toàn thân đều đặn uyển chuyển, oai hùng như mãnh hổ. Sơn Điền dữ tướng bao nhiêu thì Đức Kiệt đẹp, cương quyết, dũng cảm bấy nhiêu. Hai đối thủ đang thủ thế gờm gờm nhìn nhau trong vòng chiến kia là cả hai pho tượng đối lập nhau vì hình thức: thô bạo và hùng dũng.

Toàn thể thủy thủ Nụy khấu đều im phăng phắc, chắm chú quan sát trận đấu sắp khởi diễn. Chúng phập phồng, hồi hộp y như chính là chúng đang ở vòng chiến và sắp sửa chịu sức tấn công của một trong hai đấu thủ...

Bỗng Sơn Điền tiến chân tả lên phía trước mặt, đồng thời hai tay cũng cầm đao chuyển hướng Kích đao, chỉ thẳng mũi đao vào hướng ngực Đức Kiệt. Cùng với thế và khởi đầu ấy, Sơn Điền gầm lên tiếng thật dữ dội, chói ráy khiến mọi người đứng chung quanh khiếp đảm, không ai bảo ai mà cùng lùi cả lại một bước Thủ nguyên thế Võ Tòng Đả Hổ tay tả nắm lại thâu vào bên sườn, tay hữu cầm tréo đốc mũi đao xuống sàn thuyền, hai chân đứng Chảo mã, tả Sinh, hữu Tử, Chu Đức Kiệt không hề nhúc nhích trước lối khởi đầu nạt nộ của đối phương. Chàng nhận thấy Sơn Điền có bộ pháp hẳn hòi, nhưng không tỉ mỉ rõ rệt như võ thuật Trung Hoa.

Sơn Điền đổi thế nữa. Y hoa hai vòng đao bên tả, bên hữu, thâu bộ cước lại chuyển sang thế chân co, chân duỗi, ngả mình về phía sau, hai tay cầm Kích đao, mũi đao chỉ thiên đưa cao lên khỏi vai hữu, y hệt sắp sửa xông vào chém vậy. Đồng thời lúc chuyển thế, Sơn Điền vẫn thét lên như sấm sét, cốt ý nạt nộ cho đối phương, khiếp đảm ngán y. Đó là đòn tinh thần khiến địch thủ rợn người, nao núng trước khi chịu trận. Mà thế thật! Lúc bấy giờ, Sơn Điền mặt đỏ gay, râu quai nón vểnh ngược, cặp mày chổi xề nhíu hẳn lại, hai mắt trợn trừng trừng, cổ bạnh hẳn ra, đại huyết quản nổi lớn như ngón tay.
Y dữ như Thiên Lôi tướng quân.

Trước một đối phương yếu bóng vía, có lẽ Sơn Điền không cần đến giao đấu, cứ trổ tài thế oai hùng, gầm lên như mãnh hổ vồ mồi, là địch thủ phát hoảng bỏ chạy luôn. Khốn thay địch thủ hiện tại của Sơn Điền là trang hảo hán giang hồ đã từng bách chiến với đủ mọi hạng người hung hãn, hơn nữa, chàng là một cao đồ Bắc phái dày công luyện tập, tin ở tài lực mình vững chắc hơn là bàn thạch, thì cái lối áp đảo tinh thần của Sơn Điền thành vô dụng. Chu Đức Kiệt vẫn đứng trơ trơ như pho đồng tượng, điềm tĩnh nhìn thẳng vào sống mũi đối phương Trong khi giao đấu, võ pháp Trung Quốc cũng có thuật gầm, thét, thở mạnh, nhưng tựu trung lối quát tháo này không phải là thừa hoặc được phô diễn cho oai hùng theo sở thích cá nhân.

Gầm thét, quát tháo đây là một phương pháp hô hấp có hai tác dụng: hô hấp và chuyển tiếng trong
lúc hô hấp mạnh thành gầm thét để nạt nộ địch thủ trong khi giao chiến. Liên tiếp, Sơn Điền chuyển đổi luôn năm thế, xoay quanh phía trước mặt Đức Kiệt và mỗi lần chuyển thế y gầm thét một lần. Bình tĩnh chờ tới lúc này, Đức Kiệt lần đầu giao đấu với võ sĩ ngoại bang nên kiên tâm chờ để quan sát, nhận thức võ thuật nước ngoài. Về sau, chàng không thấy gì lạ, bèn nhân lúc Sơn Điền sắp sang thế thứ sáu để nạt nộ mình mà khởi chiến, tấn công luôn.

Trong khi Sơn Điền đang chuyển thế, Đức Kiệt xô luôn tới quật dọng đao vào ngang cổ địch, thế công này chớp nhoáng, sóng đao quật tới mạnh mẽ như một thanh giản thép. Sơn Điền vội vàng lùi lại đưa Trường kích đao gạt. Sức gạt của võ sĩ này đã mạnh nhưng sức quật của Đức Kiệt lợi thế mạnh hơn, khiến Sơn Điền chùn cả chân tay lại, và lùi thêm một bước nữa. Thừa thế, Đức Kiệt quật trái một đao nữa nhằm địch thủ. Lần này, biết sức mạnh của đối phương rồi, Sơn Điền thụp xuống tránh đòn và xỉa luôn một mũi đao vào bụng địch, tiếp theo đòn ấy là một tiếng thét kinh hồn. Lẳng lặng, Đức Kiệt thâu đao về gạt mạnh, đoạn thoái luôn ba bộ. Tưởng đối phương đuối sức, Sơn Điền theo sát chém một lát thiệt mạnh tréo vai tả địch, Đức Kiệt hoa Thất Tinh đao gạt nữa.

Choang!
Hai món võ khí va phải nhau nẩy nửa, Sơn Điền vội thoái bộ thâu Kích Đao lại nhìn qua thấy lưỡi không hề gì, liền xô luôn đâm thẳng một mũi đao nhằm bụng địch. Đức Kiệt khen thầm địch thủ khá dũng mãnh và có võ khí tốt. Cho đến lúc này, chàng hoàn toàn đánh cầm chừng để thử tài sức Sơn Điền và xem xét sự lợi hại của thanh Kích Đao mà y từng khoe khoang. Sơn Điền nhào tới đâm thẳng vào bụng địch, nguy hiểm. Khẽ né sang bên tả, Đức Kiệt đưa đao chặn đao địch không cho Sơn Điền thừa dịp hất ngang, đồng thời chặt luôn một bàn tay Cương đao thủ trúng vai hữu đối phương.

Không quen lối đấu sử dụng cả võ khí lẫn quyền, cước, Sơn Điền bị trúng đòn đau điếng người, vội thâu đao lại nhảy ra khỏi vòng chiến, chỉ mặt đối phương gắt gỏng một hồi.

Liễu Hạ Đằng thông dịch cho Đức Kiệt :
- Sơn Điền võ sĩ nói rằng ngươi không được phép dùng quyền, cước trong khi đấu võ khí, như vậy bất hợp lệ.
Chu Đức Kiệt phì cười :
- Trước hết các ngươi phải yêu cầu điều đó ngay trước khi giáp chiến. Đừng quên rằng đây không phải là một trận đấu biểu diễn, mà là một trận giao tranh thật sự, đôi bên đều có phép dùng bất cứ thế võ nào, mánh lới nào hạ đối phương. Nhưng thôi, nếu Sơn Điền không thạo phương pháp đấu hòa hợp thì ta cũng rộng lượng dùng chuyên võ khí thôi.

Liễu Hạ Đằng lập lại cho Sơn Điền nghe. Chạm lòng tự ái, Sơn Điền chấp thuận hỗn đấu cùng đối thủ.
Nhận xét nét mặt, Sơn Điền, Đức Kiệt hiểu ngay là y tự ái liền nhận hỗn đấu hòa hợp võ khí và quyền, cước, nên chàng định tâm dùng nguyên đao pháp. Vừa rồi Đức Kiệt không có ý định đánh độc nên khi hạ Cương đao thủ chàng không cố ý nhắm trúng xương vai địch thủ, và cũng chưa dùng toàn lực. Nếu trái lại thì, với bàn tay sắt của Đức Kiệt, Sơn Điền đã bị gẫy xương quai sanh rồi.

Sau khi chà xát lấy, Sơn Điền bớt đau, cầm đao bước vào vòng chiến, quyết tâm báo thù. Vận dụng toàn lực, y hò hét, xông vào tấn công. Hoa Kích đao loang loáng, đâm chém tơi bời.

Đức Kiệt mềm mại, lanh lẹ như hầu viên trổ tài tránh né, khiến Sơn Điền toàn chém và đâm gió, mất sức nhiều. Y biết gặp đối thủ bản lãnh lợi hại, đời y giao tranh đã nhiều trận nhưng Sơn Điền chưa gặp một kẻ địch nào chịu nổi tới năm mươi hiệp mà không táng mạnh dưới lưỡi thần đao của y. Vậy mà đấu với Đức Kiệt, Sơn Điền có cảm tưởng địch thủ biểu hiện bất thường khiến y giao chiến không thích tay, hậm hực như kẻ bị thiếu thốn thứ gì.

Phần Đức Kiệt, chàng đoán biết hết ý nghĩ của Sơn Điền. Chàng khen thầm đối thủ tài sức đầy đủ, hiềm về đao pháp không được hoàn toàn tinh vi, nên trước một phương pháp sử dao cực kỳ hoàn mỹ của họ Chu gia, Sơn Điền chiến đấu dữ dội nhưng lạc lõng không được như ý.

Đức Kiệt nói lớn bảo Sơn Điền :
- Bây giờ đến lượt ta tấn công nghe? Coi này!

Sơn Điền đoán đó là câu nạt nộ, bèn phòng bị chống đối. Đức Kiệt hoa đao vù vù, đao ảnh vi vu toát
lạnh tạt cả vào mặt Sơn Điền, nhảy xổ vào tái đấu. Chuyến này, chàng áp đảo với định ý định làm cho địch thủ phải khiếp đởm kinh hồn trước những đường đao bay bướm lợi hại, gia truyền. Chàng sử luôn bốn thế đao liên hoàn, tiền một ngọn Ngọc Đới Vi Yêu, tả một thế Phong Vũ Truy Hồn, hữu một đường

Đại Hỏa Thiêu Thiên, hạ một ngọn Hàn Phong Tảo Địa.
Trước bốn thế liên hoàn đao khủng khiếp ấy, Sơn Điền hoang mang, mồ hôi toát ra như tắm, miệng thở hồng hộc, chân tay rời rạc, sai lạc cả phương pháp gạt đỡ, nên đành phải thoái luôn bốn, năm bộ.

Đức Kiệt đuổi theo, Sơn Điền bực quá, vận dụng toàn lực, hai tay cầm cán Kích đao nhằm vai địch thủ chém xả xuống, miệng thét :
- Chết này!

Đoán được thế chém cố cùng ấy, Đức Kiệt trợn mắt nhắm thanh Kích đao, chém ngang luôn một nhát cực kỳ dũng mãnh.

Soạt! Tiếng soạt khô khan tiếp theo là một tiếng choang của vật gì bằng kim khí rớt xuống sàn thuyền. Sơn Điền giật mình thâu kích đao lại thì ôi thôi! Lưỡi đao gia truyền của y đã bị Thất Tinh đao tiện đứt đôi, trong tay chỉ còn cán đao và một phần ba lưỡi đao lóng lánh. Vừa sợ, vừa tiếc, Sơn Điền tức giận nhưng không biết hành động ra sao trước một địch thủ lợi hại hơn mình và có một thanh đao rắn chắc, bén hơn Kích đao nhiều. Trong khoảng khắc, Sơn Điền tưởng Đức Kiệt thừa dịp ấy theo luôn hạ sát, nên vội nhảy xổ vào chỗ thủy thủ giành lấy một ngọn dáo phòng thân.

Nhưng không, Đức Kiệt cầm ngang Thất Tinh đao tươi cười bảo Liễu Hạ Đằng :
- Ta tha không giết kẻ chiến bại. Các ngươi biết điều thì hãy bỏ chiến thuyền này lại cho ta, sang thuyền khác chạy luôn. Hãy trông kìa!

Liễu Hạ Đằng không kịp thông dịch cho Sơn Điền nghe, và nhìn theo hướng tay chỉ của Đức Kiệt. Cái mà y trông thấy khiến y tái sắc toát mồ hôi. Đó là đoàn chiến thuyền quan quân Trung Quốc từ xa vùn vụt kéo tới, không còn cách xa mấy chốc. Liễu Hạ Đằng vội vàng hô bảo Sơn Điền và bọn thủy thủ rút lui. Thế là không ai bảo ai, chúng không kịp thì giờ hạ lệnh cho các thuyền khác vào gần để nhảy sang chạy trốn, nên hè nhau nhảy bừa cả xuống biển bơi qua thuyền đồng bọn. Tại sao chúng lại hành động như vậy?

Trước hết, Liễu Hạ Đằng biết là không thể cưỡng lời Chu Đức Kiệt, tự tiện cho thuyền chạy.

Sau là chiến thuyền Kinh Điều đã buông neo trước khi khởi trận giữa võ sĩ Sơn Điền và Chu Đức Kiệt, nên Nụy khấu không kịp kéo neo chạy. Lúc rời thuyền Hắc Long sang thuyền Nụy khấu, Đức Kiệt đã yêu cầu Liễu Hạ Đằng buông neo cho chiến thuyền khỏi bị sóng dội bồng bềnh trong khi giao đấu, âu cũng là dụng ý vậy.

Sau khi bọn Nụy khấu đã nhảy hết xuống biển, Đức Kiệt tra đao vào vỏ rồi kéo hai chiếc neo rất nặng nề lên. Không lái, không neo, thuyền Kinh Điều bị gió thổi, bắt đầu quay tròn thì Đức Kiệt chạy ra ổ lái, hướng thuyền chạy về phía quan thuyền lúc đó chỉ còn cách độ mười trượng.

Trên thuyền dẫn đầu, Đức Kiệt nhận ra Lam Y nữ hiệp, và Âu Dương Bích Nữ đang đứng trên đầu mũi quan sát. Một viên thủy tướng đứng trên mui thuyền đang chỉ chỏ về hướng thuyền Kinh Điều và hướng bốn chiếc thuyền Nụy khấu đang chạy ra khơi. Đoàn quan thuyền rã đôi, lướt tới vây tròn lấy thuyền Kinh Điều.

Bỏ ổ lái, Đức Kiệt nhảy lên mui thuyền giơ cả hai tay vẫy mọi người. Chiến thuyền có Lam Y và Âu Dương Bích Nữ áp mạn. Hai nàng mừng rỡ phi thân sang thuyền Kinh Điều.

Âu Dương Bích Nữ hân hoan :
- Chu lang! Lam Y và tiểu muội lo thắt ruột héo gan. Bị Đường Trại Nhi... bắt sao lại ở trên thuyền Nụy khấu là thế nào?

Lam Y cũng hỏi :
- Hiền huynh có việc gì không?
Chu Đức Kiệt tươi cười :
- Ngu huynh được như thường. Chuyện dài lắm sẽ kể sau. Bây giờ cần mấy thủy thủ sang đây điều khiển chiến thuyền này và yêu cầu viên chỉ huy đuổi bắt bọn Nụy khấu kia đã, kẻo chúng đi xa mất.

Lúc đó viên thủy tướng đã đứng ra mạn thuyền. Lam Y hỏi lớn :
- Cao tướng quân có cần đuổi bắt bốn thuyền Nụy khấu không?
Cao Kiến Tường - vì chính y - đáp :
- Tôi để lại một thuyền hộ tống quý vị về Linh Sơn đảo trước. Bắt xong Nụy khấu, tôi sẽ trở về sau.

Chu Đức Kiệt nói :
- Chúng tôi xin theo tiếp tay tướng quân. Hiện thời cần mấy thủy thủ điều khiển chiến thuyền đoạt được của Nụy khấu này về căn cứ trước.

Cao Kiến Tường lắc đầu :
- Khỏi phiền. Tặc khấu có vỏn vẹn bốn thuyền, tôi sẽ bắt gọn đám, xin để lại một chiến thuyền hộ vệ và nhờ quý vị điều khiển chiến lợi phẩm về Linh Sơn trước.

Nói đoạn, Cao Kiến Tường bắc loa hạ các lệnh cần thiết và điều khiển thủy đoàn đuổi theo Nụy khấu. Chiếc thuyền được lệnh ở lại áp mạn thuyền Kinh Điều, mười viên thủy thủ leo sang chờ lệnh.

Lam Y phân phát công việc cho từng người một rồi bảo chúng lái thuyền về Linh Sơn đảo. Tam hiệp leo lên mui thuyền ngồi chuyện vãn. Đức Kiệt hỏi nàng :
- Từ đây về Linh Sơn đảo bao nhiêu xa?
- Đuổi từ sáng sớm bây giờ mới kịp. Hiền huynh có linh cảm là tẩu tẩu và tiểu muội đuổi theo không?

Đức Kiệt gật đầu :
- Có chứ! Tới chỗ vừa rồi, ngu huynh nhảy lên Viễn phòng bản coi chừng, thì thấy đoàn quan thuyền lấp ló ở chân trời...

Âu Dương Bích Nữ ngắt lời hỏi dồn :
- Thế ra Chu lang không nhận thức được là thuyền Trại Nhi đã đi được bao xa rồi ư? Tại sao vậy? Con yêu nữ ấy theo Nụy khấu, phải không? Ồ, sao lại vận quần này?

Đức Kiệt vội đáp :
- Ngu huynh trúng thuốc mê man suốt đêm, lúc tỉnh dậy thì trời đã sáng và thuyền lênh đênh ngoài khơi, làm thế nào nhận được bước thời gian? Đường Trại Nhi còn dối trá rằng thuyền đi được trọn ba ngày đường rồi và đang ở trong hải phận Hoa Nam...

Chàng thuật mọi sự cho nàng nghe.

Âu Dương Bích Nữ trách :
- Chắc hiền huynh tha mạng cho con Đường yêu nữ nên nó... chạy thoát chứ gì? Tại sao trước khi giao chiến cùng Nụy khấu, Chu lang không giết luôn nó đã, rồi sẽ giao đấu cùng Sơn Điền có hay không?

Đức Kiệt giải thích :
- Nói vậy tức là hiền thê không nghĩ xa xôi. Giữa lúc thủy đoàn Nụy khấu kéo tới bao vây, giết Đường Trại Nhi là hành động thất sách. Chưa hiểu lực lượng thủy khấu ra thế nào mà hạ sát người chỉ huy của chiếc thuyền đơn độc ấy, lỡ bọn thủy khấu như rắn mất đầu theo Nụy khấu thì sao? Tới khi ngu huynh sang thuyền thủy tặc giao tranh cùng võ sĩ Phù Tang, Đường Trại Nhi mới thừa dịp mọi người cùng chăm chú tới trận đấu, bỏ chạy. Bọn Nụy khấu còn không muốn đuổi theo huống hồ ngu huynh?

Âu Dương Bích Nữ căn vặn :
- Hừ! Nụy khấu dám mạo hiểm cào hải phận Trung Quốc không đoạt thuyền cướp của thì còn mục đích chi nữa?
- Lý luận của hiền thê rất đúng nhưng chuyến này hình như Nụy khấu chỉ có mục đích tìm Hắc Vân
Long để tranh tài cao thấp. Chẳng dè gặp ngu huynh, chúng ngôn ngữ hỗn xược, ngạo mạn nên ngu huynh tức mình giao chiến. Nhưng này, hiền thê hỏi dồn ngu huynh như kẻ có tội vậy?

Âu Dương Bích Nữ âu yếm nhìn chồng, nàng lẳng lặng không trả lời. Đức Kiệt biết là câu chuyện đã “ổn” bèn hỏi Lam Y về tình hình ở Linh Sơn đảo và Ngao Sơn Đầu. Lam Y kể chuyện đêm hôm trước Cao Kiến Tường đổ bộ lên Linh Sơn đảo. Nàng và Âu Dương Bích Nữ đuổi theo thuyền Trại Nhi ra Tây Hải Đầu và Đông Hải Khấu, để thủy tướng họ Cao trấn giữ Linh Sơn. Chẳng dè ngay đêm ấy, Diêu Thái Khánh kéo đại đoàn tới tiếp viện và phái Cao Kiến Tường chỉ huy một phần thủy đoàn theo giúp.

Đức Kiệt hỏi :
- Thế Diêu Thái Khánh không đổ bộ lên Ngao Sơn Đầu giúp Trương Bỉnh Hoa và Quán Bội Chấn ư?
Lam Y đáp :
- Ngay chiều hôm qua, Diêu tướng quân đổ bộ Lục Thủy trại, trong lúc ấy thì hai cánh lục quân cũng đại thắng tặc khấu ở Ngao Sơn Đầu.
- Còn Tôn Hoàn và Hắc Vân Long?
- Theo lời Diêu Thái Khánh, Tôn Hoàn bị bắt nhưng Hắc Vân Long cùng mấy viên đầu lãnh của y bỏ đi thoát. Xế chiều hôm qua, quan thuyền giao chiến cùng thủy đoàn tặc khấu ở nơi có các mô đá gần Lục Thủy trại, tiểu muội và tẩu tẩu chỉ giúp Diêu Thái Khánh bắt tên đầu lãnh chỉ huy thủy đoàn tặc khấu, và ngay sau đó phải bỏ đi Linh Sơn đảo đuổi theo Đường Trại Nhi. Chiến thuyền giặc bị cháy bị bắt một số lớn, còn mấy chiếc bỏ chạy trước nên đi thoát.

Chu Đức Kiệt đập hai tay vào nhau, tiếc rẻ :
- Vì ngu huynh bị Mê Hồn phấn của Trại Nhi thành thử chúng ta không giúp được quan quân một cách đắc lực. Không cẩn thận sai một ly đi một dặm là thế!

Âu Dương Bích Nữ bảo chồng :
- Chu lang đừng tự nghiêm khắc với mình quá. Chúng ta đã giúp quan quân tìm ra Lục Thủy trại, mũi phi đao của cô muội bắt sống chủ tướng của giặc, còn Chu lang đã đánh bại Nụy khấu và nhờ đó Cao Kiến Tường sẽ bắt luôn được bốn chiến thuyền ngoại khấu, chẳng phải là một công đôi việc ư? Riêng phần tiểu muội lo Đường Trại Nhi biết một nơi hải đảo xa xôi nào, hướng thuyền đem lang quân ra đó thì trời cũng chẳng tìm nổi...

Chu Đức Kiệt phản đối :
- Hừ! Bộ ngu huynh quên cả hiền thê và Lam Y, hay không khắc phục nổi thuyền đó sao mà để Trại Nhi thông hành như vậy?

Chợt thấy lưỡi kích Đao của Sơn Điền bị đứt còn trên sàn thuyền, Đức Kiệt nhảy xuống lượm lên cho Lam Y và Âu Dương Bích Nữ xem.

Chàng nói :
- Lưỡi Kích đao này khá lắm. Chiến pháp của Sơn Điền thiệt dữ dội, tiếc rằng chưa phải là công phu tuyệt hảo.

Lam Y chuyển lưỡi Kích đao cho Âu Dương Bích Nữ coi. Nàng nói :
- Vết Thất Tinh đao chặt phẳng lì, chúng ta cùng thử kiếm xem sao.

Âu Dương Bích Nữ nữ đồng ý :
- Nhường cô muội thử Thái Dương kiếm trước.
Hai nữ hiệp cùng đứng lên. Đức Kiệt đứng dậy theo dựa lưng vào cột buồm xem vợ và em thử kiếm như thế nào.

Âu Dương Bích Nữ cầm nửa lưỡi Kích Đao đi ra mũi thuyền :
- Cô muội sẵn sàng chưa?
Lam Y gật đầu :
- Rồi, tẩu tẩu cứ việc.

Âu Dương Bích Nữ tung lưỡi Kích Đao lên cao rớt vòng xuống mui thuyền.

Lẹ như cắt, Lam Y rút phắt Thái Dương kiếm đảo lên một vòng tỏa ngàn quang rồi nhằm lưỡi Kích Đao chém mạnh.

Một tiếng soạt khô khan dội lên, lưỡi thép nọ bị tiện đứt đôi rớt xuống sàn thuyền.
Lam Y thâu kiếm nhìn qua thấy lưỡi báu kiếm vẫn long lanh toát lạnh không vương lấy một vết gợn nhỏ.

Đắc ý, nàng tra kiếm vào bao, đoạn lượm hai mảnh lưỡi Kích Đao cầm lăm lăm trong tay, bảo chị dâu :
- Tẩu tẩu thử kiếm nhé, coi chừng tiểu muội phóng mạnh hai miếng thép này đó!

Âu Dương Bích Nữ chống tay lên sườn :
- Như phóng liễu diệp đao là cùng chứ gì? Sẵn sàng rồi, cô muội cứ tự nhiên.
Tức thì, không nói không rằng. Lam Y vung tay hữu, nhưng phóng luôn mũi thép tay tả nhằm mặt chị dâu.

Đứng nguyên chỗ, Âu Dương Bích Nữ trổ tài thần tốc, rút xẹt Trảm Lư hùng kiếm chém đứt đôi mảnh Kích đao...

Nhưng Lam Y đã phóng luôn mảnh thép còn lại, nhằm ngực đối phương. Thuận tay, Âu Dương Bích Nữ chém trái lại một lát kiếm thần tốc tiện đứt đôi mảnh thép, một nửa rớt xuống sàn còn nửa kia bay vụt qua thành thuyền rớt xuống biển sâu.

Bọn thủy thủ bỗng dưng được mục kích cuộc thử báu kiếm hãn hữu ấy, tên nào cũng kinh ngạc lộ trên nét mặt.
Chu Đức Kiệt vỗ tay hoan hô :
- Hảo võ nghệ! Nhưng chị em nhà mà thử nhau độc đến nước ấy là cùng!

Lam Y chưa kịp trả lời thì Âu Dương Bích Nữ đã nhảy lên mui thuyền cúi rà xuống trước mặt chồng mà rằng :
- Kính thưa tiên sinh, vì Lam Y nữ hiệp biết lệnh phu nhân bản lãnh cao cường mới thử như vậy đó.

Tiên sinh nên coi chừng kẻo phu nhân ba máu, sáu cơn nổi... ghen thì tiên sinh dù có phi hành cũng... không chạy kịp đa!

Lam Y ranh mãnh nheo mắt nhìn Đức Kiệt :
- Hiền huynh nghe... rõ chưa? Thiệt là thoát nguy, nhé!

Đức Kiệt mỉm cười :
- Ngu huynh hú ví ngay từ nãy cơ mà!

Tam hiệp nhìn nhau cùng cười vang vui vẻ giữa khung cảnh khoáng đạt trời cao thăm thẳm, biển rộng mênh mông.

Vào khoảng cuối giờ Mùi, hai thuyền cặp bến Linh Sơn.
Thủy đoàn Kiều Châu đậu thành hai hàng chật cả bến nước.
Diêu Thái Khánh đang hành dinh tạm ngay trên Trấn Hải Đình của Hắc Vân Long.

Tam hiệp theo quân lính dẫn đường lên tới nơi thấy Diêu Thái Khánh đang đứng bên lan can xây đá nhìn xuống bến.

Thái Khánh chào Tam hiệp :
- Kính chào ba vị đã trở về, tôi lo quá chừng? Chiến thuyền Nụy khấu nào vậy? Cao Kiến Tường đâu mà sao không cùng đi?

Đức Kiệt thuật sơ vụ gặp Nụy khấu cho Thái Khánh nghe và nói tiếp :
- Cao Kiến Tường đốc xuất đoàn chiến thuyền đuổi bắt Nụy khấu, có lẽ sẫm tối mới về tới nơi.

Diêu Thái Khánh giật mình :
- Ấy chết! Nụy khấu đông hay ít mà họ Cao liều lĩnh vậy? Chúng giỏi nghề thủy chiến lắm đó!

Lam Y vội đáp :
- Nụy khấu vỏn vẹn có năm thuyền, thì có một chiếc đã nằm kia rồi. Chúng tôi muốn theo giúp nhưng Cao tướng quân cả quyết sẽ thành công, và yêu cầu chúng tôi về Linh Sơn đảo trước.

Thái Khánh vẫn chưa hết lo :
- Tôi e rằng ngoài khơi chúng còn có đại đoàn đón chờ.
- Không đâu, chắc chắn chỉ có bốn khấu thuyền thôi.

Trước thái độ cả quyết của Lam Y, Diêu Thái Khánh an tâm, chợt nhớ ra điều gì bèn hỏi :
- Hẳn là lênh đênh trên mặt biển từ sáng sớm, quý vị chưa dùng bữa vậy xin mời vào trong nhà, tôi bảo lính sửa soạn thức ăn.

Chu Đức Kiệt hưởng ứng :
- Rất hoan hô lệnh kiến. Tôi đói bụng lắm rồi!

Bốn người lững thững vào nhà.

Tam hiệp đi xem khắp mọi nơi trong Trấn Hải Đình thấy phòng nào cũng trang hoàng bày biện rất trang nhã, Âu Dương Bích Nữ tặc lưỡi :
- Hắc Vân Long sống đế vương quá. Bỏ nơi này, chắc y tiếc đến chảy máu mắt! Xây dựng được một cơ sở đẹp đẽ, chắc chắn nhường này tốn công không ít, đó là chưa kể hải khẩu Linh Sơn.
- Theo ngu ý, Hắc Vân Long là con người có nhiều sáng kiến và trí kiến thiết. Nếu chiêu nạp được y và cho trấn luôn ở đây thì hữu dụng biết chừng nào!

Chu Đức Kiệt nói :
- Phải đó. Hắc Vân Long đã từng đụng độ, giao tranh với bọn Nụy khấu nhiều lần và chuyến nào cũng thắng, trấn ở đây thiệt đúng chỗ, không những là phía Đông, Nụy khấu phải kiêng nể mà ngay trong hải phận Trung Quốc, bọn thủy tặc trước đây quấy nhiễu vùng Ngao Sơn Đầu cũng e sợ.

Diêu Thái Khánh gật đầu :
- Dùng tật trị tật là thế. Không rõ y chạy đi đâu, tôi chỉ được tin do Tham tướng Trương Bỉnh Hoa báo là Hắc Vân Long đã trốn thoát sau khi quân đội của y bị tan rã. Quan quân chỉ bắt được có Tôn Hoàn, hình như tên họ Tôn này cũng là một nhân vật ghê gớm lắm thì phải?

Đức Kiệt đáp :
- Đúng thế. Tôn Hoàn là đồ đệ của Bạch Liên giáo chủ. Sau đó y bỏ Bạch Liên giáo ra đi và đầu bôn Thuận Vương ở Kim Lăng, được vị vương gia ấy tôn lên chức Quân sư. Chính y đã tổ chức bộ binh cho Thuận Vương trong mấy năm về sau này, thâu nhận được nhiều nhân tài đáng kể, tiếc rằng họ đi ngược với chính đạo nên hiện thời số người ấy không tử trận đều bị lưu đầy.

Quân hầu sửa soạn xong cơm, rượu bày lên bàn. Diêu Thái Khánh mời Tam hiệp dùng bữa, tự mình ngồi tiếp.

Thái Khánh hỏi Đức Kiệt :
- Ba vị còn nghỉ lại Linh Sơn đảo ít ngày chớ? Mấy khi ra bờ biển, nơi này thật hiếm có.
- Chúng tôi sẽ quyết định sau. Khi ở Bình Dương ra Ngao Sơn Đầu, chúng tôi định giúp cánh lục quân của Tham tướng Trương Bỉnh Hoa giải vây cho bộ binh Đức Châu. Không dè có cả thủy đoàn, chúng tôi nhận sự liên lạc giữa hai cánh quân thủy, lục để tấn công và đổ bộ. Nhưng các biến chuyển xảy ra từ trưa hôm qua đến nay mau lẹ quá thành thử không hành động giúp lục quân được như ý muốn. Vì lý do ấy, tôi muốn vào lục địa gặp Trương tham tướng nói chuyện đã, sau sẽ hay.

Diêu Thái Khánh trịnh trọng :
- Tuy không chiến đấu trên bộ, nhưng quý vị giúp cánh thủy đoàn không ít, cắt hết đường về của Hắc Vân Long và đồng bọn, nhờ vậy bộ binh Trương tham tướng mới thắng dễ dàng. Mới đây lại chiến thắng Nụy khấu khiến chúng có lẽ không bao giờ đám mon men đến hải phận Ngao Sơn Đầu nữa, há không là kỳ công sao? Kiểm điểm bộ binh, lập biên bản về Lục Thủy trại, Trương tham tướng sẽ ra Linh Sơn đảo trước khi kéo quân về Tế Nam phủ, riêng phần tôi cũng phải lập phúc trình và có lẽ còn tạm đóng ở đây lâu, chờ thượng cấp định đoạt. Nếu không hữu sự cần cấp, mời quý vị nán lại ít ngày dưỡng sức.

Tam hiệp đồng ý ở lại Trấn Hải Đình.
Diêu Thái Khánh sai thế nữ hầu của Hắc Vân Long sửa soạn phòng ốc và phái quân hầu xuống soái thuyền lấy hành lý của Tam hiệp gởi sáng hôm qua trước khi hành quân. Sẫm tối hôm ấy, Cao Kiến Tường neo thuyền vào bến kèm theo bốn chiến thuyền Nụy khấu.

Kiến Tường lên Trấn Hải Đình phục lệnh tướng chỉ huy Diêu Thái Khánh.

Chu Đức Kiệt niềm nở hỏi :
- Cao tướng quân giao chiến với hai Nụy tướng Liễu Hạ Đằng và Sơn Điền thấy chúng thế nào?
- Tôi không được giáp đấu với họ. Khi đuổi kịp, tôi điều khiển quan thuyền bao vây đoạn tấn công bằng cung tiễn. Đối phương cũng bắn trả lại, nhưng quan quân đông cung thủ lợi thế hơn, Nụy khấu vừa bị tử thương và bị thương khá nhiều, hai đầu lãnh chỉ huy cũng trúng tên, nên bốn thuyền giặc xin hàng.
- Hai Nụy tướng thương tích nặng không? Sơn Điền là tên có râu quai nón.

Liễu Hạ Đằng lãnh hai mũi tên vào sườn và bả vai, còn Sơn Điền bị ba mũi ghim đúng bắp vế. Tôi thấy y đeo thanh Nụy đao toan tước lấy, nhưng Sơn Điền lẹ tay liệng ngay đao xuống biển, tiếc quá! Có lẽ cây đao đó tốt.

Đức Kiệt gật đầu :
- Đao gia truyền của gã đấy. Gã không muốn võ khí lọt vào tay người khác nên mới liệng đi. Tên Liễu Hạ Đằng cũng có đeo cặp Trường kích đao mà?

Cao Kiến Tường nói :
- Không những Liễu Hạ Đằng mà thôi, bọn thủy thủ cũng nhiều tên có cặp đao ấy nhưng là thứ đao thường. Tôi thâu về để cả dưới bến.

Diêu Thái Khánh bảo họ Cao :
- Số tù binh còn lại bao nhiêu, tướng quân nên giam giữ ngay dưới thuyền Nụy khấu để sáng mai tải về Ngao Sơn Đầu với số tặc khấu bắt được ở Linh Sơn, trao cho cánh bộ binh lãnh trách nhiệm áp tải về Tế Nam.
- Tổng cộng còn bốn mươi hai người kể cả hai Nụy tướng. Còn bao nhiêu tử thi, tôi cho cột chung lại liệng hết xuống biển khơi.

Lam Y Hiệp Nữ nói với Thái Khánh :
- Chúng tôi còn để ba túi hành trang lớn và ba tuấn mã tại trại quân của Trương tham tướng tạm đóng ở Ngao Sơn Trấn. Sáng mai, Cao tướng quân đằng nào cũng áp tải tù binh vào lục địa, tôi muốn nhờ điều đình với Tham tướng lấy ngựa và hành trang về đây, được không?

- Được, Nữ hiệp khỏi bận tâm. Tôi lo liệu ngay vụ đó, phái người đi lấy các thứ ấy về Linh Sơn. Duy có ba tuấn mã thì nên đưa ra tới Ngao Sơn Đầu thôi.
Lam Y nói mấy câu cảm ơn.

Hai hôm sau, Tham tướng Trương Bỉnh Hoa ra Linh Sơn đảo, đem theo hành trang của Tam hiệp và cho hay rằng hiện ba tuấn mã được chăm nuôi trong trại quân Ngao Sơn Đầu.

Qua hôm thứ ba lúc xế chiều, trong khi Tam hiệp cùng hai tướng thủy, lục Trương, Diêu đang ngồi uống rượu đàm luận ở ngoài hành lang trông ra biển thì quân lính dẫn hai người cùng trạc tuổi ngũ tuần trang phục ra dáng ngư phủ lên Trấn Hải Đình xin yết kiến.

Diêu Thái Khánh thấy họ sợ sệt khúm núm quỳ lạy liên miên, liền bảo :
- Hai ngư phủ hãy đứng dậy và có điều gì cứ khai báo cho đàng hoàng.
Một ngư phủ chỉ đồng nghiệp đứng bên, nói :
- Bẩm tướng quân, con là Trần Tiễn và người này gia đệ Trần Thành cùng là dân chài bên Đông Hải Khẩu.

Hai hôm nay trong khi đi chơi, anh em chúng tôi là người đầu tiên trông thấy con kình ngư vẫy vùng ngoài biển, nhưng may mắn chúng con chạy kịp. Trái lại cùng ngày hôm ấy có bốn ngư thuyền nữa ra khơi vô tình bị kình ngư đánh đắm, chỉ có ba người sống sót trôi vào bờ, hiện còn đau nặng không theo chúng con lên đây trình báo được. Cúi xin Tướng quân thương tình giúp đỡ kẻo dân chài Đông Hải Khẩu không còn ai đánh cá sanh sống nữa.

Diêu Thái Khánh hỏi :
- Kình ngư lớn bằng chừng nào? Xưa nay có xảy ra tai nạn ấy bao giờ không?
Trần Tiễn thưa :
- Con quái ngư ấy vừa bằng chiếc ngư thuyền cỡ trung bình, nhưng khỏe lắm, nó tung sóng cao tới hơn trượng. Riêng nó vùng vẫy cũng dư sức làm lật ngư thuyền lớn rồi. Như bốn chiếc bị nạn đều cỡ lớn mà bị kình ngư đội sóng đánh chìm lỉm. Ba người sống sót đều trông thấy hàm răng quái ngư như lưỡi cưa và thấy nó đớp người. Thưa Tướng quân, tai hại cho làng Đông Hải Khẩu quá. Từ trước đến nay chưa bao giờ xảy ra tai nạn quái ngư như vậy. Chắc con này lạc lõng từ đại dương về đảo.

Chu Đức Kiệt hỏi họ Trần :
- Nơi xảy ra tai nạn cách Đông Hải Khẩu bao xa?
- Thưa không xa. Ra khỏi khẩu độ chừng nửa hải lý thì gặp quái ngư vẫy vùng giỡn sóng ngay giữa lối ngư thuyền vẫn qua lại thường ngày. Trông rợn tóc gáy. Đi khơi gặp sóng lớn cũng không đến nỗi kinh khủng như gặp quái ngư. Xin quý vị đại quan cứu chúng con...

Diêu Thái Khánh gật đầu :
- Được rồi, tôi sẽ định liệu. Hai dân chài muốn về trước hay chờ ở đây cùng đi?
Trần Tiễn mừng rỡ :
- Chúng con xin về báo tin mừng cho làng Đông Hải Khẩu biết.

Khi anh em Trần ngư phủ đi khỏi, Lam Y nói với Diêu Thái Khánh :
- Tôi và gia tẩu có qua Đông Hải Khẩu rồi, nếu Tướng quân hữu sự không thân hành được, anh em tôi xin gánh vác vụ này.
- Tôi đang định phái Cao Kiến Tường đi thay.

Đức Kiệt nói :
- Chúng tôi muốn đi Đông Hải Khẩu để xem kình ngư thế nào, nhân tiện giúp dân ngư phủ ở đó luôn thể, tướng quân khỏi phải điều động tướng binh.
- Quý vị cần dùng những gì?

Đức Kiệt bàn với Lam Y và Âu Dương Bích Nữ, rồi đáp :
- Cần độ ba mươi cây dáo, thừng chão và một chiến thuyền cỡ trung bình cùng mấy tay chèo lão luyện. Bây giờ còn sớm, chúng tôi muốn đi ngay kẻo kình ngư đi nơi khác mất thì uổng dịp may được xem con thủy thú ấy.

Diêu Thái Khánh tức thì phát lệnh tiễn, biên mấy hàng chữ cho Cao Kiến Tường dặn y sửa soạn chiến thuyền và dụng cụ cho Tam hiệp đi Đông Hải Khẩu.
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 1
 
Posts: 687
Joined: Wed Nov 23, 2011 5:39 pm
I am: Reader

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp

Postby Editor 1 » Mon Aug 25, 2014 11:59 pm

Lam Y Nữ Hiệp
Tác Giả: Tề Phong Quân
Dịch giả: Trường Giang Mạnh Vũ

Hồi 45

Sóng động biển khơi, người và cá đua tranh
Rừng sâu bãi rộng, Nữ hiệp tầm hoang mã


Chiến thuyền vòng qua mỏm đá vào bến. Dân làng Đông Hải Khẩu, nam phụ lão ấu, ra đầy cả ngoài bãi cát reo mừng.
Trong số người lố nhố trên bãi cát, Tam hiệp nhận thấy có đến hai mươi người tang phục nên đoán có lẽ họ là gia đình những kẻ bạc số mới tử nạn kình ngư.

Chiến thuyền ghé vào đầu cầu gỗ. Ba người nhảy xuống cầu vào bãi cát. Anh em Trần Tiễn, Trần
Thành bước tới vái chào, đoạn hướng vào đám dân làng, Trần Tiễn nói :
- Hỡi anh em đồng thôn! Ba vị đây từ Linh Sơn tới giúp chúng ta hạ trừ kình ngư, công đức ấy không bao giờ chúng ta dám quên. Vậy sáng mai, anh em hãy sửa soạn tế hải thần trước khi chiến thuyền ra khơi.

Trần Tiễn vừa dứt lời, đoàn dân Đông Hải Khẩu vui mừng reo hò vang dậy cả khu bến cát.
Anh em Trần gia mời Tam hiệp về một căn nhà cây lợp lá dựng ngay trên mỏm đá đầu làng.
Căn nhà ấy kiến trúc sơ sài theo kiểu sơn dã nhưng rộng rãi, sạch sẽ và chắc chắn. Cách bài trí cũng rất trang nhã.

Lam Y hỏi Trần Tiễn :
- Dân Đông Hải Khẩu làm ăn phấn chấn lắm nhỉ! Căn nhà này của ngư ông đó ư?
- Thưa không. Chúng tôi sống theo lối ngư phủ làm gì có vật dụng sang trọng như vầy. Đây là nơi ở của nữ chủ Linh Sơn đảo đã bỏ đi từ sáng sớm mấy hôm trước và bị nhị nữ anh hùng đây đem chiến thuyền lớn đuổi theo.

Lam Y gật đầu :
- A! Nhà của Đường Trại Nhi, thảo nào trang nhã quá. Trước kia, người ở luôn đây sao?
Trần Tiễn đáp :
- Thưa cũng không hẳn như vậy. Nữ chủ có chiến thuyền Hắc Long nên thường đi vòng quanh đảo, nơi nào cảnh sắc vừa ý thì neo thuyền lại chơi. Nhưng thường thường thì nữ chủ hay ở đây, cảnh sắc gọn mắt hơn cả. Nay, dân làng Đông Hải Khẩu đồng ý cử chúng tôi đại diện mọi người tiếp rước quý vị nghỉ ngơi tại đây trước khi khởi sự ra khơi hạ dã ngư.

Lúc đó trời đã hoàng hôn, người hầu do dân làng sắp đặt lên đèn và bày tiệc rượu đàng hoàng.
Tam hiệp bỏ hành lý và khí giới xuống trường kỷ rồi đi xem khắp trước sau căn nhà của Trại Nhi. Nhà có hai phòng ngủ, một phòng bếp nước thiệt ngăn nắp.

Sau nhà là đường dốc thoai thoải dẫn tới khu cây cối um tùm, thanh nhã cao hơn mặt bến cát độ một trượng.
Âu Dương Bích Nữ nhìn Đức Kiệt nói kháy :
- Chúng ta có duyên với Đường Trại Nhi thiệt! Đi đâu cũng gặp và nay thì lại ở luôn trong nhà của nó! Được gặp mặt nó một lần, dù mất ngàn vàng tiểu muội cũng chịu.

Chu Đức Kiệt mỉm cười :
- Gặp mặt nó, hiền thê đâu có chịu mất ngàn vàng? Nhưng ngu huynh chắc chắn họ Đường sẽ mất thủ cấp ngay tức thì!

Tiệc rượu đã bày xong, Trần Tiễn mời Tam hiệp dùng bữa, tự mình cùng Trần Thành ngồi hầu tiếp.
Chu Đức Kiệt nói với anh em Trần gia :
- Hồi chiều nay còn thấy kình ngư không?

Trần Thành đáp :
- Đứng trên mỏm đá cao trên kia quãng giữa giờ Thân, tôi và mấy người nữa còn thấy rõ ràng kình ngư lù lù quẫy sóng ngoài khơi theo hướng đông bắc.
- Sáng mai ta khởi sự sớm chứ?

Trần Tiễn nói :
- Sớm cũng chỉ nên ra khơi vào cuối giờ Thìn. Sớm quá có nhiều sương mù bất lợi cho chúng ta vì không nhìn xa được.

- Việc đó tùy ý ngư ông thạo khu vực này hơn quyết định. Chúng tôi chỉ biết giúp sức hạ kình ngư. Nhưng thế nào cũng phải có thuyền tam bản tốt mới dễ xoay xở trên mặt biển. Đem thuyền lớn ra chỉ làm mồi cho nó đánh đắm thôi. Chúng tôi cần ba chiếc tam bản tốt, có không?

Trần Tiễn vội đáp :
- Thưa có. Đại hiệp cần bao nhiêu người chèo?
- Trước kia tôi định dùng thủy thủ quan quân, nhưng bây giờ cần thay đổi chút ít. Sáng mai, chiến thuyền kéo ba chiếc tam bản theo sau. Chừng nào thấy kình ngư chúng tôi sẽ xuống thuyền nhỏ liệu bề hạ nó. Vậy mỗi chiếc tam bản có hai người chèo giỏi, can đảm, phần hành động mặc chúng tôi.

Trần Tiễn ngần ngại :
- Không giấu gì đại hiệp, người chèo thuyền giỏi thì có nhưng chèo tam bản gần kình ngư, tôi e không một ai dám theo sau khi xẩy ra vụ mấy chiếc ngư thuyền lớn bị nó đạp sống và hút đắm chết nhiều người.

Lam Y nói :
- Việc này giải quyết được, ngư ông chọn lựa chúng tôi sáu người giỏi nghề đi biển quen các công việc trên thuyền lớn. Tôi sẽ dùng sáu thủy thủ quan quân chèo tam bản nhưng sáu người đó cần phải được thay thế. Giải quyết như vậy có được không?

Trần Tiễn vội đáp :
- Thưa được lắm. Lên làm việc trên chiến thuyền thì họ còn dám đi. Sáng sớm mai tôi sẽ lựa tuyển sáu thanh niên khỏe mạnh.
- Khỏe mạnh chỉ là một khía cạnh, cần phải kinh nghiệm nhiều với sóng nước mới được! Kình ngư quẫy sóng có khác gì khi biển động? Nếu không biết theo sóng, úp thuyền dễ như chơi. Cần kinh nghiệm hơn hết.

Âu Dương Bích Nữ bảo Trần Tiễn :
- Ban nãy, thấy nói sáng mai dân làng tế lễ hải thần, vậy ngư ông nên lo liệu cúng sớm cho đừng trở ngại việc ra khơi.
Trần Tiễn vưng lời :
- Việc tế lễ chắc chắn không trở ngại, xin nữ hiệp khỏi quan tâm. Và lại, đứng trên mỏm đá trên cao kia cũng có thể trông thấy nơi kình ngư xuất hiện ngoài khơi. Chừng nào thấy nó, quý vị xuống thuyền cũng vừa.

Chu Đức Kiệt hỏi :
- Nó chỉ xuất hiện nguyên một chỗ đó thôi sao?
- Thưa nguyên một chỗ đó, không hề thay đổi. Chính là nơi mà mấy ngư thuyền bị nó đội lật lên đắm hôm nọ.

Sáng sớm sau, sương phủ dầy đặc trông xa không quá bốn trượng. Đứng dưới mái hiên, chống tay vào lan can bằng tre, Tam hiệp vận võ phục nhẹ, chân vận võ hài mỏng đế, ngoài khoác áo nỉ ấm, ba người nhìn quanh quan sát tiết trời.

Lam Y nói :
- Sương dầy thế này, ít nhất cũng quá giờ Tỵ, Thái dương lên cao mới tan. Dân làng Đông Hải Khẩu tha hồ cúng tế hải thần.

Quả thế, lúc đó từ phía giữa làng dân làng xúm xít bê các lễ vật và một con cá kình lớn bằng giấy đen đi ra bãi cát. Pháp sư vận áo thụng sặc sỡ đi trước vừa gõ chuông, vừa ê a đọc câu thần chú. Ra tới bãi cát mọi người đặt kình ngư bằng giấy châu đầu ra biển, bày lễ vật ra trước miệng cá, đoạn đứng vây tròn xung quanh. Pháp sư đứng trong vòng người, quỳ hướng mặt ra biển khấn vái hải thần đoạn nhảy nhót chung quanh kình ngư miệng đọc chú tay yểm bùa hồi lâu một số dân làng cũng theo sau pháp sư đồng thanh đọc thần phù vang động cả vùng biển Đông Hải Khẩu.

Giai đoạn cuối cùng cuộc cúng tế là hỏa thiêu kình ngư, hốt tro bỏ xuống thuyền tam bản chở ra cửa vịnh đổ xuống biển.

Tam hiệp lững thững xuống dưới bãi cát. Hai ngư ông Trần Tiễn, Trần Thành dự cuộc tế hải thần vừa xong, đưa trình diện sáu thanh niên khỏe mạnh thạo nghề ra khơi chài lưới.

Lam Y nhìn qua sáu người ấy rồi bảo họ :
- Các đại ca rành nghề chèo thuyền tam bản trên biển động không?
Một người tên là Triệu Thất đáp :
- Thưa Nữ hiệp, bất cứ thuyền nào và vào thời tiết nào chúng tôi cũng vững tay chèo.

Lam Y gật đầu, mỉm cười :
- Khá lắm! Tiếc rằng ra khơi theo tôi hôm nay không phải là việc chài lưới thường xuyên, mà là để đánh một kình ngư đã từng làm đắm mấy chiếc thuyền lớn gieo tang tóc cho một số gia đình trong làng Đông Hải Khẩu này. Bởi tính chất nguy hiểm của việc ra khơi nên chúng tôi buộc lòng phải dành việc chèo thuyền tam bản cho sáu thủy thủ quan quân. Do đó, trên chiến thuyền sẽ thiếu người, yêu cầu các đại ca tạm thay họ. Trong khi ở trên thuyền, các đại ca nên thận trọng theo lệnh thuyền trưởng Triệu Thất cùng năm người kia đỏ bừng mặt nhìn nhau khó chịu. Anh Triệu Thất là Triệu Ngũ nói :
- Thưa ba vị đại hiệp, chúng tôi chỉ e sợ kình ngư trong khi không được che chở, nay đã có quý vị cùng thuyền lãnh trách nhiệm đương đầu với giống hung ngư ấy, không khi nào chúng tôi lại từ nan. Vậy, khỏi phải đổi thay, chúng tôi tình nguyện chèo tam bản.

Biết là câu nói khích của mình đã có hiệu lực, Lam Y bảo họ :
- Can đảm, khỏe, chỉ là hai yếu tố, nhưng còn cần phải hiểu biết, tinh khôn mới thành công. Vậy các đại ca hãy nghe cho rõ lời căn dặn của gia huynh đây, nhập tâm và cứ đúng như thế mà hành động.

Nàng vừa nói vừa chỉ Chu Đức Kiệt. Thấy hai vị nữ kiệt người nào cũng quắc thước anh thư, dáng dấp lanh lẹ biểu lộ sức dũng mãnh hơn người, nay sáu thanh niên được nhìn gần Đức Kiệt, thấy chàng rất đỗi kiêu hùng thì họ càng tin tưởng, kính phục.

Đức Kiệt điềm đạm nhìn họ rồi ngồi xổm, rút mũi chủy ra vạch lên trên cát mà rằng :
- Các đại ca hãy nhìn đây. Tỉ dụ như con kình ngư đang quẫy sóng ngoài khơi đây, nếu ta chèo tam bản thẳng đến gần thì thế nào cũng bị nó đánh đắm như mấy ngư thuyền hôm nọ. Trái lại, ta chèo thuyền bơi quanh kình ngư, lúc nào cũng giữ đúng kích thước cách biệt độ bốn năm trượng thì người chèo thuyền chỉ cần phải đương đầu với sóng lớn gây ra bởi sức vẫy vùng của kình ngư mà không sợ nó xông thẳng vào, đội thuyền bất đắm. Tại sao? Vì ba chiếc tam bản của ta không chèo nối đuôi nhau tụ cả vào một chỗ, nhưng ta chia làm ba mặt đều như ba điểm tôi vạch trên cát đây, vây tròn kình ngư vào giữa. Cá quay mặt nọ bị hai mặt kia đánh, quay mặt kia bị hai mặt nọ đánh. Tôi tin chắc nếu kình ngư không chết tại chỗ, bơi hay lặn thoát đi nơi khác thì cũng chẳng sống nổi với các vết thương do sức chúng tôi gây ra. Dù sao, bất cứ trong công việc nào, ta cũng phải tính đến sự rủi ro, các đại ca nên gieo sẵn phao cho chắc chắn. Có phao, bơi thạo, ngụp giỏi dù ta có xa bờ đến mấy hải lý chẳng lo, đừng nói chi nơi kình ngư xuất hiện không xa bờ bao nhiêu. Hiểu chưa? Người nào muốn thối lui hãy còn đủ thì giờ để tôi tuyển lựa người khác. Tôi khuyên các đại ca nên tự liệu sức mình chớ đừng nể nang hay cố gắng nguy hại cho công việc không ít. Tôi chỉ nhận những ai đủ tài đủ sức!

Dứt lời, Đức Kiệt đứng dậy dắt mũi chủy vào bao đeo ở đai lưng đăm đăm nhìn sáu thanh niên ngư phủ như soi mói, tìm hiểu xem họ đang suy tính thế nào. Triệu Ngũ quay lại hỏi đồng bạn :
- Quý đại ca và hiểu cả chưa? Ai không hiểu cứ việc hỏi lại.

Năm người kia đồng thanh :
- Hiểu rồi.
- Ai muốn rút lui, xin cho biết, riêng hai anh em tôi quyết theo ba vị đại hiệp ra khơi.

Thanh niên tên là Điền Khải nói :
- Việc làm của chúng ta hôm nay có tánh chất lợi chung cho toàn thể dân làng Đông Hải Khẩu, lẽ nào chúng tôi từ chối? Triệu đại ca không phải hỏi han chi nữa, anh em ta nhất quyết theo ba vị đại hiệp, nguy hiểm biết mấy cũng chẳng từ nan.

Chu Đức Kiệt nhận xét từng người biết có thể tin cẩn được, bèn nói :
- Người nào cũng có đoản khí phòng thân cả đấy chứ?
Triệu Ngũ đáp :
- Thưa, chúng tôi có đoản thủy đao như các dân chài lưới. Phao cũng đã sẵn sàng. Hiện để cả trên thuyền.

Đức Kiệt khen ngợi :
- Hay lắm! Ngay từ nãy tôi tiên đoán là có thể tin cậy được ở các đại ca. Vậy từ giờ đây, ai nấy nên sẵn sàng chờ bên chiến thuyền, chừng nào có báo hiệu là kình ngư đã xuất hiện, ta sẽ ra khơi ngay.

Đến giữa giờ Tị, ánh nắng le lói đã lùa tan hết sương mù. Bầu trời xanh ngắt, vẩn nhẹ mấy đợt mây trắng lơ thơ biển rộng xanh dương đồng màu báo hiệu một ngày đẹp trên đại dương. Toàn thể dân làng Đông Hải Khẩu ngong ngóng trông chờ tốp người đứng trên mỏm đá báo tin kình ngư xuất hiện.

Nhưng qua giờ Tị lại sang giờ Ngọ, thời gian buông trôi mau lẹ,ï tốp người canh phòng trên cao thỉnh thoảng lại xua tay ra hiệu là chưa có gì.
Lúc đó, Tam hiệp và Trần Tiễn, Trần Thành cùng ngồi chuyện vãn dưới mái hiên căn nhà cũ của Đường

Trại Nhi. Ngư ông Trần Tiễn nói :
- Thường ngày, kình ngư vẫn xuất hiện vào quãng giờ Tị, trước hay sau một đôi chút. Hôm nay sang đầu giờ Mùi rồi mà vẫn chưa thấy chi cả, phải chăng kình ngư linh cảm thấy sự nguy hiểm đang chờ nó nên bỏ đi nơi khác rồi chăng?

Lam Y nói :
- Nếu dã ngư không xuất hiện hôm nay tất sẽ xuất hiện ngày mai. Tôi không bực mình vì phải chờ đợi, nhưng chỉ tiếc thời gian đã lững lờ trôi mà không làm được gì hữu ích cho chúng ta cả.

Âu Dương Bích Nữ nói :
- Lúc này mới đầu giờ mùi, còn sớm chán, lo gì kình ngư không xuất hiện? Chừng nào vừng Thái dương ngã hẳn chân trời mới chắc chắn là phí mất một ngày.

Trần Thành đưa hai tay ra như kẻ phân bua :
- Từ hôm kình ngư lạc lõng vào hải phận này, chưa bữa nào lại chậm trễ như hôm nay.

Trần Thành vừa dứt lời, thì từ mỏm đá trên cao, những người canh phòng đã gọi rối rít :
- Kình ngư xuất hiện kia rồi, quẫy sóng dữ hơn mọi hôm!

Tam hiệp đứng lên, đeo khí giới lên lưng chạy ra khỏi nhà. Anh em Trần ngư ông cũng vội vàng chạy theo xuống tới bến cát. Sáu thanh niên ngư phủ nghe tiếng báo động đã lên cả chiến thuyền và dòng dây hạ buộc ba chiếc tam bản ra phía sau thuyền.

Các thủy thủ quan quân đã giương buồm sẵn sàng, chờ lệnh ra khơi. Tam hiệp băng qua các ngư thuyền đậu trong bến, nhảy vụt lên chiến thuyền. Đức Kiệt bảo thuyền trưởng :
- Ra khơi ngay. Kình ngư đã tới rồi kia!

Tức thì người nào việc nấy, chiến thuyền từ từ trở mũi ra khỏi vùng bể Đông Hải Khẩu trước sự hoan hô nhiệt liệt của dân làng, lúc đó lũ lượt ra đông cả trên bãi cát. Chiến thuyền lênh đênh ra khỏi vịnh, ba chiếc tam bản được kéo theo sau. Đức Kiệt phân công với Lam Y và Bích Nữ :
- Ngu huynh chỉ hỏi ba mươi cây dáo mà Diêu Thái Khánh cho những sáu mươi cây, vậy hiền muội và hiền thê mỗi người lãnh hai mươi cây dùng để hạ kình ngư. Nếu cả sáu mươi ngọn dáo này cũng trúng đích thì lo gì Kình ngư chẳng bỏ mạng trong hải phận này!

Lam Y nói :
- Chị em tiểu muội cố sức tấn công, nhưng hiền huynh có đeo Tỵ Thủy châu phải lãnh nhiệm vụ nặng nề hơn nếu cần phải xuống nước.

Đức Kiệt mỉm cười :
- Được lắm! Ngu huynh sẽ tự ý hành động và chịu lãnh công tác ấy. Dĩ nhiên rồi, ngu huynh không muốn hai người bị ướt.

Tam hiệp cùng sáu thanh niên ngư phủ đứng ở mũi chiến thuyền nhận xét. Hôm ấy, đẹp trời, gió nhẹ biển êm, ấy thế mà ở phía xa xa sóng cao dồn dập nước bắn tung tóe chẳng khác chi một ngày bão táp gió thổi, mưa sa.

Âu Dương Bích Nữ chỉ tay về phía đó :
- Chao ôi! Kình ngư kia kìa, lớn quá chừng!
Lam Y và Đức Kiệt nhìn theo phía tay nàng chỉ thì nhận ra, giữa đám sóng nước dồn dập lẫn một vật lù lù đen như lưng thủy ngưu, lúc ẩn lúc hiện trên mặt biển. Lam Y quay lại nhìn sáu thanh niên ngư phủ. Sự hồi hộp hiện rõ trên nét mặt họ. Nàng hỏi :
- Các đại ca, có ai đổi ý không? Nên cho biết ngay để còn liệu thay đổi thành phần, đứng chờ đến lúc nước tới chân rồi mới nói nhé!

Triệu Ngũ quả quyết :
- Thưa Nữ hiệp, chúng tôi nhất định theo ba vị đến cùng, dù nguy hiểm đến mấy chúng tôi cũng không từ nan.
Thuyền buồm được gió, lướt như bay trên mặt biển, không mấy chốc đã tiến vào khu vực nguy hiểm.

Chu Đức Kiệt bảo thuyền trưởng :
- Ngừng lại để mọi người xuống tam bản!
Chiến thuyền chạy từ từ rồi ngưng hẳn. Sáu thanh niên ngư phủ kéo dây cho ba chiếc tam bản đến sát hông chiến thuyền rồi lục tục xuống, hai người một thuyền. Âu Dương Bích Nữ xuống thuyền có Điền Khải, Lam Y xuống thuyền có Triệu Thất. Đức Kiệt chuyển ba bộ dáo, mũi thép nhọn sáng lấp lánh dưới ánh mặt trời xuống cho những người dưới tam bản đỡ lấy, đoạn nhảy xuống thuyền của Triệu Ngũ.

Chàng bảo thuyền trưởng :
- Cho thuyền lướt quanh khu vực hoạt động để quan sát nhưng nhớ tránh tầm mắt kình ngư nhé!
Dứt lời, Đức Kiệt vẫy tay ra hiệu cho Triệu Ngũ bơi thẳng vào chỗ kình ngư đang giỡn sóng. Hai thuyền Lam Y, Âu Dương Bích Nữ theo sau một lát tới khi gần tới nơi.

Lam Y nói lớn :
- Tẩu tẩu trấn phía này, Chu huynh vòng sang phía tả, tiểu muội nhận phía hữu và cả ba chiến thuyền cùng bơi theo chiều tay tả thâu hẹp lần lần vòng chiến lại chừng nào vừa tầm tay thì cứ việc khởi sự.

Lam Y đứng ở giữa thuyền, cầm lăm lăm hai ngọn dáo sẵn sàng hành động. Hai ngư phủ, một người chèo ở mũi thuyền. Triệu Thất vừa chèo vừa lái ở sau thuyền.

Lúc này trông rõ kình ngư lắm rồi. Đó là một con cá lớn dài ước độ một trượng rưỡi, miệng rộng, hai
mắt nhỏ xíu lờ đờ ở giáp ngay phía trên đầu mép. Da đen bóng loáng, toàn thân không vẩy. Con ác ngư ấy vụt đầu xuống biển nữa. Kình ngư nhào đi nhào lại như vậy, gây sóng lớn ào ào, thân nó đập xuống mặt biển thình thình, bọt nước bắn tung tóe. Chiếc tam bản nhấp nhô trên ngọn sóng, có lúc chúi hẳn mũi xuống giữa hai đợt sóng như bị nước rút chui tuột xuống đáy biển. Nhưng không, đợt sóng khác lại tiếp tới đội hẳn chiếc thuyền nhỏ bé ấy lên cao. Hai thanh niên ngư phủ chèo, lái rất thành thạo. Lam Y đứng vững, hai chân nàng như gắn chặt xuống sàn thuyền. Nàng đăm đăm nhìn con ác như vùng vẫy dữ dội.

Xưa nay, Lam Y vốn không ưa giống cá không vẩy, không bao giờ nàng thứ cá đó, nay bỗng nhiên tiếp giáp với ác ngư mình mẩy bóng loáng như bôi mỡ khiến nàng không khỏi lợm giọng. Nước bọt ứa lên cổ, Lam Y ghê tởm, và bỗng dưng nàng thấy thù ghét con cá kinh khủng ấy. Kình ngư vẫn tung sóng dữ tợn. Đúng tầm rồi, Lam Y trông thấy cả Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ ở hai phía bên kia.

Nàng hoa ngọn dáo ra hiệu cho vợ chồng Đức Kiệt khởi cuộc tấn công. Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ cũng vẫy dáo trả lời. Lúc đó, kình ngư vụt đầu xuống nước, thân và đuôi còn chổng lên trời. Lẹ như chớp, Lam Y phóng liên tiếp hai ngọn dáo tả, hữu cắm phập vào sườn ác ngư quá nửa cán. Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ khởi sự đồng thời, ghim bốn ngọn dáo trúng đích ngọn nào cũng sâu quá nửa. Vừa lúc ấy, kình ngư nhô lên khỏi mặt biển. Sóng động mạnh, ba chiếc tam bản mỏng manh bồng bềnh muốn lật. Đã đứng vững, Lam Y nhân dịp kình ngư mới nhô lên, phóng luôn hai ngọn dáo nữa cắm phập vào mang cá. Kình ngư máu chảy đầy mình, hình như đã trông thấy địch thủ, quẫy khúc xông thẳng vào thuyền Lam Y.

Cùng lúc ấy, bốn ngọn dáo do Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ phóng xẹt tới cắm trúng hai bên sườn kình ngư. Bất chấp, con thủy vật khổng lồ tiếp tục bơi phóng về phía Lam Y, nhưng hai tay chèo bơi lẹ tránh khỏi nguy hiểm. Kình ngư húc trượt, quẫy khúc, lại xông vào hướng thuyền Âu Dương Bích Nữ.

Bình tĩnh, Âu Dương Bích Nữ phóng luôn hai ngọn dáo, một ngọn ghim trúng mang cá, một ngọn trúng đầu cá xương rắn, nên rớt xuống biển.
Đức Kiệt cũng lao liên tiếp hai dáo nữa ghim chặt vào sườn cá. Tức thì con kình ngư đổi hướng, xoay mình về phía Đức Kiệt và lướt thẳng tới phía ấy. Trong khi đó, sóng đập mạnh quá đánh dạt thuyền

Lam Y về phía Đức Kiệt.
Nàng hô lớn :
- Chu huynh, nhằm mắt kình ngư!
Ngọn dáo từ tay tả nàng phóng vút ra cắm ngập vào mắt bên hữu kình ngư. Ngay trong chớp mắt, Đức Kiệt phóng theo một nửa trúng mắt bên tả. Ác ngư không nhìn thấy chi, trúng thương nặng, chậm chạp hơn trước nhiều, đuôi đập sóng bơi, vẫy lung tung, mất phương hướng.

Lúc đó, kình ngư chậm chạp xoay đầu về phía Âu Dương Bích Nữ. Nàng đủ thì giờ nhắm kỹ, phóng hai dáo trúng mắt kình ngư ngay kế bên hai ngọn dáo của Lam Y, Đức Kiệt. Bị sáu mũi dáo xiên qua mắt vào óc, kình ngư trúng tử thương, uể oải lăn lộn trên mặt biển hai ba vòng rồi im bặt hết động đậy.

Máu ri rỉ chảy từ các vết thương ra nhuộm hồng cả mặt biển, sóng tan, phẳng lặng dưới vừng thái dương le lói giữa bầu trời xanh ngắt. Trên lưng kình ngư, cán dáo tua tủa như lông dím.
Ba chiếc tam bản, lúc này thư thả hơn, bơi nối đuôi vòng quanh thây ác ngư quan sát.

Biết tánh em gái vốn không ưa thứ cá không vẩy, Đức Kiệt nói giỡn :
- Chúng ta ở lại Đông Hải Khẩu nhắm thịt kình ngư với dân làng mới được! Mập quá!
Lam Y nhăn mặt :
- Trời ơi! Ăn sao được! Lợm giọng quá chừng! Trông thấy da nó mà đủ ghê!

Nói đoạn, nàng bảo Triệu Thất bơi thuyền ra xa.

Quả nhiên, da con kình ngư bóng loáng vì rêu láng như mỡ phủ khắp mình nó. Mùi rêu lẫn mùi cá tanh sặc sụa. Viên thuyền trưởng thấy Tam hiệp đã hạ xong kình ngư liền lái chiến thuyền tới đón. Ba người cầm số khí giới còn lại nhảy lên thuyền lớn.

Chu Đức Kiệt toan bảo thủy thủ quăng giây tam bản và giúp sáu thanh niên ngư phủ cột kình ngư lôi về bến thì Âu Dương Bích Nữ đã nói :
- Các ngư thuyền Đông Hải Khẩu kéo nhau tới kia kìa. Để việc kéo kình ngư về bến cho họ, thạo hơn.
Lát sau các ngư thuyền tới nơi, có cả hai anh em Trần Tiễn, Trần Thành.

Trần Tiễn nói lớn :
- Mời quý vị về bến trước nghỉ ngơi. Chúng tôi sẽ kéo kình ngư về sau. Dân làng đã sửa soạn mổ cá trên bãi cát.

Chu Đức Kiệt đáp :
- Đông Hải Khẩu có sáu thanh niên ngư phủ khá lắm. Họ can đảm và rất rành nghề.
Được khen ngợi, khuyến khích, bọn Triệu Ngũ sáu người sung sướng, hân hoan nhìn các bạn đồng nghiệp già trẻ. Thiệt ra, họ can đảm và lành nghề thiệt. Chèo lái con thuyền tam bản mong manh giữa nơi sóng cồn và trước một kình ngư hung dữ quả không phải là việc mà cứ ai cũng làm được hay dám làm.

Tam hiệp về đến bến thấy toàn thể dân làng nam phụ lão ấu kéo ra bãi cát đông nghẹt. Họ chừa ra một khoảng lớn lấy chỗ để kình ngư. Các dụng cụ dùng để mổ cá lớn như rìu, đao và thúng tre đựng thịt cũng được bày sẵn ra đó. Lam Y thẳng lên căn nhà riêng. Vợ chồng Đức Kiệt lững thững theo sau. Hai người nhìn Lam Y rồi nhìn nhau mỉm cười.

Âu Dương Bích Nữ nói :
- Cô muội không ăn thứ cá da trơn là phải, coi thế này ấy!
Đức Kiệt cười khẩy :
- Lại hiền thê nữa! Hùa với Lam Y. Nếu không trông thấy dân làng làm thịt kình ngư, chiên xào thơm ngon, chắc vẫn ăn như thường. Thế nào cũng còn có ngày ăn lầm phải thịt người trong hắc điếm mới biết thân!

Sẩm tối hôm ấy, trước khi bày tiệc rượu, anh em ngư phủ Trần Tiễn, Trần Thành lên nhà riêng tiếp Tam hiệp. Trần Tiễn móc túi ra lấy một bọc nhỏ gói lụa đỏ bầy lên chiếc dĩa rồi cung kính đưa cho Chu Đức Kiệt. Họ Trần nói :
- Xin đại hiệp nhận thứ bảo vật này làm kỷ niệm.

Ngạc nhiên, Đức Kiệt đỡ lấy :
- Chúng tôi nhận giúp dân làng Đông Hải Khẩu thôi, sao lại vẽ vời biếu tặng thế này?
- Đại hiệp mở bọc ra sẽ biết.

Đức Kiệt theo lời Trần Tiễn mở gói lụa đỏ thấy một viên bạch trân châu trong vắt tuyệt đẹp và lớn bằng đốt ngón tay cái. Chàng đưa viên ngọc cho Lam Y và Âu Dương Bích Nữ coi.
Hai nàng khen ngợi không ngớt miệng, Lam Y hỏi :
- Viên bảo ngọc này có một lai lịch kỳ thú phải không?

Trần Tiễn ra vẻ bí mật :
- Chính quý vị biết lai lịch của viên bảo ngọc này hơn ai hết.
Âu Dương Bích Nữ ngạc nhiên :
- Trần ngư ông nói chuyện gì mà lạ vậy? Thiệt tình tôi không hiểu.
- Vừa rồi chúng tôi bửa đầu con kình ngư thì thấy viên ngọc nằm gọn trong mang nó, mũi dáo xiên vào ngay bên cạnh. Tôi đã có dịp nghe các bô lão nói rằng thứ kình ngư ngọc là một bảo vật hiếm có trên đời, vì lẽ chỉ con kình ngư nào sống dư năm trăm năm mới có ngọc, vậy nên viên bảo ngọc này ít nhất cũng được kết tinh năm thế kỷ trong mang cá rồi. Quý đại hiệp là người xứng đáng nhận bảo
ngọc hơn cả, nên tôi lên lấy đây.

Chu Đức Kiệt nói :
- Có thế chúng tôi mới dám nhận, tiếc rằng không hiểu viên bảo ngọc này có linh dụng gì không?
Trần Tiễn đáp :
- Tôi chỉ biết đó là viên ngọc quý vì tính chất hiếm có của nó, về phần công dụng thì đành chịu.
Trong khi anh em họ Trần trông coi người nhà sửa soạn cơm rượu, Lam Y đưa viên ngọc cho Âu Dương

Bích Nữ mà rằng :
- Chu huynh và tiểu muội mỗi người đã có một viên Thủy, Hỏa châu rồi, vậy tẩu tẩu hãy nhận lấy kình ngư ngọc là đích đáng hơn cả.

Âu Dương Bích Nữ vui vẻ nhận ngọc, nàng nói :
- Chu lang và cô muội cùng nhường, tôi xin lãnh.
Nàng bọc viên ngọc vào miếng lụa đỏ, rồi bỏ vào túi.

Tối hôm ấy, dân làng Đông Hải Khẩu đốt đuốc mở tiệc ăn mừng ngay ở trên bãi cát mãi tới khuya mới tan. Anh em Trần Tiễn thấy Lam Y và Âu Dương Bích Nữ sợ ăn thịt cá không vẩy nên không dám mời ba người chung vui bữa tiệc ngoài trời trên bờ biển. Tam hiệp ở lại thăm thú Đông Hải Khẩu hai ngày rồi mới trở về bến Linh Sơn đảo.

Lúc ấy, Diêu Thiên Khánh còn ở lại Linh Sơn với thủy đoàn, còn tham tướng Trương Bỉnh Hoa thì đã trở vào đại lục kéo một phần lớn bộ đội về Tế Nam phủ trước.

Tam hiệp cũng từ tạ Diêu Thái Khánh về Bình Dương thành. Trong khi đi đường, Âu Dương Bích Nữ hỏi Đức Kiệt :
- Còn nhớ một hôm Chu lang nói tới những khu vực ở Sơn Đông có giống hoang mã, vậy con đường này có khúc nào thuộc một trong khu vực ấy không?

Đức Kiệt đáp :
- Có một nơi cách Bình Dương thành độ trên hai ngày đường, hôm đi qua ngu huynh quên khuấy không nói chuyện cho hiền thê nghe, chuyến này sẽ chỉ cho mà xem.

Âu Dương Bích Nữ nhìn Lam Y, nàng hỏi :
- Phải chăng là khu Thanh Thảo sơn mà cô muội đã nói tên cho tôi hay?
Lam Y gật đầu :
- Đúng vậy, nơi ấy nội cỏ xanh rờn toàn là giống mã thảo, trông xa, nhiều quãng đẹp như một tấm thảm nhung xanh biếc. Trước kia tiểu muội không để ý tới giống hoang mã nên không chịu kiếm tìm, nay nhờ tẩu tẩu hướng dẫn, tiểu muội mới nhận thấy cái đẹp cái hay của bầy hoang mã, Đất đai ngoại thành của nhà ta rộng rãi, nhiều khu có rừng có núi, nếu gây thêm được bầy hoang mã ngay tại chỗ thì còn chi thích thú bằng!

Âu Dương Bích Nữ nói :
- Việc ấy cũng không khó khăn lắm, chuyến này rộng rãi thì giờ nghỉ ngơi ở Bình Dương, tôi sẽ khởi công tạo thành vấn đề ấy Một hôm đi đến khu vực tiếp giáp Thanh Thảo sơn thì trời đã quá ngọ, ba người rẽ vào tửu quán Liễu Hà thôn dùng bữa. Sau đó, Tam hiệp vượt qua mấy trái đồi vào khu núi Thanh Thảo. Trong khi đang ruổi vó câu trên thảm cỏ xanh rì, Âu Dương Bích Nữ chợt dang hai tay ngăn Đức Kiệt và Lam Y ngừng lại, nàng la lớn :
- Ô, coi kìa! Dấu cỏ bị vó ngựa dầy dập từ hướng đông chạy tới rõ rệt quá. Chắc chắn có bầy hoang mã qua đây!

Dứt lời, nàng thúc ngựa chạy dọc theo các dấu vết ấy để quan sát.
Lam Y hỏi :
- Với dấu vết này, hiền tẩu có thể lượng đoán số hoang mã được không?
Âu Dương Bích Nữ suy tính giây lát, đoạn đáp :
- Bầy hoang mã này ít nhất cũng có bốn chục con. Chúng chạy từ khe núi hướng đông qua nương cỏ này rẽ vào phía sau Thanh Thảo sơn, chạy ngược sang hướng tây tức là hướng Bình Dương huyện. Từ đây về huyện nhà, chẳng còn mấy đỗi đường, tôi muốn mạo hiểm theo dấu vết này quá, Chu lang và cô muội nghĩ sao?

Lam Y hân hoan đồng ý ngay :
- Phải đó! Chúng ta nên theo xem sao. Dù có lạc đường trong khu này, tìm lối trở ra không khó.
Đức Kiệt nói :
- Hiền thê và hiền muội quên một điều rằng chúng ta không có lương khô, theo đường mới này không có quán trọ thì hai chị em tính sao?

Lam Y nói :
- Khó chi điều ấy! Bây giờ cũng đã cuối giờ Mùi, chi bằng chúng ta trở lại tửu quán Liễu Hà thôn mua lương khô, ngủ lại đó một đêm, sáng mai sẽ theo dấu vết bầy hoang mã cũng được.
Thế là ba người trở bước về quán trọ, chuẩn bị các thứ lương thực cần thiết.

Sáng hôm sau Tam hiệp theo chương trình đã vạch sẵn trở lại khu có dấu vết bầy hoang mã đi vòng vào phía sau Thanh Thảo sơn. Lối đi vòng vèo lúc băng qua đường cỏ xanh rờn, khi vượt qua chân núi đá, gồ ghề, hoặc đi vượt qua khu rừng rậm hoang vu. Dấu hoang mã lúc hiện trên thảm cỏ lúc biến mất khi chúng vượt qua chân núi đá, nhưng tựu trung ba người vẫn theo đúng lối đi của chúng. Ba người đi đến tận xế chiều, Đức Kiệt chỉ vào hốc đá mà rằng :
- Chúng ta nghỉ lại đây đêm nay, hốc đá này che nổi phong sương.
Hai nàng đồng ý cùng xuống ngựa ngay ở gốc cây trước cửa hang, đoạn đem hành lý vào bên trong.

Đức Kiệt nói :
- Hai chị em sửa soạn bữa ăn chiều nhé, đói bụng quá chừng! Để ngu huynh đi kiếm cành khô đem đốt sưởi cho ấm.
Âu Dương Bích Nữ mở bọc hành lý lấy ba chiếc túi da đưa cho chồng.
- Nếu gặp vũng nước Chu lang liệu xách về luôn thể.

Lam Y bảo hai người :
- Việc “nội trợ” để mặc tiểu muội cáng đáng, huynh, tẩu cùng đi đốn củi, kiếm nước về dùng mới phải.
Đức Kiệt, Âu Dương Bích Nữ đi khỏi. Lam Y lượm mấy cành khô trước cửa hang đánh đá nhóm lửa. Trong khi chờ lửa bốc lên, nàng giở ba tấm mền trải gọn ghẽ trong hang để lát nữa nghỉ ngơi. Sau đó, nàng lấy thịt khô bọc mỡ ra nướng, mùi thịt bốc lên ngào ngạt thơm phức. Vợ chồng Đức Kiệt về tới cửa hang, người ôm củi gộc người xách túi da đầy nước. Đức Kiệt bỏ củi bên cửa hang đánh hơi :
- Chà! Mùi thịt thơm quá khiến ngu huynh bụng đói cồn cào. Ăn đã rồi sẽ hay, trời hãy còn sớm.

Ba người quây quần dùng bữa chiều, thịt nướng vàng ngậy với trúc phạn (cơm sôi nhồi vào trong ống trúc vùi lửa). Đức Kiệt không quên mua theo hồ rượu ngon, mỗi người uống vài ly cho ấm bụng.
Chàng nói :
- Cách đây độ hai trăm bước có suối nhỏ. Ăn xong ta dắt ngựa ra đó uống nước và rửa mặt luôn thể.

Âu Dương Bích Nữ âu yếm nhìn chồng :
- Đáng lẽ phải cho ba tuấn mã uống nước, ăn cỏ trước khi ta dùng bữa mới phải. Chu lang háu đói quá!
Lam Y mỉm cười nhìn vợ chồng Đức Kiệt :
- Bây giờ cũng vậy, hễ ăn ngoài trời là Chu huynh mau đói, ăn như hùm.
Ba người dắt ngựa ra bờ suối thả cho uống nước. Trong khi ấy, Âu Dương Bích Nữ dẫn Lam Y, Đức Kiệt chỉ cho xem dấu chân bầy hoang mã dầy xéo trên cỏ khi chúng lại bờ suối uống nước.

Nàng nói :
- Suốt ngày hôm nay, chúng ta theo đúng vết chân bầy hoang mã, dù đường đi khúc khuỷu, nhưng tựu trung vẫn theo hướng tây tức là lối dẫn về Bình Dương huyện. Tôi chắc chắn thế nào cũng có một thung lũng, nơi mà bầy hoang mã ngừng lại đó trước khi rong ruổi đi nơi khác.

Lam Y hỏi :
- Dong ruổi nơi khác nghĩa là chúng bỏ khu vực này sang khu vực khác sao?
- Không hẳn vậy. Thung lũng hoang vu là nơi ở của hoang mã, nhưng giống thú này luôn luôn lưu động, chúng băng qua khe nọ, rừng kia trong vài ba ngày rồi lại trở về chốn cũ. Tạo hóa sanh giống thú hùng dũng ấy có tài băng rừng vượt núi, vậy việc chúng lưu động phải chăng là một lối chúng luyện tập thường xuyên? Chu lang và cô muội để ý thử coi, một tuấn mã dù hay đến cực độ mà gặp phải người chủ không biết cách săn sóc luyện mã, chỉ chăm nom cho nó ăn uống tử tế mà chỉ thỉnh thoảng mới cho chạy, con tuấn mã đó chắc chắn sẽ thành vô dụng. Giống tuấn mã cần phải chạy là thế. Chạy đối với chúng can hệ như ta cần phải luyện tập thường nhựt. Bỏ lững ít lâu, bản lãnh của ta sẽ suy kém lần lần.

Chu Đức Kiệt cười vang, chàng bảo Lam Y :
- Lời dạy của nữ giáo sư rất đúng. Không ngờ Chu gia trang lại có một giáo sư mã tánh đặc biệt như vậy! Theo dõi hoang mã tới đây, tất giáo sư đã xây dựng được một chương trình hành động?
Âu Dương Bích Nữ nghiêm nghị :
- Chu lang giỡn hoài! Nếu không tính toán rồi thì tội gì lần mò theo dấu tích hoang mã đến đây cho mệt xác?

Lam Y hỏi Âu Dương Bích Nữ :
- Nếu tiểu muội không lầm, phải chăng hiền tẩu tính hướng đi của bầy hoang mã này là có ý muốn xem chúng chạy tới đâu và liệu có thể dồn chúng về khu đất đai của nhà?

Âu Dương Bích Nữ gật đầu :
- Cô muội đoán trúng. Hoang mã chỉ lưu động trong một khu vực lớn nhất định của nó, chỉ rời khu vực quen thuộc ấy khi nào hết cỏ vì sự người ta khai khẩn lập trại, đốt phá cây cỏ để làm nương trồng ngũ cốc. Ngay từ hồi mới về Bình Dương huyện, tôi chú ý ngay khu đất ngoại thành của nhà.

Trừ những thửa đất phía ngoài đã được khai khẩn thành vườn, thành ruộng nương, khu bên trong tiếp giáp với núi, rừng vẫn bỏ hoang, nhiều nơi mọc đầy thanh thảo mã. Nếu ta dồn được bầy hoang mã về khu ấy bằng cách chận hẳn các ngả đi khác và gây cho chúng có đủ cỏ xanh thì chúng sẽ quen, ở luôn trong khu vực, nhất định thuộc về ta. Đó là bước đầu tiên của việc lập mã trại. Chu gia trang có đủ người, đất đai phì nhiêu, vị trí khu đất bỏ hoang cũng rất tốt, tại sao ta không khai thác cho đến kỳ cùng? Chu lang và cô muội đã có dịp quan sát đất đai thuộc Âu Dương trang ở Tô Châu tất phải để ý rằng không một thửa đất nào bị bỏ hoang, ngoại trừ mấy khu đồi cỏ.

Phụ thân và nhị huynh Tòng Cát, Tòng Đức vẫn tiếc rằng đất nhà không có rừng núi để gây giống ngựa rừng. Chuyến qua Bình Dương vừa rồi, thân phụ và nhị huynh luôn luôn khen khu đất nhà ta có vị trí tốt. Người hỏi riêng tôi tại sao Chu lang và cô muội không gây giống hoang mã Sơn Đông. Tôi có hứa với Người là sẽ đem hết điều đã học được để làm việc lợi ích ấy. Bởi vậy tôi muốn khởi công ngay.

Chu Đức Kiệt nói :
- Từ trước ngu huynh và Lam Y không chú ý tới việc đó, nay phụ tá hiền thê khởi công cũng được chớ sao? Hình như Lam Y còn muốn du hiệp sang hướng Tây bắc và Tây nam? Đi luôn luôn thành thử không săn sóc được việc nhà. Quản trang Vương Bình thì chỉ đủ sức trông nom điều khiển những công việc đã hiện hình.

Âu Dương Bích Nữ nói :
- Việc gây giống hoang mã này về sau không bận rộn tới ta, nhưng chúng ta cần phải khởi công, và luyện cho mọi người trong trang biết cách khai thác, trong thời gian một hai năm ta sẽ rãnh tay, muốn du hiệp nơi đâu mà chẳng được?

Nhìn vợ chồng Đức Kiệt, một ý nghĩ khác hiền bật ra trong tâm trí nàng, Lam Y liền nói :
- Vân du hành hiệp là một việc bất cứ ta thực hành lúc nào cũng được, huynh tẩu chẳng nên quan tâm. Hiện thời, chúng ta khai thác nốt khu đất rộng lớn của nhà, chừng nào xong xuôi hoàn toàn sẽ hay. Trước kia song thân hẳn phải có ý định mở mang lớn nên mới sắm cả một khu đất đai rộng lớn này, nay ta gây giống hoang mã, biết đâu không trúng ý Người? Tiểu muội nhất quyết giúp hiền tẩu trong vụ khai thác nốt phần đất nhà.

Chu Đức Kiệt hiểu ý Lam Y, mỉm cười quay đi nơi khác. Chàng nói :
- Kìa! Ba tuấn mã đã khát rồi, trở về hang cho chúng ăn cỏ thì trời vừa tối.
Lam Y bảo :
- Hiền huynh dắt ngựa về trước cho chúng ăn cỏ và gây thêm lửa, tiểu muội và tẩu tẩu tắm rồi sẽ về sau.

Chu Đức Kiệt đi khỏi, hai nàng cởi áo xuống suối tắm.

Trong khi hai người đang giỡn nước giữa dòng suối trong veo, chợt Âu Dương Bích Nữ chỉ nên chỗ y phục vắt lên cành cây mà rằng :
- Cô muội coi kìa!

Lam Y tưởng có người vội ngồi thụp xuống nước rồi mới nhìn lên phía tay Âu Dương Bích Nữ chỉ thì thấy một con rắn cặp nong đang trường khúc ngay cành cây vắt y phục.
Nàng mỉm cười nhìn chị dâu :
- Tẩu tẩu khiến tiểu muội hết hồn! Tưởng có người!

Âu Dương Bích Nữ cười ròn rã :
- Bộ cô muội tưởng đây là suối đào trong Thiên Thai động nên Lưu, Nguyễn lạc tới chăng?
- Chẳng người thì cũng hoảng hồn vì độc xà. Trông nó buồn nôn lắm! Trời ơi, nó bò thẳng tới chỗ vắt y phục kìa!

Quả thế, con cặp nong khúc vàng, khúc đen thân lớn bằng cổ tay dài hơn sải tay, lưỡi thè ra ngọ nguậy như tia lửa, đang trườn tới sát chỗ y phục Lam Y, Âu Dương Bích Nữ vắt ngay đầu cành khô... nhưng không, độc xà không tiến xa hơn nữa. Nó ngóc đầu lắc la, lắc lư, thỉnh thoảng lại tia lưỡi ra, coi ghét tệ! Nhẹ tay, Lam Y lượm một viên đá cuội trong lòng suối, nhằm đầu rắn chọi mạnh.
Trúng giữa đầu, ác xà có lẽ bị choáng váng nên khúc mình trên nó rời khỏi cành cây lòng thòng lơ lững vì đuôi nó còn đang quấn chặt.

Lam Y lựa một viên đá nữa liệng trúng thân ác xà. Con cặp nong rớt bộp xuống đất quằn quại, uể oải bò đi.
Âu Dương Bích Nữ nói :
- Gẫy khúc rồi mà nó còn cố trườn. Giống rắn không bị đánh đập đầu không chết.
Lam Y thở phào :
- Miễn là nó đừng bò vào y phục. Tiểu muội lợm giọng khi thấy rắn. Thôi, lên bờ đi.

Lát sau, hai nàng về tới nơi thì Đức Kiệt đã gây xong đống lửa lớn ở cửa hang. Màn đêm buông lần lần, khí rừng bốc lên phảng phất khắp nội cỏ ngàn cây.

Sáng hôm sau, điểm tâm, uống trà xong, Tam hiệp lên ngựa vượt suối, nhằm hướng tây len lỏi theo dấu vết hoang mã đi đến cuối giờ Thìn, bỗng nhiên ba con tuấn mã bắt đầu vểnh tai như đánh hơi thấy sự gì lạ. Âu Dương Bích Nữ nói :
- Bầy hoang mã không còn xa đâu. Ba con ngựa tinh khôn này đánh hơi thấy rồi đó.

Đi độ một khắc nữa, Tam hiệp tới một khe đá chỉ vừa chỗ cho một người một ngựa qua thôi.
Lam Y reo lên :
- Bên ngoài sáng thế kia có lẽ là thung lũng...
Âu Dương Bích Nữ nói tiếp :
- Nội cỏ lớn thì đúng hơn, chắc chắn bầy hoang mã ở đó rồi! Thử coi?

Nàng xuống ngựa đưa dây cương cho Đức Kiệt chạy thẳng ra khe đá ló đầu nhìn đoạn vẫy tay rối rít gọi hai người đi sau. Lam Y, Đức Kiệt xuống ngựa, rảo bước tới.

Giữa thung lũng khá lớn, mặt đất mọc toàn thanh thảo mã xanh rờn, bầy hoang mã đang thản nhiên ăn cỏ lác đác khắp nơi. Âu Dương Bích Nữ chỉ tay mà rằng :
- Cô muội và Chu lang coi, giống thú thông minh này trật tự lắm. Tuy chúng sống thành đoàn, nhưng trong nội cỏ lớn, gia đình nào riêng biệt gia đình ấy. Mối tốp nhỏ đây là một gia đình có con đực to dữ hơn hết làm chủ rõ rệt lắm.

Lam Y nói :
- Tốp năm, tốp bảy, có tất cả mười hai gia đình trong đoàn hoang mã này, phải không?

Âu Dương Bích Nữ đếm qua, gật đầu đồng ý :
- Đúng mười hai tốp.
Đức Kiệt hỏi :
- Nhưng tốp trưởng đoàn đâu, nhìn mãi không ra.

Âu Dương Bích Nữ đáp :
- Nhận kỹ xem đã. Tốp nào có con đực hùng dũng hơn cả là chúa bầy.
Lam Y lẩm bẩm :
- Con nào trông cũng khỏe, toàn thể cả cái lẫn đực và ngựa con ngót trăm đầu.

Ba người còn đang mải miết nhận xét, bỗng từ phía đầu thung lũng bên kia, một hoang mã loang hai màu đen trắng, bờm dài trắng như cước, sống mũi dọc trắng, nghếch đầu hí vang rồi phóng mình phi nước kiệu vòng quanh nội cỏ. Con ngựa hoang đó phi tuyệt đẹp, bốn vó lướt như bay trên ngọn cỏ, bờm và đuôi tung ra theo chiều gió coi thiệt kỳ vỹ. Nó chạy vòng đến chỗ khe núi có Tam hiệp núp đang mải miết xem ngắm cảnh thì bống chồm ngược hai vó trước lên cao, quay đi mấy vòng rồi lại tiếp tục phi vòng về chỗ cũ, nơi gia đình đông hơn cả đang bình thản ăn cỏ.

Lam Y nói :
- Thì ra hoàng gia đông hơn cả!
Âu Dương Bích Nữ lắc đầu :
- Không cứ như thế đâu, có khi đông có khi ít. Nhưng chắc chắn hoang mã vừa rồi là đại vương rồi.

Đức Kiệt nói :
- Đẹp thiệt! Hai vó trước ngần đến đầu gối, hai vó sau đen tuyền đến mắt cá đốm trắng. Các vết loang ở trên mình nó cũng đúng chỗ, vừa ý, chẳng khác chi con Bạch hồng mã của hiền thê. Bắt nó về dùng chăng?

Âu Dương Bích Nữ nói :
- Bắt nó về dùng vị tất đã tốt vì không biết tuổi nó bao nhiêu. Tỉ dụ nó ít năm thì dùng được vì đời sống gia đình chưa hại tới sức khỏe của nó. Trái lại, nó nhiều năm rồi thì dùng nó làm ngựa giống được thôi. Bây giờ muốn chắc chắn, người bắt hoang mã phải lựa con nó mà bắt nuôi lớn lên mới tốt.

Nàng mỉm cười nhìn hai người một cách ranh mãnh rồi nói tiếp :
- Nhưng tội gì bắt lẻ từng con như vậy? Ta sẽ bắt cả đoàn hoang mã này. Con đầu đoàn hùng vĩ như thế, tất trong đoàn còn nhiều con nhỏ xuất tướng.

Nhận xét một hồi nữa, Âu Dương Bích Nữ cầm tay Đức Kiệt và Lam Y trở bước về chỗ để ngựa, tìm phiến đá lớn dưới bóng cây cùng ngồi.

Nàng nói :
- Nếu chúng ta cứ thẳng hướng tây mà đi thì trưa mai về tới địa phận Bình Dương thành, phải không? Nghĩa là từ đây về khu đất đai của nhà ta không bao xa. Thung lũng có bầy hoang mã này bỏ hoang không người khai khẩn, đủ tỏ rằng không ai chú trọng đến các vùng đất ăn sâu vào rừng núi này. Bầy hoang mã kia thường lưu động từ đây sang khu Thanh Thảo sơn, chúng qua lại nơi này đã quen, và thật ra thung lũng đây mới là chỗ trú ngụ của chúng. Trước hết, ta có thể lấp khe núi này chặn đường không cho chúng trở lại Thanh Thảo sơn, sau đó ta tiếp tục lấp các khe núi khác nếu có. Giống hoang mã cần lưu động luôn luôn, chúng bị nghẽn lối này tất phải tìm đường thoát khác, về phía Bình Dương huyện chẳng hạn...

Lam Y ngắt lời :
- Tiểu muội hiểu hiền tẩu định nói gì rồi. Dồn bầy hoang mã này về nội cỏ thuộc đất nhà chớ gì?
Âu Dương Bích Nữ gật đầu :
- Đúng thế! Nhưng dồn hẳn chúng về cũng không được. Ta phải mặc chúng lưu động từ thung lũng này về tới khu nội cỏ của nhà, và muốn cho chúng không thoát ra, ta sẽ khởi công đóng gióng ngăn tại phía Bình Dương.

Lam Y suy tính :
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 1
 
Posts: 687
Joined: Wed Nov 23, 2011 5:39 pm
I am: Reader

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp

Postby Editor 1 » Tue Aug 26, 2014 12:09 am

Hồi 45 (Tiếp)


Lam Y suy tính :
- Nhưng chắc rằng có đường ăn từ đây về khu đất nhà hay lại thông đi nơi khác thì uổng công.
Hai nàng bỗng ngừng nói chuyện, nhìn Đức Kiệt đang chăm chú đi quanh các gốc cây gần đó, như muốn tìm kiếm một vật gì. Âu Dương Bích Nữ hỏi lớn :
- Chu lang tìm cái chi vậy?
- Tìm câu trả lời câu hỏi vừa rồi của Lam Y.

Hai nàng ngạc nhiên nhìn nhau. Âu Dương Bích Nữ hỏi chồng :
- Sao lại nhìn gốc cây tìm câu trả lời Lam Y? Chịu không hiểu?

Bỗng Đức Kiệt mừng rỡ đứng dừng lại trước gốc cây đa lớn rồi vẫy tay gọi Lam Y và Âu Dương Bích Nữ lại mà rằng :
- Hai người có nhận thấy gì lạ trên thân cây đa này không?
Hai nàng chăm chú nhìn quanh thân cây đa vỏ sù sì và cũng nhận ra một chữ lớn mỗi chiều rộng tới một thước.

Chữ đó tuy không đều đặn rõ ràng nhưng cũng đủ để hai nàng đồng thanh :
- Chữ “Chu!”.
Lam Y ngạc nhiên :
- Sao lại có chữ “Chu” trên thân cây? Sao hiền huynh biết là có chữ ấy mà tìm kiếm ở đây?

Chu Đức Kiệt trở lại gốc cây có mấy phiến đá xuống mà rằng :
- Vừa rồi Lam Y hiền muội thắc mắc về vấn đề lối đi khiến ngu huynh chợt nhớ ra năm mười một, mười hai tuổi chi đó, đã có một lần phụ thân dẫn ngu huynh và Vương quản trang đi thăm thú đất của nhà. Phụ thân đi sâu mãi vào trong núi mà ngu huynh không biết là phương hướng nào, nhưng chỉ chợt nhớ rằng trưa hôm sau đi tới một thung lũng toàn cỏ xanh mướt và sau đó ngồi nghỉ, ăn bữa trưa trong khe núi. Nhân lúc phụ thân và Vương Bình mải tháo yên cương cho ngựa ăn, và nghỉ ngơi, ngu huynh lấy dao khắc chữ “Chu” lên một thân cây. Nay nhớ chữ đó ngu huynh nhận ra là chính tại đây phụ thân đã cắm trại nghỉ trưa hôm ấy.

Lam Y hỏi :
- Cùng một cảnh vật hoang vu này mà hiền huynh không nhận ra ngay từ lúc mới tới sao?
Đức Kiệt mỉm cười :
- Hiền muội nói câu ấy là không nhận xét kỹ! Trước hết hồi ấy ngu huynh theo phụ thân đi ngược chiều khó nhận lắm. Điều thứ nhì, cảnh vật có khác xưa. Tỉ dụ cây đa có khắc chữ “Chu” kia trước nhỏ nay lớn hơn một ôm. Các cây khác quanh đây cũng đổi khác rất nhiều. Ba phiến đá lớn và các phiến đá nhỏ lác đác đây trước không có ở gốc cây này, có lẽ mới chùi đá rớt xuống chăng? Chữ Chu khi trước khắc sâu lớn bằng bàn tay, nay chữ nở ngót một thước theo sức lớn của thân cây. Theo thời gian, cảnh vật đã đổi khác rất nhiều, duy có mấy trái núi và rừng cây dày đặc ở đầu thung lũng ngoài kia là vẫn trơ trơ cùng tuế nguyệt. Tuy vậy, có một điều chắc chắn là từ thung lũng này, có lối thông và nối liền với khu nội cỏ của Chu gia.

Âu Dương Bích Nữ cười ròn rã :
- Nghĩa là chương trình dự tính bắt bầy hoang mã này thuộc về Chu gia có thể thực hiện được?
Đức Kiệt gật đầu :
- Không những thực hiện được hoàn hảo mà ngu huynh còn cho biết rằng - theo lời phụ thân - không có đường mòn nào khác ngoài con đường này.

Lam Y reo lên :
- Vậy thì ngay bây giờ ta có thể chặn đá lớn bít khe núi này trước đã, để bầy hoang mã khỏi thoát về phía Thanh Thảo sơn. Sau đó, ta trở về Bình Dương ngay, tức tốc khởi công đóng gióng khu vực nội cỏ rồi trở lại đây lùa đoàn hoang mã về phía đất nhà cho chúng quen dường là xong việc.
Đức Kiệt đứng lên nói :
- Ba tảng đá lớn đây lấp được vừa khe núi này không?

Âu Dương Bích Nữ đáp :
- Thừa sức, vừa đủ bề ngang và chiều cao, dù hoang mã dữ thế nào cũng không thể nhảy qua được.
Lam Y bảo Âu Dương Bích Nữ :
- Tẩu tẩu hãy dắt ngựa ra ngoài thung lũng, để việc lấp khe núi cho tiểu muội cùng Chu huynh.

Theo lời Lam Y, Âu Dương Bích Nữ dắt ba tuấn mã ra thung lũng đứng chắn ngang khe núi. Đức Kiệt cùng Lam Y nhìn mấy phiến đá không thấy chỗ nào khả dĩ bấu tay để nhấc lên vai đi được, bèn dùng sức dần ra tới miệng khe, chắn hai tảng hai bên, còn tảng thứ ba thì hai người khiêng đặt lên trên.
Sau đó, hai người vác những tảng đá nhỏ lấp hết các chỗ trống.

Lam Y nói :
- Bức tường thô sơ này trừ voi ra không một con thú nào húc đổ được. Chỉ trong vòng mấy tháng nữa, cây leo, cỏ dại sẽ mọc đầy, lấp hết vết đá chồng nhân tạo.
Lam Y, Đức Kiệt phi thân đứng lên mỏm đá trên cùng nhìn bao quát thung lũng rồi nhảy xuống thảm cỏ mượt êm ru.

Âu Dương Bích Nữ trao cương cho hai người dặn rằng :
- Đừng băng qua thung lũng nhé. Chu lang nhớ lối dẫn về tới đất nhà không?
- Nhớ ra rồi. Nào đi!

Ba người cho ngựa đi bước một, dọc theo ven chân núi, vòng sang bên kia thung lũng rồi mới rẽ vào con đường mòn trong khe núi tương đối rộng hơn lối mới gấp ba bốn lần.
Lam Y nói :
- Lối này dễ chạy hơn nhiều và cũng dẫn tới nội cỏ rộng rãi của nhà, tại sao bầy hoang mã không bao giờ lưu động ra tới đây, mà cứ phải chạy về phía Thanh Thảo sơn?

Âu Dương Bích Nữ đáp :
- Dễ hiểu lắm. Giống hoang mã vốn không ưa lui tới những khu đất nào tiếp giáp với nơi có người ở. Nội cỏ của nhà thì gần như liền ngay với khu khai khẩn, hoang mã không tới vì lẽ đó. Ngay như vừa rồi, chúng ăn cỏ ở đầu thung lũng bên kia, ta đi vòng phía bên này chúng mới không sợ.


Chu Đức Kiệt nói :
- Nếu vậy, đóng gióng để ngăn khu nội cỏ của nhà với khu khai khẩn cũng chống chếnh lắm nhỉ, vị tấy bầy hoang mã đã dám tới nơi ăn cỏ đàng hoàng như trong thung lũng hoang vu kia. Ta phải xây hẳn một bức tường cho kín đáo hơn. Hoang mã sẽ lầm bức tướng là vách núi chớ gì? Vả lại, khoảng trống cần phải xây tường để bít kín, nội cỏ của nhà cũng chỉ có vài trăm thước thôi, ngoài ra đã có vách núi.

Âu Dương Bích Nữ hỏi Đức Kiệt :
- Xây bao lâu xong bức tường ấy?
- Không bao lâu. Mộ hẳn vài trăm nhân công là việc Vương quản trang có thể làm trong nháy mắt, mua và chở vật liệu đào móng mất một ngày. Công việc xây dựng độ hai ngày là quá nhiều. Tổng cộng gọi già ra là bốn ngày có thể hoàn thành và tường sẽ cao một trượng. Nơi cổng ra vào, ngu huynh sẽ cho xây một vọng lầu có mái, có thể đứng trên ấy tự do quan sát bầy hoang mã mà không khinh động tới chúng.

Lam Y hỏi Đức Kiệt :
- Hiền huynh có nhớ hồi ấy phụ thân vào khu rừng này với mục đích gì không?
- Không, để hỏi Vương Bình sẽ rõ.
Chiều hôm ấy, Tam hiệp cắm trại ngủ trong núi, quá ngọ hôm sau về tới khu nội cỏ thuộc Chu gia. Đức Kiệt chỉ dẫn cho Lam Y và Âu Dương Bích Nữ xem nơi chàng dự tính cho xây bức tường thành và nơi đặt vọng lâu. Hai nàng đều ưng ý.

Xế chiều, ba người vào thành về trang trại. Lúc qua cổng trang, Đức Kiệt cười mà rằng :
- Hôm ra đi, chúng ta dự tính thăm thú vùng Lao Sơn, rốt cuộc thành ra mất nhiều thì giờ về vụ Ngao Sơn Đầu, đành bỏ lửng vụ kia.
Lam Y nói :
- Vừa mới ra biển rồi không lẽ lại đi biển nữa? Trở về lo vụ hoang mã là phải.

Tam hiệp cưỡi ngựa vào tới thềm đại sảnh. Vương quản trang, Trần nhũ mẫu và mọi người trong trang chạy ra đón tiếp. Vỗ vai Vương Bình, Chu Đức Kiệt vui vẻ hỏi :
- Ở nhà có chuyện gì lạ không?
- Thưa không, mọi sự bình thường.

Lam Y ranh mãnh bảo viên quản trang trung thành :
- Nếu vậy, chúng tôi đem việc về cho quản trang đây.

Vương Bình ngạc nhiên :
- Việc gì thế tiểu thư?
- Trước hết, tôi muốn hỏi quản trang câu này đã. Khi xưa, gia phụ cùng quản trang vào nó đi ra lối Thanh Thảo sơn làm gì thế? Còn nhớ không?

Vương Bình nghĩ giây lát :
- A! Vụ ấy lâu lắm, tôi nhớ ra rồi. Chuyến ấy có cả đại lang cùng đi, riêng có tiểu thư còn nhỏ quá nên lão Trang chủ không cho đi theo. Đại lang còn nhớ không?

Đức Kiệt gật đầu :
- Nhớ lắm chứ! Chính tôi nhắc chuyện ấy cho Lam Y nghe, nhưng không nhớ ra vì lý do gì gia phụ lại vào miền hoang vu ấy?
- Thưa, tôi biết một phần nào thôi. Cố lão Trang chủ nghi ngờ là đã có hoang mã về đến khu đất thuộc Chu gia nên người đi tìm. Hiềm vì hồi ấy đang trúng hai tháng khô thành thử không nhận ra dấu vết gì hết.

Lam Y nói :
- Nếu đi quá nữa thấy rõ dấu vết, hiềm vì khi đến một thung lũng nhỏ, cắm trại nghỉ trong khe núi rồi trở bước ngay nên không thấy gì là phải.

Dứt lời, nàng kể chuyện gặp bầy hoang mã cho Vương Bình nghe. Viên quản trang gật đầu :
- Bây giờ ba vị lập chương trình đưa bầy hoang mã về đất nhà tức là nối được chí hướng khi xưa của cố Trang chủ, nhưng... tôi còn nhớ chuyến đi ấy, cố Trang chủ còn tìm một nơi nào có ba cây - một cây thông, một cây dương, một cây hòe - tôi không dám hỏi Người vì lý do gì và chỉ chú ý thấy thỉnh thoảng Người lại mở một tờ giấy lớn bằng hai bàn tay chụm lại ra xem.
Về sau này, cố Trang chủ có đi nữa hay không, tôi không được rõ, nhưng chuyến độc nhất có đại lang và tôi, hoàn toàn vô kết quả.
Lam Y, Đức Kiệt nhìn nhau, ngạc nhiên.

Đức Kiệt lẩm bẩm :
- Lạ nhỉ! Khi tôi nhỏ tuổi, phụ thân không nói gì đã đành, sau này lớn lên, việc gì phụ thân cũng nói cho hay, chẳng nhẽ một chuyện như thế mà người không cho tôi biết sao? Từ ngày ấy đến nay mấy chục năm qua rồi!

Lam Y thở dài :
- Thôi, bỏ chuyện đó để đi lo việc hiện tại. Sớm mai, Vương quản trang liệu tính với đại lang việc xây đắp bức tường nói tới vừa rồi. Ta cần phải tranh thủ thời gian. Bầy hoang mã bị lấp lối Thanh Thảo sơn tất thế nào, chẳng phải dồn, chúng cũng lưu động ngược ra phía này.

Đức Kiệt bảo Vương Bình :
- Quản trang thuộc nơi tôi muốn xây bức tường đó rồi. Lát nữa xong bữa, tôi sẽ lập một họa đồ vị trí xây dựng và kích thước hẳn hòi.
- Việc đó không khó khăn, đại lang để tôi trù tính đốc xuất.
Sáng hôm sau, Vương Bình đi lo việc nhân công vật liệu. Đức Kiệt rủ vợ và em lên huyện nha.

Âu Dương Bích Nữ hỏi chồng :
- Nếu không có việc gì liên hệ, Chu lang lên huyện một mình được rồi. Chị em tôi ở nhà cũng có việc, đi hoài.
Đức Kiệt mỉm cười :
- Mỗi chuyến ngu huynh gặp Thẩm Ngọc Thụ thì Thẩm phu nhân đều quý mến hỏi thăm, nên ngu huynh mời cùng đi. Bận việc thì thôi.

Lam Y bảo chị dâu :
- Để Chu huynh đi, chị em ta vào hậu đường đo may mấy chiếc áo cần dùng đi!

Hôm ấy, Thẩm huyện quan không có việc can hệ tan hầu sớm, nghe báo Chu trang chủ thì vội vàng thân mật ra tận cổng đường đón vào nhà trong. Đức Kiệt thuật việc Ngao Sơn Đầu và Linh Sơn đảo cho họ Thẩm nghe. Huyện quan nói :
- Tôi cũng nhận được thư của Trương tham tướng phát tả việc chinh phạt. Y rất ca tụng tài đức ba vị.
Chu Đức Kiệt nói :
- Tôi có một việc muốn yêu cầu Thẩm công.
- Xin cứ nói. Tôi rất vui lòng.
Đức Kiệt thuật việc chàng muốn khai khẩn khu đất có bầy hoang mã cho huyện quan nghe và nói tiếp :
- Tôi xin Thẩm công cấp cho một công thư chứng nhận phần đất tôi sẽ khởi công khai thác đó thuộc phần Chu gia trang...

Thẩm Ngọc Thụ cười ha hả :
- Đất hoang bỏ thừa thiếu gì. Chu trang chủ khai khẩn là một việc may cho triều đình, cần chi giấy tờ?
- Khu đất ấy thuộc lối qua lại của gia súc, tôi cần dứt khoát, sau này sẽ dễ nói chuyện hơn.
Thẩm Ngọc Thụ gật đầu :
- Trang chủ dạy chí phải, vậy xin tự kỷ lập họa đồ khu đất mà Trang chủ ưng ý. Tôi sẽ lập chứng thư và vào sổ Điền bộ là xong.

Đức Kiệt nói mấy câu cảm ơn rồi cáo biệt. Họ Thẩm cố giữ lại khoản đãi nhưng chàng bận việc, hẹn khi khác. Về đến nhà, Đức Kiệt đem việc lập họa đồ thung lũng, đường chạy của hoang mã tiếp đến khu nội cỏ, nói cho vợ và em nghe. Lam Y nói :
- Nếu vậy chờ hoàn thành bức tường, chúng ta đằng nào cũng phải trở lại thung lũng dồn bầy hoang mã cho chúng biết đường về Bình Dương. Lúc đó hiền huynh sẽ thấy phương hướng, phác họa bản đồ và đóng bảng lên các thân cây dọc theo lối đi lập ranh giới cho đường hoang mã chạy.

Âu Dương Bích Nữ đồng ý :
- Cô muội nói phải, tôi rất tán thành việc lập các tấm bảng ranh giới đường chạy của hoang mã, nhưng trong chứng thư cần ghi rõ ràng suốt dọc hai bên đường mòn, mỗi bên rộng một dặm là thuộc phần đất Chu gia. Như vậy cốt tránh hết mọi sự tranh chấp sau này, nếu có!
Đức Kiệt mỉm cười nhìn vợ :
- Làm gì mà chặt chẽ thế? Ai dám quấy rầy ta nữa?

Âu Dương Bích Nữ không do dự :
- Biết đâu một ngày kia Lôi Vân Long không trở về Bình Dương và sẽ tiếp tục đương đầu với ta? Y có thể xin Thẩm Ngọc Thụ công khai lấy một khoảng đất nào đó bên lề đường lưu thông của bầy hoang mã và làm cho chúng hoảng sợ, thất tán thì sao?

- Chà! Nếu Lôi Vân Long hành động như vậy tức là gây chiến và buộc ta phải đánh rồi chi nữa?
- Dĩ nhiên là ta sẽ trả miếng, nhưng y có lý quấy phá cả một chương trình xây dựng của Chu gia. Trái lại, nếu hai bên đường đi đều thuộc phần đất của ta thì y không dám xâm nhập để chịu lỗi trước toàn dân Bình Dương. Hai trường hợp khác nhau xa.

Lam Y lên tiếng :
- Tẩu tẩu tiên phòng như vậy là phải lắm, hiền huynh nên theo lời. Lôi Vân Long tuy bỏ Bình Dương đã lâu, nhưng đất đai của y còn cả ở tả khu huyện này, biết đâu một ngày kia y không trở lại gia trang như chúng ta? Khi đó sẽ khó xử. Vậy ta nên thận trọng là hơn hết.

Luôn trong bốn ngày trời, Tam hiệp và Vương quản trang đốc thúc ba trăm công nhân hoàn thành bức tường gạch thật kiên cố. Sau đó, Đức Kiệt rút bớt đi, chỉ để lại một số người chọn lọc xây vọng lâu ở ra vào, trao cho Vương Bình nhiệm vụ trông nom việc xây cất. Còn chàng cùng Lam Y, Âu Dương Bích Nữ đem theo sáu trang đinh chở các tấm bảng nhỏ bằng cây vào lối đường mòn đóng dấu lối đi. Mọi người vào đến thung lũng nhỏ mà người Chu gia trang từ đó đặt thành tên là Kỳ Mã Ổ - bầy hoang mã hãy còn quanh quẩn ăn cỏ tại đó.

Âu Dương Bích Nữ nói :
- Kỳ Mã Ổ không có cây ở giữa khu đồng cỏ, mỗi khi mưa lớn, nắng chiều hoang mã phải trú ẩn cả trong hốc núi mà còn nhiều cây lớn, chúng sẽ thích thú hơn với bóng mát.
Lam Y hỏi chị dâu :
- Bây giờ ta dồn bầy hoang mã về chớ?
- Tuy suy kỹ rồi, không cần dồn nhưng ta phi ngựa lẫn vào trong đám hoang mã cho chúng bắt được hơi ba con tuấn mã này, sau ta trở về, tự khắc chúng sẽ theo dấu chạy ra đường ngoài.

Đức Kiệt quay lại bảo các trang đinh :
- Các ngươi hãy bình tĩnh lên ngựa rượt theo chúng ta và chớ hoảng sợ, nghe?

Âu Dương Bích Nữ thúc ngựa ra trước, nàng vẫy tay bảo hai trang đinh theo sau, đoạn phi thẳng ra giữa thung lũng. Lam Y cùng hai trang đinh khác phi ngựa sang phía tả thung lũng, sau là Đức Kiệt và hai trang đinh sau cùng phóng ngựa sang phía hữu. Tổng cộng chín người kia thành ba đợt phi ngựa thiệt lẹ chạy bừa vào bầy hoang mã.

Thấy hơi lạ, chúng nghểnh cổ lên nhìn, vắt đuôi rũ bờm hí vang động cả toàn khu Kỳ Mã Ổ. Con ngựa đầu đàn loang màu trắng, đen rượt theo con Bạch hồng mã của Âu Dương Bích Nữ. Được thể, Âu Dương Bích Nữ cho Bạch hồng mã phi thiệt lẹ quanh toàn khu thung lũng một vòng rồi cũng rẽ luôn vào con đường mòn chạy riết. Con hoang mã đầu đàn ngừng chạy ngay ở đó. Nó tung bờm, bốc hai vó trước hí vang từng đoạn phóng như bay trở lại đuổi theo con Bạch Mã của Lam Y.

Lam Y theo đúng phương pháp của Âu Dương Bích Nữ chạy quanh thung lũng một vòng rồi cũng rẽ vào đường mòn chạy thẳng.

Sau cùng đến lượt Chu Đức Kiệt. Chàng hô bọn trang đinh cho chúng chạy trước, e có kẻ theo không kịp té ngựa chăng.

Đoạn hậu, Đức Kiệt phi ngựa nhốn nháo khắp trong thung lũng cho con hoang mã đầu đàn theo rồi mới rẽ vào đường mòn chạy thẳng. Lần này con vật tinh không kiêu dũng đó, bốc tiền, bốc hậu thiệt lâu tại chỗ. Nó nghếch đầu nhìn mãi vào đường mòn, đánh hơi, hí vang động. Mãi sau, nó mới phi trở lại, dồn toàn bầy theo nó sang phía khe núi đã bị lấp, đoạn chạy thẳng sang con đường mà nó mới khám phá ra. Toàn bầy xôn xao hồi lâu rồi mới ăn cỏ lại như thường.

Nói về Âu Dương Bích Nữ mặc cho con Bạch Hồng phi một quãng xa mới ngừng lại chờ mọi người. Tụ tập đông đủ nàng nói :
- Về Bình Dương chờ thôi. Thế nào bầy hoang mã cũng theo về, không lâu đâu.

Hôm sau về tới khu nội cỏ. Âu Dương Bích Nữ thấy còn nhiều cát ở phía ngoài bức tường liền bảo bọn trang đinh khuân đổ thành đống trong nội cỏ.
- Để cát cho bầy hoang mã đầm mình. Trong Kỳ Mã Ổ không có cát, chúng đầm xuống một khu toàn đất.
Lam Y hỏi Âu Dương Bích Nữ :
- Thiết tưởng nên đổ cát vào gần lạch nước tiện dụng cho bầy hoang mã hơn?
- Cô muội nói phải, nhưng đổ cát cho chúng quen đầm mình nơi đây tiện cho chúng ta hơn. Ngồi trên vọng lâu nhìn gần mới có thể nhận xét được dáng dấp của từng con.

Lúc đó, bức tường và cổng đã xong, duy chỉ có vọng lâu là đang được xây cất dở dang. Các nhân công do Vương Bình đôn đốc ăn ngủ tại chỗ để hoàn thành mau lẹ mọi việc. Âu Dương Bích Nữ dặn viên quản trang :
- Trong trường hợp bầy hoang mã tới nội cỏ này, quản trang nên chú ý bảo các thợ thuyền làm việc im lặng và không được bắc thang trèo lên mặt tường nhòm ngó. Đất mới, ta cần để cho chúng không hoảng sợ mới mong chúng ở vĩnh viễn được.
- Còn độ hai ngày nữa thì hoàn thành vọng lâu, phu nhân có thể ước đoán chừng bữa nào hoang mã di chuyển tới đây không?

Âu Dương Bích Nữ lắc đầu :
- Không thể nào nói trước được. Có khi một vài ngày và cũng có thể là sáng mai chưa biết chừng. Lúc chúng đến nơi, công nhân không được ồn ào. Miễn sao là cho chúng tưởng như nội cỏ này cũng ở giữa nơi hoang vu thích hợp với chúng. Quản trang nên chú ý thận trọng kẻo hữu công vô lao.

Căn dặn mọi việc xong. Tam hiệp cùng bọn trang đinh trở về trang trại. Trần nhũ mẫu đưa trình Đức Kiệt tấm danh thiếp của Thẩm huyện quan. Chàng đọc, đoạn bảo vợ và em :
- Thẩm công và phu nhân mời chúng ta trưa mai dùng bữa tại tư dinh. Liệu sửa soạn mai đi, nhé?
Liền ngay mấy ngày sau, Tam hiệp có ý chờ tin từ ngoài nội cỏ báo về vụ hoang mã mà tuyệt nhiên không có gì hết. Lúc đó, việc xây dựng vọng lâu đã xong. Vương Bình và mấy tráng đinh túc trực ngay trên vọng lâu mong ngóng bầy hoang mã di chuyển về nội cỏ.

Tam hiệp - nhất là Âu Dương Bích Nữ - nóng ruột vô cùng. Ngày nào ba người cũng ra vọng lâu chờ chán lại về trang. Âu Dương Bích Nữ nói :
- Không lẽ nào chúng không theo đường mòn ra nội cỏ nhà. Hay là có sự gì xẩy ra trong Kỳ Mã Ổ chăng?
Lam Y suy tính giây lát :
- Ta cố gắng chờ cho hết ngày mai là năm ngày, nếu hoang mã không về, sáng mốt ta sẽ vào Kỳ Mã Ổ xem sao.

Vợ chồng Đức Kiệt đồng ý.
Trưa hôm sau, trong lúc ba người đang dùng bữa trưa trong hậu sảnh, thì chợt nghe tiếng vó ngựa phi vang dội ngoài sân trước.

Âu Dương Bích Nữ buông đũa, hớn hở :
- Xong rồi! Vương quản trang cho trang đinh phi mã về báo! Chắc thế không sai!
Tam hiệp cùng đứng lên toan chạy ra khách sảnh, thì trang đinh đã rảo bước đi vào, miệng thở dốc :
- Thưa Trang chủ, bầy hoang mã vừa về tới nội cỏ. Đông lắm!
- Được rồi! Cho ngươi nghỉ ngơi. Bảo thắng ngựa, mau!

Ba người mừng rỡ bỏ bữa ăn, phi ngựa ra thẳng khu nội cỏ. Ba con tuấn mã như đánh hơi được bầy thú đồng giống bên trong dãy tường nên đua nhau lộng hí. Cũng vậy, bên kia bức tường bầy hoang mã phi sầm sập, hí vang lừng. Vương Bình đón Tam hiệp ở chân vọng lầu :
- Chúng về tới nội cỏ vào quãng cuối giờ Tị. May quá, toi đã bắt đầu thất vọng.

Ba người vội chạy một mạch ra leo thang lầu, lên vọng lâu đứng sau bức chắn phong kín đáo nhìn vào trong nội cỏ. Bầy hoang mã - dẫn đầu bởi con tuấn mã đầu đàn hai màu - phi vòng quanh nội cỏ. Con thú nào đuôi và bờm cũng dài tỏa ngược ra phía sau. Bầy ngựa đủ màu sắc:
ô, bạch, hoàng thổ, hồng, mai hoa sám, mai hoa vàng, hai màu hắc bạch, hồng bạch. Lam Y thích chí :
- Không chi ngoạn mục bằng bức họa thiên nhiên này. Bầy hoang mã đủ sắc, đủ màu phi nước kiệu trong nội cỏ xanh rờn như tấm thảm nhung. Hùng dũng thật!

Nàng quay lại hỏi Vương Bình đứng phía sau :
- Chúng mới chạy hay từ lâu rồi?
- Thưa, từ lúc về tới nội cỏ là chúng cứ chạy hoài như vậy, chưa lúc nào ngừng.

Âu Dương Bích Nữ nói :
- Theo kinh nghiệm về mã tánh, mỗi khi bầy hoang mã khám phá ra một khu nào mới, chúng thường phi khắp chung quanh rất lâu. Có lẽ để nạt nộ các thú vật khác trong khu ấy với tiếng vó chạy sầm sập của toàn bầy chăng? Và cũng có thể là chúng vui mừng vừa phi lộng hí để tỏ ra rằng chúng là chủ toàn khu nội cỏ mới chiếm được chăng?

Đức Kiệt nói :
- Đoán thế nào cũng trúng. Ngu huynh thấy có hai thuyết đều có nghĩa. Bầy hoang mã không khác chi toán quân Hung nô, mỗi khi chiến thắng chúng đều tận tình ăn mừng một cách thiệt man dã nhưng hào hùng... Coi kìa! Ngay phía sau con nhị thể hắc bạch, ba con hồng, hắc và mai hoa cùng chạy đều một hàng, con nào cũng kiêu dũng, có kẽ cả ba đều là đệ nhị anh hùng trong bầy chăng?

Âu Dương Bích Nữ gật đầu :
- Đích vậy. Thế nào cũng có bữa ta được mục kích trận đấu tranh chức vô địch giữa mấy con thú ấy.
Lam Y nói :
- Chưa chắc, tẩu tẩu ạ, con đầu đàn còn dũng mãnh lắm, đáng mặt chỉ huy.

Chợt nghĩ ra điều gì, Vương quản trang hỏi Tam hiệp :
- Quên khuấy đi mất một điều là trong khu nội cỏ này, thỉnh thoảng mãnh hổ vẫn về vồ nai. Bầy hoang mã sẽ bị nguy hiểm chăng?

Âu Dương Bích Nữ đáp :
- Không sợ đâu! Nếu vài con hoang mã sống lẻ loi thì mãnh hổ trở nên nguy hiểm thật. Nhưng trong trường hợp này, chúng sống thành đoàn sáu, bảy mươi con thế kia, con nào cũng dữ dội mạnh mẽ, nếu mãnh hổ lộ diện đương đầu thì chỉ bị uổng mạng vì bị vó ngựa dày xéo thôi. Tuy vậy, lão hổ ranh mãnh lắm, nó ngồi trong bụi rình mà thèm chớ không dám khinh động đâu. Riêng con đầu đàn và mấy con theo sau kia dám can đảm đương đầu với bấy cứ dị thú nào. Chúng dùng đủ mọi đòn: cán, bốc vó tiền bổ xuống, đá vó hậu, hung hãn dị thường, lão hổ có tới gần được chúng cũng còn bị khó khăn nhiều. Vả lại, hoang mã sống có đoàn thể, cả bầy sẽ xúm lại tranh đấu. Chẳng hạn, như bây giờ nếu ta thả mấy con hung mã bất kham nuôi trong tầu ngựa nhà ra nội cỏ, con đầu đàn hoang mã gây xung đột ngay. Nếu kẻ mới đến không biết tòng phục theo bầy thì bị tan xác tức thì.

Đức Kiệt nói :
- Trong cảnh hoang mã lộng phi này, ngu huynh nhớ đến những bức họa tuyệt mỹ của Thiên Lý Mã Tào Chí bên Dương Châu. Và bây giờ ngu huynh mới hiểu lý do ý thích của gã họ Tào ấy. Bức danh họa dã mã, bức bát tuấn và bộ bát tuấn bằng thấu lục ngọc quả thiệt vô giá. Hiện thời, ngu huynh muốn có những bảo vật ấy bày trong đại sảnh.

Lam Y mỉm cười bảo Âu Dương Bích Nữ :
- Chu huynh bắt đầu mê khảo cổ, sưu tầm về môn mã rồi đó.

Âu Dương Bích Nữ nói :
- Chu lang cần chi phải ao ước? Tào Chí có các bức mã đồ danh họa, bát tuấn thấu lục, một tầu tuấn mã thuần tánh, kể đáng quý thật. Nhưng họ Tào không có nổi bầy hoang mã kỳ hùng như Chu gia! Đặc biệt hơn nữa là bầy dã thú ấy sống ngay trong nội cỏ của nhà, ngồi trên vọng mã lâu này, ta có thể quan sát bộ điệu của từng con một và cảnh sống đoàn thể của toàn bầy. Tào Chí làm chi có hoạt cảnh như ta?

Đức Kiệt vui vẻ :
- Hiền thê lý luận xác đáng. Ngu huynh muốn viết thư mời Tào Chí đến Bình Dương cho y được mục kích công trình kỳ tạo của hiền thê.

Lam Y nói :
- Chắc gì Tào Chí đi được? Nhà họ Tào đơn người. Hạ Thái Phương thì yếu đuối, cho đến nay chắc cũng chưa hoàn hồn sau vụ nàng bị Phi Không đầu đà giam hãm trong Kim Cương tự, Tào đại ca đâu dám bỏ nhà lên tận Bình Dương xa xôi này!

Đức Kiệt ừ hứ :
- Xa thì xa chứ, cứ nói đến tuấn mã thì dù thiên sơn vạn thủy gã cũng mò đi xem tận nơi.
Âu Dương Bích Nữ vỗ vai chồng, chỉ xuống khu nội cỏ :
- Coi kìa, Chu lang. Có bức họa nào đẹp như thế kia không?
Lúc đó, bầy hoang mã hình như chạy đã chán. Chúng ngừng cả lại quanh đống cát. Con kỳ mã đầu đàn tiến vào giữa đống cát, lăn lộn đầm mình, cát dính mồ hôi bám đầy thân. Nó đứng lên, rùng mình, tung bờm rũ cát, đoạn lại lăn xả xuống đống cát đầm nữa cho đến kỳ khô cát không bám được vào thân nữa mới thôi.
Bấy giờ cả đoàn hoang mã mới kéo ồ vào tắm cát, trong khi con đầu đàn lững thững đi ngược vào phía trong nội cỏ uống nước ở lạch. Tắm cạn và giải khát xong, bầy dã mã đi tản ra khắp mọi nơi, toán nào chủ ấy, ăn cỏ dưới bóng cây um tùm xanh mát.
Chu Đức Kiệt tặc lưỡi mà rằng :
- Triều đình hoang mã kể cũng tôn tị trật tự lắm đấy chứ! Nhớ hồi năm kia khi qua Quan gia ổ ở Mã Thạch cương, biểu đệ Quan Long có thuật chuyện theo bọn lái ngựa vào Xuyên Thục hàng phục con Tiểu Xích thố nghe thiệt thích thú. Ai dè nay chính mình lại được mục kích cuộc sống đoàn thể của giống thú thông minh tuấn dũng đó.
Lam Y ranh mãnh :
- Đó là nhờ đại công của “Nội tướng” nhé. Bao năm nay, anh em ta ở kề bên khu vực có hoang mã mà không hề biết thưởng thức cái đẹp, cái hay của chúng. Đi đã nhiều nơi, quả thiệt chưa thấy ai có nổi một tầu kỳ mã như chúng ta.
Âu Dương Bích Nữ nói :
- Các mã trại có nhiều hơn thế này chứ, nhưng toàn giống ngựa hoặc bắt được, hoặc gây giống, được luyện tập chớ không hoang dã như bầy thú kia. Để ít ngày nữa, cho chúng quen thuộc với khu nội cỏ, ta sẽ bắt con kỳ mã đầu đàn về nuôi và gây giống.
Lam Y ngăn :
- Con thú ấy đẹp thật đó, khi đóng đủ yên cương coi còn hùng dũng hơn lúc thường này nhiều, nhưng thôi bắt nó làm chi? Chúng ta có ba con tuấn mã tuyệt hảo dư dùng rồi. Còn việc gây giống thì cứ để nó man dã thế này vẫn gây được như thường. Trông những con cái thuộc con đầu đàn, con nào cũng có nước da bóng loáng đầy sinh lực, màu sắc coi được cả, làm chi chẳng gây được giống tốt. Ta sẽ bắt con nó về nuôi lợi hơn bắt nó.
Đức Kiệt đồng ý :
- Lam Y nói phải. Hiền thê đừng dự tính bắt con kỳ mã bất lợi. Với đàn thú này, chỉ độ hơn một năm nữa, sức sản xuất sẽ tăng gấp đôi.

Vương quản trang nói :
- Khi trước, lúc còn sanh thời, lão Trang chủ thường nói tới chuyện bắt hoang mã, nhưng không bao giờ, Người nghĩ tới việc bắt cả bầy vừa gọn gàng vừa tâm lý như Đại nương (chỉ Âu Dương Bích Nữ).
Thiệt là giản dị.

Tam hiệp và Vương Bình đang nói chuyện, bỗng mây đen u ám đầy trời, gió thổi mạnh phần phật. Vương quản trang nói :
- Ta không về thành thì mưa đến nơi rồi!
Âu Dương Bích Nữ cười :
- Dịp may đấy chứ! Ta đứng đây quan sát xem bầy hoang mã có biết đường trú mưa không hay chịu trận.

Mưa bắt đầu đổ lác đác, hột thiệt lớn. Bầy hoang mã vẫn ăn cỏ dưới gốc cây lớn như thường, nhưng thỉnh thoảng chúng lại nghếch mũi lên hí vang như báo cho đồng bọn biết tiết trời thay đổi.
Trái lại, con kỳ mã đầu đàn bỏ không ăn cỏ nữa. Nó bốc tiền lên cao ba bốn lần, hí vang và sau đó bắt đầu phi thiệt lẹ, dồn cả bầy lại thành một toán.

Mưa nặng hột bắt đầu đổ lớn xuống muôn vật. Bầy hoang mã quây quần ở cả vào một khu trống, mặc cho nước mưa dội xuống đầy mình. Chúng vươn cổ rủ bờm hí vang.

Chu Đức Kiệt phì cười :
- Chúng được trời cho tắm nước có vẻ khoái trá lắm! Nhưng ở mãi ngoài mưa thế này thì không được!
Âu Dương Bích Nữ nhìn chồng :
- Chu lang đừng lo, chúng tắm chán sẽ kéo nhau vào hang núi kia cho mà coi!

Quả nhiên, độ một khắc sau, toàn bầy hoang mã chuyển động theo con đầu đàn chạy lăng xăng một hồi rồi kéo tuốt vào mé hang núi bên hữu. Đức Kiệt nói :
- Không được hang này nhỏ quá. Bây giờ thì tạm được nhưng ít lâu nữa hoang mã sanh sản thêm đông hơn, thì lấy chỗ đâu mà trú? Mưa ít không sao, còn khi mưa tới bốn năm ngày thì làm thế nào?

Chờ khi nào hoang mã trở vào khu thung lũng, ta sẽ mướn nhân công phá hang sâu thêm vào mới được. Vương quản trang nhớ hộ vụ này, nhé.
Phải phá sâu bằng hai như bây giờ.

Lam Y hỏi Âu Dương Bích Nữ :
- Mưa dầm nhiều ngày, thì chúng ăn cỏ ướt quá sao được?
- Không sao! Hoang mã chớ đâu phải ngựa nuôi trong tầu nhà? Chúng xông pha quen rồi. Bởi vậy bụng hoang mã phần nhiều không đáy bằng ngựa nuôi. Con nào bị bắt được săn sóc ít lâu, bụng sẽ thon, đẹp ngay. Người không kinh nghiệm về mã tánh thường hay chê bụng hoang mã không được thon bằng ngựa nuôi cũng vì lẽ hoang mã thường ăn phải cỏ ướt khi trời mưa. Được nuôi trong tầu ít lâu, bụng chúng sẽ thon đáy như thường. Nhưng cũng không nhất định hẳn như vậy. Như con hoang mã đầu đàn và nhiều con đực khác trong bầy này, ai dám bảo bụng chúng lớn?

Lam Y nói :
- Phá hang núi cho thêm phần sâu rộng, chất sẵn cỏ khô vào trong đó là hai việc phải làm thêm khi bầy hoang mã trở vào Kỳ Mã Ổ.
Âu Dương Bích Nữ nói :
- Việc phá rộng hang núi phải dùng nhiều nhân công e kinh động tới chúng mới phải chờ chuyến sau.

Còn việc cho ăn cỏ khô thiết tưởng ta có thể cho vài người tạm chất ngay vào trong hang. Một khi bầy hoang mã quen dùng cả hai thứ cỏ non, khô, có lẽ chúng sẽ không muốn rời nội cỏ này lâu đâu. Vương quản trang lo việc tích trữ cỏ để sẵn dưới vọng lâu này, tôi sẽ đích thân chuyển các bó cỏ vào trong hang. Chuyến sau trang đinh cứ theo đúng lề lối ấy mà hành động.

Trận mưa to đã tạnh hẳn. Tam hiệp cùng Vương Bình trở về trang sau khi cắt đặt hai trang đinh ở lại vọng lâu canh phòng thường trực.
Lam Y về phòng thay áo không thấy Trần nhũ mẫu đâu cả, bèn gọi thể nữ Hạnh Hoa hỏi :
- Trần nhũ mẫu đâu, nãy giờ không thấy?
Thể nữ đáp :
- Thưa tiểu thư, nhũ mẫu đang lau chùi, dọn dẹp phòng bày bàn thờ.
- Ủa! Sáng nào cũng lau chùi rồi, sao hôm nay chiều tối mới làm việc ấy?
- Thưa tiểu thư, lúc nãy gió to mưa lớn cỏ mảnh ngói rớt trúng bể hộp kính bày trên bàn thờ nên nhũ mẫu mới dọn dẹp cho sạch sẽ. Tiểu thư để con vào gọi?
- Thôi được để ta vào xem sao.

Giữa lúc ấy vợ chồng Đức Kiệt đã thay y phục xong đi tới, Đức Kiệt bảo :
- Hiền muội ra thư phòng dùng bữa. Trưa nay bỏ ăn đói bụng lắm rồi.

Không trả lời câu hỏi. Lam Y nói cho vợ chồng Đức Kiệt nghe việc ngói rớt bể hộp kính đựng gia phả trên bàn thờ. Ba người liền vào xem thì vừa lúc Trần nhũ mẫu cùng con gái là Võ Nguyệt Minh đã dọn dẹp xong, sắp sửa ra đi.

Nguyên từ khi thân mẫu của Đức Kiệt, Lam Y mất đi, Trần nhũ mẫu không những trông coi chăm sóc cho Lam Y mà ngày nào cũng dọn dẹp, kiểm việc nhang khói thường nhựt trên bàn thờ Chu phu nhân. Về sau, lão Trang chủ Chu Đức Văn hạc nội mây ngàn, thì Đức Kiệt thờ song thân chung vào một bàn, bày bàn kế bên bàn thờ gia tiên, cho đến nay Trần nhũ mẫu vẫn giữ phận sự trung thành nhang đèn trong phòng thờ. Lam Y thân mật quý nhũ mẫu như mẹ ruột nàng. Đổi lại, họ Trần cũng quý mến Nhị Nương như Nguyệt Minh vậy. Từ nhỏ, Lam Y và Nguyệt Minh suốt ngày nô đùa cùng nhau.

Chu Đức Văn theo phương pháp nhà nghề gia truyền luyện tập võ nghệ cho Đức Kiệt, Lam Y rất sớm. Nguyệt Minh nhát không muốn theo, tuy Lam Y vẫn rủ nàng cùng tập luyện cho vui. Lần lần lớn lên, Lam Y ép mãi, Nguyệt Minh nể lời chăm chỉ tập tành thì lúc đó, sức học của Lam Y đã tiến xa rồi. Tuy vậy, Nguyệt Minh cũng biết ít nhiều côn, quyền có thể tự vệ được.
Trong trang trại, Nguyệt Minh thường giúp Trần nhũ mẫu công việc thường ngày ở trên nhà toàn thể trong ngoài rất là châu đáo ngăn nắp, cũng như Vương Bình và con trai là Vương Hoành phụ trách tất cả mọi việc trong trang, điều khiển trang đinh, trông coi các điền thổ ngoại thành thuộc Chu gia, ngoại trừ khu nhà lớn, hai tòa lầu Vọng Võ đình, Bách Hoa đình và bốn nữ bộc: Thúy Hoa, Kiển Hoa, Quỳ Hoa, Hạnh Hoa. Bốn thể nữ này đều là con các lão bộc trong Chu gia trang, nay thành canh điền ở ngoại thành...

Lam Y ôm lấy vai Trần nhũ mẫu, thân mến hỏi :
- Làm chi mà suốt ngày dọn dẹp trong phòng thờ thế này, hả lão mẫu?
Trần nhũ mẫu chỉ tay lên mái nhà phía trên bàn thờ gia tiên :
- Nhị nương coi (danh từ thân mật mà nhũ mẫu thường quen gọi Lam Y từ khi nàng còn tấm bé), nửa viên ngói kia không biết bể từ bao giờ mà hôm nay rớt trúng ngay hộp kính giữa lúc mưa to gió lớn.

Nàng hỏi :
- Mưa có ngấm và dột không?
Trần nhũ mẫu lắc đầu :
- Không, đó là hàng ngói trần mà! Nguyệt Minh vừa leo lên lấp thế viên ngói khác rồi. Viên ngói lớn rớt trúng mặt hộp kính bể tan, tôi lượm các mảnh kính bỏ xuống đây, còn đáy hộp cùng cuốn gia phả vẫn nguyên chỗ.

Đức Kiệt tiến đến án thờ nhìn lên mái xem xét chỗ viên ngói bể, đoạn nhắc cuốn gia phả để sang bên, lấy đáy hộp kính xuống. Chàng nói :
- Mai phải đưa cái đáy này vào phố dặt một nắp kính khác, khung cây mảnh quá!
Vừa nói, chàng vừa lật đi lật lại đáy hộp bằng gỗ để coi thì chợt ngạc nhiên thốt lên một tiếng “A!”.
Lúc ấy Trần nhũ mẫu và Nguyệt Minh đã đem các mảnh kính và dẹp những mảnh ngói bể ra khỏi phòng.

Lam Y, Âu Dương Bích Nữ lấy làm lạ, đồng thanh :
- Có gì thế?
Đức Kiệt không trả lời. Chàng lắc đáy hộp, ghé tai nghe, giây lát mới nói :
- Hai người nghe này! Đáy hộp rỗng, hình như có gì lạo xạo bên trong.
Lam Y đón lấy đáy hộp lắc nghe thử và đưa cho Âu Dương Bích Nữ :
- Phải rồi, bên trong có gì, thử mở ra coi. Đáy hộp rỗng, tất có chỗ mở.

Đức Kiệt cầm đèn đến gần bên soi cho Lam Y và Âu Dương Bích Nữ lật đi lật lại nhận xét đáy hộp kính tìm chỗ mở. Trừ bốn cái khe giao nhau thành hình chữ nhật để úp nắp kính, toàn thân đáy hộp bằng gỗ trầm hương nhẵn lì.

Bỗng Lam Y la lên :
- A! Có lẽ đây rồi! Coi cái vết tròn lờ mờ ở góc đây.
Âu Dương Bích Nữ liền rút cây trâm cài trên tóc ấn mạnh vào vết tròn đó. Mặt trên của chiếc đáy hộp kính ấy bật hẳn lên, phần trong rỗng đựng một mảnh giấy lụa dầy dặn gấp tư lớn bằng bàn tay. Tấm giấy lâu đời đã vàng khè. Âu Dương Bích Nữ lượm lấy đưa cho Lam Y, đoạn nàng đóng nắp gỗ lại xem sao chỉ nghe thấy tách một tiếng, nắp hộp đóng lại như thường.

Nàng hỏi :
- Hộp đựng gia phả có đáy bí mật mà Chu lang và cô muội không biết ư?
Chu Đức Kiệt đáp :
- Mỗi khi cúng húy nhựt thì chỉ mở nắp kính lấy gia phả bày lên án kiện chớ nhắc hẳn đáy hộp làm chi?
Chàng để chiếc hộp kính lên bàn thờ, đoạn cùng Lam Y và Âu Dương Bích Nữ mở tờ giấy lụa ra coi...
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 1
 
Posts: 687
Joined: Wed Nov 23, 2011 5:39 pm
I am: Reader

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp

Postby Editor 1 » Tue Aug 26, 2014 12:10 am

Hồi 45 (Tiếp)


Lam Y suy tính :
- Nhưng chắc rằng có đường ăn từ đây về khu đất nhà hay lại thông đi nơi khác thì uổng công.
Hai nàng bỗng ngừng nói chuyện, nhìn Đức Kiệt đang chăm chú đi quanh các gốc cây gần đó, như muốn tìm kiếm một vật gì. Âu Dương Bích Nữ hỏi lớn :
- Chu lang tìm cái chi vậy?
- Tìm câu trả lời câu hỏi vừa rồi của Lam Y.

Hai nàng ngạc nhiên nhìn nhau. Âu Dương Bích Nữ hỏi chồng :
- Sao lại nhìn gốc cây tìm câu trả lời Lam Y? Chịu không hiểu?

Bỗng Đức Kiệt mừng rỡ đứng dừng lại trước gốc cây đa lớn rồi vẫy tay gọi Lam Y và Âu Dương Bích Nữ lại mà rằng :
- Hai người có nhận thấy gì lạ trên thân cây đa này không?
Hai nàng chăm chú nhìn quanh thân cây đa vỏ sù sì và cũng nhận ra một chữ lớn mỗi chiều rộng tới một thước.

Chữ đó tuy không đều đặn rõ ràng nhưng cũng đủ để hai nàng đồng thanh :
- Chữ “Chu!”.
Lam Y ngạc nhiên :
- Sao lại có chữ “Chu” trên thân cây? Sao hiền huynh biết là có chữ ấy mà tìm kiếm ở đây?

Chu Đức Kiệt trở lại gốc cây có mấy phiến đá xuống mà rằng :
- Vừa rồi Lam Y hiền muội thắc mắc về vấn đề lối đi khiến ngu huynh chợt nhớ ra năm mười một, mười hai tuổi chi đó, đã có một lần phụ thân dẫn ngu huynh và Vương quản trang đi thăm thú đất của nhà. Phụ thân đi sâu mãi vào trong núi mà ngu huynh không biết là phương hướng nào, nhưng chỉ chợt nhớ rằng trưa hôm sau đi tới một thung lũng toàn cỏ xanh mướt và sau đó ngồi nghỉ, ăn bữa trưa trong khe núi. Nhân lúc phụ thân và Vương Bình mải tháo yên cương cho ngựa ăn, và nghỉ ngơi, ngu huynh lấy dao khắc chữ “Chu” lên một thân cây. Nay nhớ chữ đó ngu huynh nhận ra là chính tại đây phụ thân đã cắm trại nghỉ trưa hôm ấy.

Lam Y hỏi :
- Cùng một cảnh vật hoang vu này mà hiền huynh không nhận ra ngay từ lúc mới tới sao?
Đức Kiệt mỉm cười :
- Hiền muội nói câu ấy là không nhận xét kỹ! Trước hết hồi ấy ngu huynh theo phụ thân đi ngược chiều khó nhận lắm. Điều thứ nhì, cảnh vật có khác xưa. Tỉ dụ cây đa có khắc chữ “Chu” kia trước nhỏ nay lớn hơn một ôm. Các cây khác quanh đây cũng đổi khác rất nhiều. Ba phiến đá lớn và các phiến đá nhỏ lác đác đây trước không có ở gốc cây này, có lẽ mới chùi đá rớt xuống chăng? Chữ Chu khi trước khắc sâu lớn bằng bàn tay, nay chữ nở ngót một thước theo sức lớn của thân cây. Theo thời gian, cảnh vật đã đổi khác rất nhiều, duy có mấy trái núi và rừng cây dày đặc ở đầu thung lũng ngoài kia là vẫn trơ trơ cùng tuế nguyệt. Tuy vậy, có một điều chắc chắn là từ thung lũng này, có lối thông và nối liền với khu nội cỏ của Chu gia.

Âu Dương Bích Nữ cười ròn rã :
- Nghĩa là chương trình dự tính bắt bầy hoang mã này thuộc về Chu gia có thể thực hiện được?
Đức Kiệt gật đầu :
- Không những thực hiện được hoàn hảo mà ngu huynh còn cho biết rằng - theo lời phụ thân - không có đường mòn nào khác ngoài con đường này.

Lam Y reo lên :
- Vậy thì ngay bây giờ ta có thể chặn đá lớn bít khe núi này trước đã, để bầy hoang mã khỏi thoát về phía Thanh Thảo sơn. Sau đó, ta trở về Bình Dương ngay, tức tốc khởi công đóng gióng khu vực nội cỏ rồi trở lại đây lùa đoàn hoang mã về phía đất nhà cho chúng quen dường là xong việc.
Đức Kiệt đứng lên nói :
- Ba tảng đá lớn đây lấp được vừa khe núi này không?

Âu Dương Bích Nữ đáp :
- Thừa sức, vừa đủ bề ngang và chiều cao, dù hoang mã dữ thế nào cũng không thể nhảy qua được.
Lam Y bảo Âu Dương Bích Nữ :
- Tẩu tẩu hãy dắt ngựa ra ngoài thung lũng, để việc lấp khe núi cho tiểu muội cùng Chu huynh.

Theo lời Lam Y, Âu Dương Bích Nữ dắt ba tuấn mã ra thung lũng đứng chắn ngang khe núi. Đức Kiệt cùng Lam Y nhìn mấy phiến đá không thấy chỗ nào khả dĩ bấu tay để nhấc lên vai đi được, bèn dùng sức dần ra tới miệng khe, chắn hai tảng hai bên, còn tảng thứ ba thì hai người khiêng đặt lên trên.
Sau đó, hai người vác những tảng đá nhỏ lấp hết các chỗ trống.

Lam Y nói :
- Bức tường thô sơ này trừ voi ra không một con thú nào húc đổ được. Chỉ trong vòng mấy tháng nữa, cây leo, cỏ dại sẽ mọc đầy, lấp hết vết đá chồng nhân tạo.
Lam Y, Đức Kiệt phi thân đứng lên mỏm đá trên cùng nhìn bao quát thung lũng rồi nhảy xuống thảm cỏ mượt êm ru.

Âu Dương Bích Nữ trao cương cho hai người dặn rằng :
- Đừng băng qua thung lũng nhé. Chu lang nhớ lối dẫn về tới đất nhà không?
- Nhớ ra rồi. Nào đi!

Ba người cho ngựa đi bước một, dọc theo ven chân núi, vòng sang bên kia thung lũng rồi mới rẽ vào con đường mòn trong khe núi tương đối rộng hơn lối mới gấp ba bốn lần.
Lam Y nói :
- Lối này dễ chạy hơn nhiều và cũng dẫn tới nội cỏ rộng rãi của nhà, tại sao bầy hoang mã không bao giờ lưu động ra tới đây, mà cứ phải chạy về phía Thanh Thảo sơn?

Âu Dương Bích Nữ đáp :
- Dễ hiểu lắm. Giống hoang mã vốn không ưa lui tới những khu đất nào tiếp giáp với nơi có người ở. Nội cỏ của nhà thì gần như liền ngay với khu khai khẩn, hoang mã không tới vì lẽ đó. Ngay như vừa rồi, chúng ăn cỏ ở đầu thung lũng bên kia, ta đi vòng phía bên này chúng mới không sợ.


Chu Đức Kiệt nói :
- Nếu vậy, đóng gióng để ngăn khu nội cỏ của nhà với khu khai khẩn cũng chống chếnh lắm nhỉ, vị tấy bầy hoang mã đã dám tới nơi ăn cỏ đàng hoàng như trong thung lũng hoang vu kia. Ta phải xây hẳn một bức tường cho kín đáo hơn. Hoang mã sẽ lầm bức tướng là vách núi chớ gì? Vả lại, khoảng trống cần phải xây tường để bít kín, nội cỏ của nhà cũng chỉ có vài trăm thước thôi, ngoài ra đã có vách núi.

Âu Dương Bích Nữ hỏi Đức Kiệt :
- Xây bao lâu xong bức tường ấy?
- Không bao lâu. Mộ hẳn vài trăm nhân công là việc Vương quản trang có thể làm trong nháy mắt, mua và chở vật liệu đào móng mất một ngày. Công việc xây dựng độ hai ngày là quá nhiều. Tổng cộng gọi già ra là bốn ngày có thể hoàn thành và tường sẽ cao một trượng. Nơi cổng ra vào, ngu huynh sẽ cho xây một vọng lầu có mái, có thể đứng trên ấy tự do quan sát bầy hoang mã mà không khinh động tới chúng.

Lam Y hỏi Đức Kiệt :
- Hiền huynh có nhớ hồi ấy phụ thân vào khu rừng này với mục đích gì không?
- Không, để hỏi Vương Bình sẽ rõ.
Chiều hôm ấy, Tam hiệp cắm trại ngủ trong núi, quá ngọ hôm sau về tới khu nội cỏ thuộc Chu gia. Đức Kiệt chỉ dẫn cho Lam Y và Âu Dương Bích Nữ xem nơi chàng dự tính cho xây bức tường thành và nơi đặt vọng lâu. Hai nàng đều ưng ý.

Xế chiều, ba người vào thành về trang trại. Lúc qua cổng trang, Đức Kiệt cười mà rằng :
- Hôm ra đi, chúng ta dự tính thăm thú vùng Lao Sơn, rốt cuộc thành ra mất nhiều thì giờ về vụ Ngao Sơn Đầu, đành bỏ lửng vụ kia.
Lam Y nói :
- Vừa mới ra biển rồi không lẽ lại đi biển nữa? Trở về lo vụ hoang mã là phải.

Tam hiệp cưỡi ngựa vào tới thềm đại sảnh. Vương quản trang, Trần nhũ mẫu và mọi người trong trang chạy ra đón tiếp. Vỗ vai Vương Bình, Chu Đức Kiệt vui vẻ hỏi :
- Ở nhà có chuyện gì lạ không?
- Thưa không, mọi sự bình thường.

Lam Y ranh mãnh bảo viên quản trang trung thành :
- Nếu vậy, chúng tôi đem việc về cho quản trang đây.

Vương Bình ngạc nhiên :
- Việc gì thế tiểu thư?
- Trước hết, tôi muốn hỏi quản trang câu này đã. Khi xưa, gia phụ cùng quản trang vào nó đi ra lối Thanh Thảo sơn làm gì thế? Còn nhớ không?

Vương Bình nghĩ giây lát :
- A! Vụ ấy lâu lắm, tôi nhớ ra rồi. Chuyến ấy có cả đại lang cùng đi, riêng có tiểu thư còn nhỏ quá nên lão Trang chủ không cho đi theo. Đại lang còn nhớ không?

Đức Kiệt gật đầu :
- Nhớ lắm chứ! Chính tôi nhắc chuyện ấy cho Lam Y nghe, nhưng không nhớ ra vì lý do gì gia phụ lại vào miền hoang vu ấy?
- Thưa, tôi biết một phần nào thôi. Cố lão Trang chủ nghi ngờ là đã có hoang mã về đến khu đất thuộc Chu gia nên người đi tìm. Hiềm vì hồi ấy đang trúng hai tháng khô thành thử không nhận ra dấu vết gì hết.

Lam Y nói :
- Nếu đi quá nữa thấy rõ dấu vết, hiềm vì khi đến một thung lũng nhỏ, cắm trại nghỉ trong khe núi rồi trở bước ngay nên không thấy gì là phải.

Dứt lời, nàng kể chuyện gặp bầy hoang mã cho Vương Bình nghe. Viên quản trang gật đầu :
- Bây giờ ba vị lập chương trình đưa bầy hoang mã về đất nhà tức là nối được chí hướng khi xưa của cố Trang chủ, nhưng... tôi còn nhớ chuyến đi ấy, cố Trang chủ còn tìm một nơi nào có ba cây - một cây thông, một cây dương, một cây hòe - tôi không dám hỏi Người vì lý do gì và chỉ chú ý thấy thỉnh thoảng Người lại mở một tờ giấy lớn bằng hai bàn tay chụm lại ra xem.
Về sau này, cố Trang chủ có đi nữa hay không, tôi không được rõ, nhưng chuyến độc nhất có đại lang và tôi, hoàn toàn vô kết quả.
Lam Y, Đức Kiệt nhìn nhau, ngạc nhiên.

Đức Kiệt lẩm bẩm :
- Lạ nhỉ! Khi tôi nhỏ tuổi, phụ thân không nói gì đã đành, sau này lớn lên, việc gì phụ thân cũng nói cho hay, chẳng nhẽ một chuyện như thế mà người không cho tôi biết sao? Từ ngày ấy đến nay mấy chục năm qua rồi!

Lam Y thở dài :
- Thôi, bỏ chuyện đó để đi lo việc hiện tại. Sớm mai, Vương quản trang liệu tính với đại lang việc xây đắp bức tường nói tới vừa rồi. Ta cần phải tranh thủ thời gian. Bầy hoang mã bị lấp lối Thanh Thảo sơn tất thế nào, chẳng phải dồn, chúng cũng lưu động ngược ra phía này.

Đức Kiệt bảo Vương Bình :
- Quản trang thuộc nơi tôi muốn xây bức tường đó rồi. Lát nữa xong bữa, tôi sẽ lập một họa đồ vị trí xây dựng và kích thước hẳn hòi.
- Việc đó không khó khăn, đại lang để tôi trù tính đốc xuất.
Sáng hôm sau, Vương Bình đi lo việc nhân công vật liệu. Đức Kiệt rủ vợ và em lên huyện nha.

Âu Dương Bích Nữ hỏi chồng :
- Nếu không có việc gì liên hệ, Chu lang lên huyện một mình được rồi. Chị em tôi ở nhà cũng có việc, đi hoài.
Đức Kiệt mỉm cười :
- Mỗi chuyến ngu huynh gặp Thẩm Ngọc Thụ thì Thẩm phu nhân đều quý mến hỏi thăm, nên ngu huynh mời cùng đi. Bận việc thì thôi.

Lam Y bảo chị dâu :
- Để Chu huynh đi, chị em ta vào hậu đường đo may mấy chiếc áo cần dùng đi!

Hôm ấy, Thẩm huyện quan không có việc can hệ tan hầu sớm, nghe báo Chu trang chủ thì vội vàng thân mật ra tận cổng đường đón vào nhà trong. Đức Kiệt thuật việc Ngao Sơn Đầu và Linh Sơn đảo cho họ Thẩm nghe. Huyện quan nói :
- Tôi cũng nhận được thư của Trương tham tướng phát tả việc chinh phạt. Y rất ca tụng tài đức ba vị.
Chu Đức Kiệt nói :
- Tôi có một việc muốn yêu cầu Thẩm công.
- Xin cứ nói. Tôi rất vui lòng.
Đức Kiệt thuật việc chàng muốn khai khẩn khu đất có bầy hoang mã cho huyện quan nghe và nói tiếp :
- Tôi xin Thẩm công cấp cho một công thư chứng nhận phần đất tôi sẽ khởi công khai thác đó thuộc phần Chu gia trang...

Thẩm Ngọc Thụ cười ha hả :
- Đất hoang bỏ thừa thiếu gì. Chu trang chủ khai khẩn là một việc may cho triều đình, cần chi giấy tờ?
- Khu đất ấy thuộc lối qua lại của gia súc, tôi cần dứt khoát, sau này sẽ dễ nói chuyện hơn.
Thẩm Ngọc Thụ gật đầu :
- Trang chủ dạy chí phải, vậy xin tự kỷ lập họa đồ khu đất mà Trang chủ ưng ý. Tôi sẽ lập chứng thư và vào sổ Điền bộ là xong.

Đức Kiệt nói mấy câu cảm ơn rồi cáo biệt. Họ Thẩm cố giữ lại khoản đãi nhưng chàng bận việc, hẹn khi khác. Về đến nhà, Đức Kiệt đem việc lập họa đồ thung lũng, đường chạy của hoang mã tiếp đến khu nội cỏ, nói cho vợ và em nghe. Lam Y nói :
- Nếu vậy chờ hoàn thành bức tường, chúng ta đằng nào cũng phải trở lại thung lũng dồn bầy hoang mã cho chúng biết đường về Bình Dương. Lúc đó hiền huynh sẽ thấy phương hướng, phác họa bản đồ và đóng bảng lên các thân cây dọc theo lối đi lập ranh giới cho đường hoang mã chạy.

Âu Dương Bích Nữ đồng ý :
- Cô muội nói phải, tôi rất tán thành việc lập các tấm bảng ranh giới đường chạy của hoang mã, nhưng trong chứng thư cần ghi rõ ràng suốt dọc hai bên đường mòn, mỗi bên rộng một dặm là thuộc phần đất Chu gia. Như vậy cốt tránh hết mọi sự tranh chấp sau này, nếu có!
Đức Kiệt mỉm cười nhìn vợ :
- Làm gì mà chặt chẽ thế? Ai dám quấy rầy ta nữa?

Âu Dương Bích Nữ không do dự :
- Biết đâu một ngày kia Lôi Vân Long không trở về Bình Dương và sẽ tiếp tục đương đầu với ta? Y có thể xin Thẩm Ngọc Thụ công khai lấy một khoảng đất nào đó bên lề đường lưu thông của bầy hoang mã và làm cho chúng hoảng sợ, thất tán thì sao?

- Chà! Nếu Lôi Vân Long hành động như vậy tức là gây chiến và buộc ta phải đánh rồi chi nữa?
- Dĩ nhiên là ta sẽ trả miếng, nhưng y có lý quấy phá cả một chương trình xây dựng của Chu gia. Trái lại, nếu hai bên đường đi đều thuộc phần đất của ta thì y không dám xâm nhập để chịu lỗi trước toàn dân Bình Dương. Hai trường hợp khác nhau xa.

Lam Y lên tiếng :
- Tẩu tẩu tiên phòng như vậy là phải lắm, hiền huynh nên theo lời. Lôi Vân Long tuy bỏ Bình Dương đã lâu, nhưng đất đai của y còn cả ở tả khu huyện này, biết đâu một ngày kia y không trở lại gia trang như chúng ta? Khi đó sẽ khó xử. Vậy ta nên thận trọng là hơn hết.

Luôn trong bốn ngày trời, Tam hiệp và Vương quản trang đốc thúc ba trăm công nhân hoàn thành bức tường gạch thật kiên cố. Sau đó, Đức Kiệt rút bớt đi, chỉ để lại một số người chọn lọc xây vọng lâu ở ra vào, trao cho Vương Bình nhiệm vụ trông nom việc xây cất. Còn chàng cùng Lam Y, Âu Dương Bích Nữ đem theo sáu trang đinh chở các tấm bảng nhỏ bằng cây vào lối đường mòn đóng dấu lối đi. Mọi người vào đến thung lũng nhỏ mà người Chu gia trang từ đó đặt thành tên là Kỳ Mã Ổ - bầy hoang mã hãy còn quanh quẩn ăn cỏ tại đó.

Âu Dương Bích Nữ nói :
- Kỳ Mã Ổ không có cây ở giữa khu đồng cỏ, mỗi khi mưa lớn, nắng chiều hoang mã phải trú ẩn cả trong hốc núi mà còn nhiều cây lớn, chúng sẽ thích thú hơn với bóng mát.
Lam Y hỏi chị dâu :
- Bây giờ ta dồn bầy hoang mã về chớ?
- Tuy suy kỹ rồi, không cần dồn nhưng ta phi ngựa lẫn vào trong đám hoang mã cho chúng bắt được hơi ba con tuấn mã này, sau ta trở về, tự khắc chúng sẽ theo dấu chạy ra đường ngoài.

Đức Kiệt quay lại bảo các trang đinh :
- Các ngươi hãy bình tĩnh lên ngựa rượt theo chúng ta và chớ hoảng sợ, nghe?

Âu Dương Bích Nữ thúc ngựa ra trước, nàng vẫy tay bảo hai trang đinh theo sau, đoạn phi thẳng ra giữa thung lũng. Lam Y cùng hai trang đinh khác phi ngựa sang phía tả thung lũng, sau là Đức Kiệt và hai trang đinh sau cùng phóng ngựa sang phía hữu. Tổng cộng chín người kia thành ba đợt phi ngựa thiệt lẹ chạy bừa vào bầy hoang mã.

Thấy hơi lạ, chúng nghểnh cổ lên nhìn, vắt đuôi rũ bờm hí vang động cả toàn khu Kỳ Mã Ổ. Con ngựa đầu đàn loang màu trắng, đen rượt theo con Bạch hồng mã của Âu Dương Bích Nữ. Được thể, Âu Dương Bích Nữ cho Bạch hồng mã phi thiệt lẹ quanh toàn khu thung lũng một vòng rồi cũng rẽ luôn vào con đường mòn chạy riết. Con hoang mã đầu đàn ngừng chạy ngay ở đó. Nó tung bờm, bốc hai vó trước hí vang từng đoạn phóng như bay trở lại đuổi theo con Bạch Mã của Lam Y.

Lam Y theo đúng phương pháp của Âu Dương Bích Nữ chạy quanh thung lũng một vòng rồi cũng rẽ vào đường mòn chạy thẳng.

Sau cùng đến lượt Chu Đức Kiệt. Chàng hô bọn trang đinh cho chúng chạy trước, e có kẻ theo không kịp té ngựa chăng.

Đoạn hậu, Đức Kiệt phi ngựa nhốn nháo khắp trong thung lũng cho con hoang mã đầu đàn theo rồi mới rẽ vào đường mòn chạy thẳng. Lần này con vật tinh không kiêu dũng đó, bốc tiền, bốc hậu thiệt lâu tại chỗ. Nó nghếch đầu nhìn mãi vào đường mòn, đánh hơi, hí vang động. Mãi sau, nó mới phi trở lại, dồn toàn bầy theo nó sang phía khe núi đã bị lấp, đoạn chạy thẳng sang con đường mà nó mới khám phá ra. Toàn bầy xôn xao hồi lâu rồi mới ăn cỏ lại như thường.

Nói về Âu Dương Bích Nữ mặc cho con Bạch Hồng phi một quãng xa mới ngừng lại chờ mọi người. Tụ tập đông đủ nàng nói :
- Về Bình Dương chờ thôi. Thế nào bầy hoang mã cũng theo về, không lâu đâu.

Hôm sau về tới khu nội cỏ. Âu Dương Bích Nữ thấy còn nhiều cát ở phía ngoài bức tường liền bảo bọn trang đinh khuân đổ thành đống trong nội cỏ.
- Để cát cho bầy hoang mã đầm mình. Trong Kỳ Mã Ổ không có cát, chúng đầm xuống một khu toàn đất.
Lam Y hỏi Âu Dương Bích Nữ :
- Thiết tưởng nên đổ cát vào gần lạch nước tiện dụng cho bầy hoang mã hơn?
- Cô muội nói phải, nhưng đổ cát cho chúng quen đầm mình nơi đây tiện cho chúng ta hơn. Ngồi trên vọng lâu nhìn gần mới có thể nhận xét được dáng dấp của từng con.

Lúc đó, bức tường và cổng đã xong, duy chỉ có vọng lâu là đang được xây cất dở dang. Các nhân công do Vương Bình đôn đốc ăn ngủ tại chỗ để hoàn thành mau lẹ mọi việc. Âu Dương Bích Nữ dặn viên quản trang :
- Trong trường hợp bầy hoang mã tới nội cỏ này, quản trang nên chú ý bảo các thợ thuyền làm việc im lặng và không được bắc thang trèo lên mặt tường nhòm ngó. Đất mới, ta cần để cho chúng không hoảng sợ mới mong chúng ở vĩnh viễn được.
- Còn độ hai ngày nữa thì hoàn thành vọng lâu, phu nhân có thể ước đoán chừng bữa nào hoang mã di chuyển tới đây không?

Âu Dương Bích Nữ lắc đầu :
- Không thể nào nói trước được. Có khi một vài ngày và cũng có thể là sáng mai chưa biết chừng. Lúc chúng đến nơi, công nhân không được ồn ào. Miễn sao là cho chúng tưởng như nội cỏ này cũng ở giữa nơi hoang vu thích hợp với chúng. Quản trang nên chú ý thận trọng kẻo hữu công vô lao.

Căn dặn mọi việc xong. Tam hiệp cùng bọn trang đinh trở về trang trại. Trần nhũ mẫu đưa trình Đức Kiệt tấm danh thiếp của Thẩm huyện quan. Chàng đọc, đoạn bảo vợ và em :
- Thẩm công và phu nhân mời chúng ta trưa mai dùng bữa tại tư dinh. Liệu sửa soạn mai đi, nhé?
Liền ngay mấy ngày sau, Tam hiệp có ý chờ tin từ ngoài nội cỏ báo về vụ hoang mã mà tuyệt nhiên không có gì hết. Lúc đó, việc xây dựng vọng lâu đã xong. Vương Bình và mấy tráng đinh túc trực ngay trên vọng lâu mong ngóng bầy hoang mã di chuyển về nội cỏ.

Tam hiệp - nhất là Âu Dương Bích Nữ - nóng ruột vô cùng. Ngày nào ba người cũng ra vọng lâu chờ chán lại về trang. Âu Dương Bích Nữ nói :
- Không lẽ nào chúng không theo đường mòn ra nội cỏ nhà. Hay là có sự gì xẩy ra trong Kỳ Mã Ổ chăng?
Lam Y suy tính giây lát :
- Ta cố gắng chờ cho hết ngày mai là năm ngày, nếu hoang mã không về, sáng mốt ta sẽ vào Kỳ Mã Ổ xem sao.

Vợ chồng Đức Kiệt đồng ý.
Trưa hôm sau, trong lúc ba người đang dùng bữa trưa trong hậu sảnh, thì chợt nghe tiếng vó ngựa phi vang dội ngoài sân trước.

Âu Dương Bích Nữ buông đũa, hớn hở :
- Xong rồi! Vương quản trang cho trang đinh phi mã về báo! Chắc thế không sai!
Tam hiệp cùng đứng lên toan chạy ra khách sảnh, thì trang đinh đã rảo bước đi vào, miệng thở dốc :
- Thưa Trang chủ, bầy hoang mã vừa về tới nội cỏ. Đông lắm!
- Được rồi! Cho ngươi nghỉ ngơi. Bảo thắng ngựa, mau!

Ba người mừng rỡ bỏ bữa ăn, phi ngựa ra thẳng khu nội cỏ. Ba con tuấn mã như đánh hơi được bầy thú đồng giống bên trong dãy tường nên đua nhau lộng hí. Cũng vậy, bên kia bức tường bầy hoang mã phi sầm sập, hí vang lừng. Vương Bình đón Tam hiệp ở chân vọng lầu :
- Chúng về tới nội cỏ vào quãng cuối giờ Tị. May quá, toi đã bắt đầu thất vọng.

Ba người vội chạy một mạch ra leo thang lầu, lên vọng lâu đứng sau bức chắn phong kín đáo nhìn vào trong nội cỏ. Bầy hoang mã - dẫn đầu bởi con tuấn mã đầu đàn hai màu - phi vòng quanh nội cỏ. Con thú nào đuôi và bờm cũng dài tỏa ngược ra phía sau. Bầy ngựa đủ màu sắc:
ô, bạch, hoàng thổ, hồng, mai hoa sám, mai hoa vàng, hai màu hắc bạch, hồng bạch. Lam Y thích chí :
- Không chi ngoạn mục bằng bức họa thiên nhiên này. Bầy hoang mã đủ sắc, đủ màu phi nước kiệu trong nội cỏ xanh rờn như tấm thảm nhung. Hùng dũng thật!

Nàng quay lại hỏi Vương Bình đứng phía sau :
- Chúng mới chạy hay từ lâu rồi?
- Thưa, từ lúc về tới nội cỏ là chúng cứ chạy hoài như vậy, chưa lúc nào ngừng.

Âu Dương Bích Nữ nói :
- Theo kinh nghiệm về mã tánh, mỗi khi bầy hoang mã khám phá ra một khu nào mới, chúng thường phi khắp chung quanh rất lâu. Có lẽ để nạt nộ các thú vật khác trong khu ấy với tiếng vó chạy sầm sập của toàn bầy chăng? Và cũng có thể là chúng vui mừng vừa phi lộng hí để tỏ ra rằng chúng là chủ toàn khu nội cỏ mới chiếm được chăng?

Đức Kiệt nói :
- Đoán thế nào cũng trúng. Ngu huynh thấy có hai thuyết đều có nghĩa. Bầy hoang mã không khác chi toán quân Hung nô, mỗi khi chiến thắng chúng đều tận tình ăn mừng một cách thiệt man dã nhưng hào hùng... Coi kìa! Ngay phía sau con nhị thể hắc bạch, ba con hồng, hắc và mai hoa cùng chạy đều một hàng, con nào cũng kiêu dũng, có kẽ cả ba đều là đệ nhị anh hùng trong bầy chăng?

Âu Dương Bích Nữ gật đầu :
- Đích vậy. Thế nào cũng có bữa ta được mục kích trận đấu tranh chức vô địch giữa mấy con thú ấy.
Lam Y nói :
- Chưa chắc, tẩu tẩu ạ, con đầu đàn còn dũng mãnh lắm, đáng mặt chỉ huy.

Chợt nghĩ ra điều gì, Vương quản trang hỏi Tam hiệp :
- Quên khuấy đi mất một điều là trong khu nội cỏ này, thỉnh thoảng mãnh hổ vẫn về vồ nai. Bầy hoang mã sẽ bị nguy hiểm chăng?

Âu Dương Bích Nữ đáp :
- Không sợ đâu! Nếu vài con hoang mã sống lẻ loi thì mãnh hổ trở nên nguy hiểm thật. Nhưng trong trường hợp này, chúng sống thành đoàn sáu, bảy mươi con thế kia, con nào cũng dữ dội mạnh mẽ, nếu mãnh hổ lộ diện đương đầu thì chỉ bị uổng mạng vì bị vó ngựa dày xéo thôi. Tuy vậy, lão hổ ranh mãnh lắm, nó ngồi trong bụi rình mà thèm chớ không dám khinh động đâu. Riêng con đầu đàn và mấy con theo sau kia dám can đảm đương đầu với bấy cứ dị thú nào. Chúng dùng đủ mọi đòn: cán, bốc vó tiền bổ xuống, đá vó hậu, hung hãn dị thường, lão hổ có tới gần được chúng cũng còn bị khó khăn nhiều. Vả lại, hoang mã sống có đoàn thể, cả bầy sẽ xúm lại tranh đấu. Chẳng hạn, như bây giờ nếu ta thả mấy con hung mã bất kham nuôi trong tầu ngựa nhà ra nội cỏ, con đầu đàn hoang mã gây xung đột ngay. Nếu kẻ mới đến không biết tòng phục theo bầy thì bị tan xác tức thì.

Đức Kiệt nói :
- Trong cảnh hoang mã lộng phi này, ngu huynh nhớ đến những bức họa tuyệt mỹ của Thiên Lý Mã Tào Chí bên Dương Châu. Và bây giờ ngu huynh mới hiểu lý do ý thích của gã họ Tào ấy. Bức danh họa dã mã, bức bát tuấn và bộ bát tuấn bằng thấu lục ngọc quả thiệt vô giá. Hiện thời, ngu huynh muốn có những bảo vật ấy bày trong đại sảnh.

Lam Y mỉm cười bảo Âu Dương Bích Nữ :
- Chu huynh bắt đầu mê khảo cổ, sưu tầm về môn mã rồi đó.

Âu Dương Bích Nữ nói :
- Chu lang cần chi phải ao ước? Tào Chí có các bức mã đồ danh họa, bát tuấn thấu lục, một tầu tuấn mã thuần tánh, kể đáng quý thật. Nhưng họ Tào không có nổi bầy hoang mã kỳ hùng như Chu gia! Đặc biệt hơn nữa là bầy dã thú ấy sống ngay trong nội cỏ của nhà, ngồi trên vọng mã lâu này, ta có thể quan sát bộ điệu của từng con một và cảnh sống đoàn thể của toàn bầy. Tào Chí làm chi có hoạt cảnh như ta?

Đức Kiệt vui vẻ :
- Hiền thê lý luận xác đáng. Ngu huynh muốn viết thư mời Tào Chí đến Bình Dương cho y được mục kích công trình kỳ tạo của hiền thê.

Lam Y nói :
- Chắc gì Tào Chí đi được? Nhà họ Tào đơn người. Hạ Thái Phương thì yếu đuối, cho đến nay chắc cũng chưa hoàn hồn sau vụ nàng bị Phi Không đầu đà giam hãm trong Kim Cương tự, Tào đại ca đâu dám bỏ nhà lên tận Bình Dương xa xôi này!

Đức Kiệt ừ hứ :
- Xa thì xa chứ, cứ nói đến tuấn mã thì dù thiên sơn vạn thủy gã cũng mò đi xem tận nơi.
Âu Dương Bích Nữ vỗ vai chồng, chỉ xuống khu nội cỏ :
- Coi kìa, Chu lang. Có bức họa nào đẹp như thế kia không?
Lúc đó, bầy hoang mã hình như chạy đã chán. Chúng ngừng cả lại quanh đống cát. Con kỳ mã đầu đàn tiến vào giữa đống cát, lăn lộn đầm mình, cát dính mồ hôi bám đầy thân. Nó đứng lên, rùng mình, tung bờm rũ cát, đoạn lại lăn xả xuống đống cát đầm nữa cho đến kỳ khô cát không bám được vào thân nữa mới thôi.
Bấy giờ cả đoàn hoang mã mới kéo ồ vào tắm cát, trong khi con đầu đàn lững thững đi ngược vào phía trong nội cỏ uống nước ở lạch. Tắm cạn và giải khát xong, bầy dã mã đi tản ra khắp mọi nơi, toán nào chủ ấy, ăn cỏ dưới bóng cây um tùm xanh mát.
Chu Đức Kiệt tặc lưỡi mà rằng :
- Triều đình hoang mã kể cũng tôn tị trật tự lắm đấy chứ! Nhớ hồi năm kia khi qua Quan gia ổ ở Mã Thạch cương, biểu đệ Quan Long có thuật chuyện theo bọn lái ngựa vào Xuyên Thục hàng phục con Tiểu Xích thố nghe thiệt thích thú. Ai dè nay chính mình lại được mục kích cuộc sống đoàn thể của giống thú thông minh tuấn dũng đó.
Lam Y ranh mãnh :
- Đó là nhờ đại công của “Nội tướng” nhé. Bao năm nay, anh em ta ở kề bên khu vực có hoang mã mà không hề biết thưởng thức cái đẹp, cái hay của chúng. Đi đã nhiều nơi, quả thiệt chưa thấy ai có nổi một tầu kỳ mã như chúng ta.
Âu Dương Bích Nữ nói :
- Các mã trại có nhiều hơn thế này chứ, nhưng toàn giống ngựa hoặc bắt được, hoặc gây giống, được luyện tập chớ không hoang dã như bầy thú kia. Để ít ngày nữa, cho chúng quen thuộc với khu nội cỏ, ta sẽ bắt con kỳ mã đầu đàn về nuôi và gây giống.
Lam Y ngăn :
- Con thú ấy đẹp thật đó, khi đóng đủ yên cương coi còn hùng dũng hơn lúc thường này nhiều, nhưng thôi bắt nó làm chi? Chúng ta có ba con tuấn mã tuyệt hảo dư dùng rồi. Còn việc gây giống thì cứ để nó man dã thế này vẫn gây được như thường. Trông những con cái thuộc con đầu đàn, con nào cũng có nước da bóng loáng đầy sinh lực, màu sắc coi được cả, làm chi chẳng gây được giống tốt. Ta sẽ bắt con nó về nuôi lợi hơn bắt nó.
Đức Kiệt đồng ý :
- Lam Y nói phải. Hiền thê đừng dự tính bắt con kỳ mã bất lợi. Với đàn thú này, chỉ độ hơn một năm nữa, sức sản xuất sẽ tăng gấp đôi.

Vương quản trang nói :
- Khi trước, lúc còn sanh thời, lão Trang chủ thường nói tới chuyện bắt hoang mã, nhưng không bao giờ, Người nghĩ tới việc bắt cả bầy vừa gọn gàng vừa tâm lý như Đại nương (chỉ Âu Dương Bích Nữ).
Thiệt là giản dị.

Tam hiệp và Vương Bình đang nói chuyện, bỗng mây đen u ám đầy trời, gió thổi mạnh phần phật. Vương quản trang nói :
- Ta không về thành thì mưa đến nơi rồi!
Âu Dương Bích Nữ cười :
- Dịp may đấy chứ! Ta đứng đây quan sát xem bầy hoang mã có biết đường trú mưa không hay chịu trận.

Mưa bắt đầu đổ lác đác, hột thiệt lớn. Bầy hoang mã vẫn ăn cỏ dưới gốc cây lớn như thường, nhưng thỉnh thoảng chúng lại nghếch mũi lên hí vang như báo cho đồng bọn biết tiết trời thay đổi.
Trái lại, con kỳ mã đầu đàn bỏ không ăn cỏ nữa. Nó bốc tiền lên cao ba bốn lần, hí vang và sau đó bắt đầu phi thiệt lẹ, dồn cả bầy lại thành một toán.

Mưa nặng hột bắt đầu đổ lớn xuống muôn vật. Bầy hoang mã quây quần ở cả vào một khu trống, mặc cho nước mưa dội xuống đầy mình. Chúng vươn cổ rủ bờm hí vang.

Chu Đức Kiệt phì cười :
- Chúng được trời cho tắm nước có vẻ khoái trá lắm! Nhưng ở mãi ngoài mưa thế này thì không được!
Âu Dương Bích Nữ nhìn chồng :
- Chu lang đừng lo, chúng tắm chán sẽ kéo nhau vào hang núi kia cho mà coi!

Quả nhiên, độ một khắc sau, toàn bầy hoang mã chuyển động theo con đầu đàn chạy lăng xăng một hồi rồi kéo tuốt vào mé hang núi bên hữu. Đức Kiệt nói :
- Không được hang này nhỏ quá. Bây giờ thì tạm được nhưng ít lâu nữa hoang mã sanh sản thêm đông hơn, thì lấy chỗ đâu mà trú? Mưa ít không sao, còn khi mưa tới bốn năm ngày thì làm thế nào?

Chờ khi nào hoang mã trở vào khu thung lũng, ta sẽ mướn nhân công phá hang sâu thêm vào mới được. Vương quản trang nhớ hộ vụ này, nhé.
Phải phá sâu bằng hai như bây giờ.

Lam Y hỏi Âu Dương Bích Nữ :
- Mưa dầm nhiều ngày, thì chúng ăn cỏ ướt quá sao được?
- Không sao! Hoang mã chớ đâu phải ngựa nuôi trong tầu nhà? Chúng xông pha quen rồi. Bởi vậy bụng hoang mã phần nhiều không đáy bằng ngựa nuôi. Con nào bị bắt được săn sóc ít lâu, bụng sẽ thon, đẹp ngay. Người không kinh nghiệm về mã tánh thường hay chê bụng hoang mã không được thon bằng ngựa nuôi cũng vì lẽ hoang mã thường ăn phải cỏ ướt khi trời mưa. Được nuôi trong tầu ít lâu, bụng chúng sẽ thon đáy như thường. Nhưng cũng không nhất định hẳn như vậy. Như con hoang mã đầu đàn và nhiều con đực khác trong bầy này, ai dám bảo bụng chúng lớn?

Lam Y nói :
- Phá hang núi cho thêm phần sâu rộng, chất sẵn cỏ khô vào trong đó là hai việc phải làm thêm khi bầy hoang mã trở vào Kỳ Mã Ổ.
Âu Dương Bích Nữ nói :
- Việc phá rộng hang núi phải dùng nhiều nhân công e kinh động tới chúng mới phải chờ chuyến sau.

Còn việc cho ăn cỏ khô thiết tưởng ta có thể cho vài người tạm chất ngay vào trong hang. Một khi bầy hoang mã quen dùng cả hai thứ cỏ non, khô, có lẽ chúng sẽ không muốn rời nội cỏ này lâu đâu. Vương quản trang lo việc tích trữ cỏ để sẵn dưới vọng lâu này, tôi sẽ đích thân chuyển các bó cỏ vào trong hang. Chuyến sau trang đinh cứ theo đúng lề lối ấy mà hành động.

Trận mưa to đã tạnh hẳn. Tam hiệp cùng Vương Bình trở về trang sau khi cắt đặt hai trang đinh ở lại vọng lâu canh phòng thường trực.
Lam Y về phòng thay áo không thấy Trần nhũ mẫu đâu cả, bèn gọi thể nữ Hạnh Hoa hỏi :
- Trần nhũ mẫu đâu, nãy giờ không thấy?
Thể nữ đáp :
- Thưa tiểu thư, nhũ mẫu đang lau chùi, dọn dẹp phòng bày bàn thờ.
- Ủa! Sáng nào cũng lau chùi rồi, sao hôm nay chiều tối mới làm việc ấy?
- Thưa tiểu thư, lúc nãy gió to mưa lớn cỏ mảnh ngói rớt trúng bể hộp kính bày trên bàn thờ nên nhũ mẫu mới dọn dẹp cho sạch sẽ. Tiểu thư để con vào gọi?
- Thôi được để ta vào xem sao.

Giữa lúc ấy vợ chồng Đức Kiệt đã thay y phục xong đi tới, Đức Kiệt bảo :
- Hiền muội ra thư phòng dùng bữa. Trưa nay bỏ ăn đói bụng lắm rồi.

Không trả lời câu hỏi. Lam Y nói cho vợ chồng Đức Kiệt nghe việc ngói rớt bể hộp kính đựng gia phả trên bàn thờ. Ba người liền vào xem thì vừa lúc Trần nhũ mẫu cùng con gái là Võ Nguyệt Minh đã dọn dẹp xong, sắp sửa ra đi.

Nguyên từ khi thân mẫu của Đức Kiệt, Lam Y mất đi, Trần nhũ mẫu không những trông coi chăm sóc cho Lam Y mà ngày nào cũng dọn dẹp, kiểm việc nhang khói thường nhựt trên bàn thờ Chu phu nhân. Về sau, lão Trang chủ Chu Đức Văn hạc nội mây ngàn, thì Đức Kiệt thờ song thân chung vào một bàn, bày bàn kế bên bàn thờ gia tiên, cho đến nay Trần nhũ mẫu vẫn giữ phận sự trung thành nhang đèn trong phòng thờ. Lam Y thân mật quý nhũ mẫu như mẹ ruột nàng. Đổi lại, họ Trần cũng quý mến Nhị Nương như Nguyệt Minh vậy. Từ nhỏ, Lam Y và Nguyệt Minh suốt ngày nô đùa cùng nhau.

Chu Đức Văn theo phương pháp nhà nghề gia truyền luyện tập võ nghệ cho Đức Kiệt, Lam Y rất sớm. Nguyệt Minh nhát không muốn theo, tuy Lam Y vẫn rủ nàng cùng tập luyện cho vui. Lần lần lớn lên, Lam Y ép mãi, Nguyệt Minh nể lời chăm chỉ tập tành thì lúc đó, sức học của Lam Y đã tiến xa rồi. Tuy vậy, Nguyệt Minh cũng biết ít nhiều côn, quyền có thể tự vệ được.
Trong trang trại, Nguyệt Minh thường giúp Trần nhũ mẫu công việc thường ngày ở trên nhà toàn thể trong ngoài rất là châu đáo ngăn nắp, cũng như Vương Bình và con trai là Vương Hoành phụ trách tất cả mọi việc trong trang, điều khiển trang đinh, trông coi các điền thổ ngoại thành thuộc Chu gia, ngoại trừ khu nhà lớn, hai tòa lầu Vọng Võ đình, Bách Hoa đình và bốn nữ bộc: Thúy Hoa, Kiển Hoa, Quỳ Hoa, Hạnh Hoa. Bốn thể nữ này đều là con các lão bộc trong Chu gia trang, nay thành canh điền ở ngoại thành...

Lam Y ôm lấy vai Trần nhũ mẫu, thân mến hỏi :
- Làm chi mà suốt ngày dọn dẹp trong phòng thờ thế này, hả lão mẫu?
Trần nhũ mẫu chỉ tay lên mái nhà phía trên bàn thờ gia tiên :
- Nhị nương coi (danh từ thân mật mà nhũ mẫu thường quen gọi Lam Y từ khi nàng còn tấm bé), nửa viên ngói kia không biết bể từ bao giờ mà hôm nay rớt trúng ngay hộp kính giữa lúc mưa to gió lớn.

Nàng hỏi :
- Mưa có ngấm và dột không?
Trần nhũ mẫu lắc đầu :
- Không, đó là hàng ngói trần mà! Nguyệt Minh vừa leo lên lấp thế viên ngói khác rồi. Viên ngói lớn rớt trúng mặt hộp kính bể tan, tôi lượm các mảnh kính bỏ xuống đây, còn đáy hộp cùng cuốn gia phả vẫn nguyên chỗ.

Đức Kiệt tiến đến án thờ nhìn lên mái xem xét chỗ viên ngói bể, đoạn nhắc cuốn gia phả để sang bên, lấy đáy hộp kính xuống. Chàng nói :
- Mai phải đưa cái đáy này vào phố dặt một nắp kính khác, khung cây mảnh quá!
Vừa nói, chàng vừa lật đi lật lại đáy hộp bằng gỗ để coi thì chợt ngạc nhiên thốt lên một tiếng “A!”.
Lúc ấy Trần nhũ mẫu và Nguyệt Minh đã đem các mảnh kính và dẹp những mảnh ngói bể ra khỏi phòng.

Lam Y, Âu Dương Bích Nữ lấy làm lạ, đồng thanh :
- Có gì thế?
Đức Kiệt không trả lời. Chàng lắc đáy hộp, ghé tai nghe, giây lát mới nói :
- Hai người nghe này! Đáy hộp rỗng, hình như có gì lạo xạo bên trong.
Lam Y đón lấy đáy hộp lắc nghe thử và đưa cho Âu Dương Bích Nữ :
- Phải rồi, bên trong có gì, thử mở ra coi. Đáy hộp rỗng, tất có chỗ mở.

Đức Kiệt cầm đèn đến gần bên soi cho Lam Y và Âu Dương Bích Nữ lật đi lật lại nhận xét đáy hộp kính tìm chỗ mở. Trừ bốn cái khe giao nhau thành hình chữ nhật để úp nắp kính, toàn thân đáy hộp bằng gỗ trầm hương nhẵn lì.

Bỗng Lam Y la lên :
- A! Có lẽ đây rồi! Coi cái vết tròn lờ mờ ở góc đây.
Âu Dương Bích Nữ liền rút cây trâm cài trên tóc ấn mạnh vào vết tròn đó. Mặt trên của chiếc đáy hộp kính ấy bật hẳn lên, phần trong rỗng đựng một mảnh giấy lụa dầy dặn gấp tư lớn bằng bàn tay. Tấm giấy lâu đời đã vàng khè. Âu Dương Bích Nữ lượm lấy đưa cho Lam Y, đoạn nàng đóng nắp gỗ lại xem sao chỉ nghe thấy tách một tiếng, nắp hộp đóng lại như thường.

Nàng hỏi :
- Hộp đựng gia phả có đáy bí mật mà Chu lang và cô muội không biết ư?
Chu Đức Kiệt đáp :
- Mỗi khi cúng húy nhựt thì chỉ mở nắp kính lấy gia phả bày lên án kiện chớ nhắc hẳn đáy hộp làm chi?
Chàng để chiếc hộp kính lên bàn thờ, đoạn cùng Lam Y và Âu Dương Bích Nữ mở tờ giấy lụa ra coi...
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 1
 
Posts: 687
Joined: Wed Nov 23, 2011 5:39 pm
I am: Reader

Re: Kiếm Hiệp - Lam Y Nữ Hiệp

Postby Editor 1 » Tue Aug 26, 2014 12:20 am

Lam Y Nữ Hiệp
Tác Giả: Tề Phong Quân
Dịch giả: Trường Giang Mạnh Vũ

Hồi 46

Tìm kiếm kho tàng, Tam hiệp xuất công vào núi
Gặp Bách Hoa xà, thấy bảo vật của Quan gia



Trưa hôm sau, để ăn mừng sự thành công của Âu Dương Bích Nữ về việc sắp đặt bắt bầy hoang mã về nội cỏ Bình Dương, và để thưởng công cho Vương Bình đã đốc thúc, điều khiển một cách đắc lực việc xây vọng mã lâu và bức tường dài kiên cố, Chu Đức Kiệt đặt tiệc ngoài Bách Hoa đình. Trong tiệc, ngồi cùng thồi có Tam hiệp, cha con Vương quản trang và hai mẹ con Trần nhũ mẫu, Võ Nguyệt Minh, tổng cộng bảy người thảnh thơi yến ẩm.

Chu Đức Kiệt đem việc tìm được tờ giấy lụa trong đáy hộp kính đựng cuốn gia phả trên bàn thờ gia tiên nói cho Vương Bình và Trần nhũ mẫu nghe. Vương Bình nói :
- Thế ra việc viên ngói bỗng nhiên hôm qua rớt làm bể hộp kính có lợi hơn có hại. Nắp kính không bể thì có lẽ không ai ngờ rằng trong đáy hộp ấy đựng vật gì.

Trần nhũ mẫu đồng ý :
- Thiệt vậy, mỗi khi tôi hay Võ Nguyệt Minh lau dọn bàn thờ cũng chỉ bê nhích chiếc hộp sang bên, khi xong xuôi lại nhẹ nhàng để vào nguyên chỗ, làm sao mà biết được chân hộp kính hai đáy và bên trong có tờ giấy lụa đó? Trong giấy có gì không Đại lang?

Đức Kiệt lấy tờ giấy lụa để trong ngực áo đưa cho mọi người coi. Cầm tờ giấy lụa xem đi, ngắm lại, Vương quản trang đăm chiêu suy nghĩ như cố nhớ lại dĩ vãng xa xưa. Lát sau họ Vương nói :
- Chuyến vào trong núi đi tới khu thung lũng nhỏ có cả Chu đại lang hồi còn nhỏ đó, tôi có thấy trong khi đi đường, thỉnh thoảng cố Trang chủ lại mở tờ giấy này ra coi và có vẻ suy nghĩ nhiều. Người thường dừng ngựa ngắm nhìn chỗ nọ, chỗ kia như muốn kiếm thứ gì... Đại lang có nhớ không!

Đức Kiệt lắc đầu :
- Nhớ sao được? Lúc đó ai để ý việc của người lớn!
Vương Bình nói tiếp :
- Về sau này, không hiểu cố Trang chủ có trở lại khu đó nữa hay không, tôi bận nhiều công việc khai khẩn các đất đai ngoại thành nên không rõ. Theo thiển ý tôi, có lẽ cố Trang chủ không đi nữa vì người bận việc điều khiển các tiêu sư trong phiêu cuộc. Đến khi Người muốn nghỉ ngơi dẹp phiêu cuộc đi, các tiêu sư làm việc dưới quyền Người phần đông lúc đó đã nổi danh, họ lên cả Tế Nam phủ chung vốn làm ăn. Còn cố Trang chủ thì chỉ quanh quẩn điền viên dạy bảo luyện tập cho Đại lang và Nhị cô, ít hoạt động.

Lam Y nói :
- Chắc chắn là phụ thân không tìm kiếm trong núi nữa. Bằng cớ hiển nhiên là tờ giấy lụa còn được giữ nguyên nếp trên bàn thờ. Nếu thân phụ đã tìm thấy sự gì ghi trong giấy thì đã lẳng bỏ nó đi rồi, tội chi mất công gìn giữ như vậy? Phải không?

Mọi người đồng ý khen phải. Trần nhũ mẫu nói :
- Hồi còn thiếu thời tôi nhớ, một hôm cố Trang chủ nói với phu nhân: “Trong vùng quá khu đất đai nhà ta kia, có cả một kho tàng quý báu”. Nghe được mỗi một lần như vậy thôi. Hồi đó Đại lang mới ngót hai năm, còn Nhị cô thì chưa ra đời, tôi vào hầu phu nhân mới được bốn năm, quản trang Vương Bình còn thanh niên như A Hoành bây giờ...

Nghe Trần nhũ mẫu nhắc đến chuyện xưa, mọi người ai nấy đều bùi ngùi thương nhớ người quá cố. Lam Y rút khăn tay thấm lệ, nàng nói :
- Theo những lời ghi và bức họa đồ sơ sài trên tờ giấy lụa này, có lẽ đây là chìa khóa để mở một kho tàng thật đó! Chu huynh đọc lại coi?

Đức Kiệt mở giấy đọc đủ nghe:
“Tam thụ Tâm.
Tòng dương Hòe.
Thập nhất Trượng.
Tây bắc Ký.
Khởi thạch Phiến.
Quá đàn Khê.
Đăng thạch Sơn.
Nhất nhật Kỵ.
Đông hướng Chỉ.
Tiểu lộ Xử.
Khởi thảo Nội”.

Vương quản trang nói :
- Chuyến vào núi có cả Đại lang, cố Trang chủ bảo tôi để ý xem có nơi nào mọc ba cây tòng, dương, hòe. Tôi cố nhận xét nhưng khó khăn lắm, không biết chỗ nào nhất định tìm sao nổi ba thứ cây ấy lẫn lộn giữa các đám cây khác?

Từ nãy, Âu Dương Bích Nữ im lặng nghe mọi người nói chuyện bèn lên tiếng :
- Trong khu ấy, chỗ có núi, chỗ rừng rậm chi chít, và quãng nào đất bằng, cây thưa thớ thì bụi rậm liên miên sự tìm kiếm đâu có dễ dàng? Chuyến đó, phụ thân theo con đường mòn ấy vào đến Kỳ Mã Ổ, chắc có mục đích gì khác chớ không chủ tâm tìm kiếm kho tàng nào theo trong giấy này đâu! Ta còn thừa hiểu rằng phải tổ chức tìm kiếm theo phương pháp vị tất đã thành công, huống chi một người như phụ thân? Chẳng qua nhân lúc đi đường, người dặn quản trang chú ý nhìn nhận, may ra thì thấy, có vậy thôi. Mấy câu ghi trong giấy này không xuôi. Theo ý tôi, phải đọc ngược lại mới rõ nghĩa được phần nào. Câu cuối cùng “Khởi thảo nội” há không phải là “Khởi hành từ khu nội cỏ của nhà đó ư?”.

Lam Y khen phải :
- Tiểu muội đồng ý với hiền tẩu, suy luận xác đáng. Đọc ngược lại mới trúng.
Chu Đức Kiệt đọc lại lần nữa:
“Khởi thảo nội
Tiểu lộ xử
Đông hướng chỉ
Nhất nhựt kỵ
Đăng thạch sơn
Quá đàn khê
Khởi thạch phiến
Tây bắc ký
Thập nhất trượng
Tòng dương hòe
Tam thụ tâm”.

Chàng nói tiếp :
- Ba câu đầu dễ hiểu lắm. Khởi hành từ nội cỏ của nhà, noi theo đường nhỏ đó là đường mòn vì chỉ có một lối đi trực chỉ phía đông. Nhưng câu “Nhất nhật kỵ”: đi một ngày đường “kỵ” đây có nghĩa là kỵ mã vậy phải đi ngựa mới đúng kích thước của độ đường. Tiếc rằng không rõ đây là cho ngựa chạy hay là đi bước một?

Lam Y đáp :
- Đi bước một như thường mới phải lẽ, ngựa nào chạy nổi được một ngày trời? Cần gò cương cho ngựa đi đều bước bình thường. Con đường mòn dù vòng vèo nhưng rốt cuộc vẫn trực chỉ hướng đông. Cái khó là ở mấy câu này:
“Đăng thạch sơn
Quá đàn khê”.
- Tại sao lên núi mà còn vượt qua suối nước là thế nào?

Chu Đức Kiệt nói :
- Ngồi nhà bàn định khó suy luận lắm. Chúng ta tổ chức đến tận nơi xem sao mới được. Trong bảy người đây, riêng Trần nhũ mẫu không xông pha được, còn Vương quản trang, Vương Hoành, và Võ Nguyệt Minh theo chúng tôi nhé?

Ba người cùng đồng ý. Vương Bình nói :
- Nếu vậy, sửa soạn xong cho bầy hoang mã, ta sẽ khởi sự tìm kiếm.
Âu Dương Bích Nữ nói với mọi người :
- Tôi không toại ý về việc tìm ra tấm giấy lụa này, vì lẽ không một ai hiểu căn nguyên tấm giấy đó như thế nào.

Lam Y gật đầu :
- Đồng ý với hiền tẩu. Nếu các điều ghi trong giấy là chìa khóa để mở một kho tàng chi đó thuộc nhà họ Chu, tất phụ thân phải di ngôn cho trưởng huynh biết, lẽ nào suốt bao năm trường - hồi còn sanh thời cũng như lúc sắp mất - phụ thân không nói một lời nào. Như vậy, tiểu muội chắc chắn tấm giấy này không phải của tiền nhân Chu gia truyền lại.

Đức Kiệt hỏi Lam Y :
- Ý kiến hiền muội chưa chắc đã đúng. Nếu không liên hệ đến Chu gia, vì lẽ gì phụ thân cất tấm giấy lụa dưới đáy hộp kính đựng cuốn gia phả? Có thể suy luận là Người cất kỹ quá rồi quên mất chăng?

Lam Y đáp :
- Ngồi tại nhà mà tính toán thì nhiều giả thuyết lắm. Tìm đến tận nơi may ra mới thấy rõ. Vương quản trang và A Hoành đại ca liệu sửa soạn các thứ đóng trại và lương thực đầy đủ để sống nhiều ngày trong núi. Ta liệu đi ngay, trì trễ nóng ruột lắm! Lối đi vòng từ chân núi bên hữu bức tường mới xây có tới chỗ con đường mòn phía trong nội cỏ không nhỉ?

Vương Hoành không do dự :
- Lối đó đi vòng cầu âu lên gần lưng chừng núi và xuống tới đường mòn. Hiềm vì từ trước không ai qua lại, rất khó đi, nhiều quãng phải dắt ngựa mà còn sợ trượt chân. Năm kia, tôi tò mò đã thử đi một lần nên mới biết.

Âu Dương Bích Nữ nói :
- Khó cũng phải qua bằng lối ấy, núi thấp không đến nỗi nào. Không nên để bầy hoang mã mới về đây đã theo ta trở về ngay lối cũ.

Ba hôm sau, Tam hiệp, cha con Vương quản trang và Võ Nguyệt Minh đai nịt gọn ghẽ lên đường vào núi. Ngoài các dụng cụ cá nhân đeo trên ngựa, Vương Hoành còn dắt theo hai con chở các vật dụng cần thiết và lương thực. Tới chân núi ngoại thành, Vương Hoành đi trước dẫn đường. Quả vậy, leo quanh sườn núi rất khó khăn vì tám con ngựa dắt theo. Sáu người khởi hành từ sáng sớm mà mãi gần trưa mới vào tới đầu đường mòn trong nội cỏ. Tam hiệp cho ngựa đi bước một, noi theo con đường đã quen thuộc, trưa hôm sau tới một khu bên hữu thì rừng cây thưa thớt nhưng đầy bụi rậm dây leo. Bên tả có một quãng đất trống ngổn ngang nhiều phiến đá lớn, nhỏ đủ cỡ.

Dưới các viên đá ấy mọc chòi ra những cụm chàm xơ xác. Toàn thể khu đất ấy rộng tới hai mẫu, đất nứt nẻ khô khan. Phía trong sừng sững một trái núi đá hiểm trở lạ lùng.

Đức Kiệt nói :
- Đêm qua ngủ giữa rừng không kể, riêng phần đi thì đúng một ngày trời rồi đây. “Nhất nhật kỵ”, ta ngừng cả lại đây xem sao.
Sáu người xuống ngựa thả rong cho chúng nghỉ ngơi. Đức Kiệt lấy tấm giấy lụa mở ra cùng Lam Y, Âu Dương Bích Nữ xem.
Chàng đọc :
- Bây giờ đến đoạn “Đăng thạch sơn, Quá đàn khê...”

Lam Y chỉ trái núi đá sừng sững bên trong khu đất mà rằng :
- Có lẽ trái Thạch sơn này chăng?

Mọi người cùng nhìn trái núi ấy và quan sát toàn khu, Âu Dương Bích Nữ nói :
- Hiểm trở thế kia thì phải bỏ ngựa lại đây họa chăng mới leo lên được. Leo mà còn phải biết phi thân thuật nữa họa chăng mới lên nổi. Vách đá sừng sững thế kia làm gì có lối lên?

Vương Bình đồng ý :
- Chu đại nương nói phải. Núi như thế này đăng sơn sao được! Ai leo nổi lên núi này để chôn giấu kho tàng bảo vật. Chắc ba chữ “Đăng thạch sơn” có nghĩa khác.

Chu Đức Kiệt đưa tấm giấy lụa cho Vương Bình coi, chàng nói :
- Các đường vẽ nguệch ngoạc trong giấy cũng chấm dứt. Cái chấm son bên tả phải chăng là cái ám chỉ trái núi đá này? Các chấm đen bên hữu thưa thớt phải chăng cánh rừng cây thưa đầy bụi rậm kia? Theo ý tôi thì chắc chắn là khu này rồi đó.

Vương Bình đọc lớn:
“Đăng thạch sơn
Quá đàn khê
Khởi thạch phiến
Tây bắc ký...”

Lam Y trầm ngâm suy nghĩ giây lát :
- Lên núi đá này đã xong đâu, còn băng qua một ngọn suối nữa! Suối nào tồn tại được trên một ngọn núi đá khô khan nhường này?

Âu Dương Bích Nữ góp ý :
- Hay là “Đăng thạch sơn” có nghĩa khác.
Đức Kiệt gật đầu :
- Nghĩa chữ “Đăng” này là “lên” rồi, nhưng cũng phải khởi công quan sát quanh đây xem thế nào rồi sẽ hay!

Chàng ngừng nói, đánh hơi thấy mùi thịt chiên thơm quá bèn quay lại phía sau nhìn. Thì ra trong khi mọi người mải miết bàn tán về ngọn thạch sơn, Vương Hoành giúp Võ Nguyệt Minh giở túi lấy thực vật xuống, chồng đá đánh lửa đốt cành khô nấu ăn. Lúc đó vừng thái dương vừa đứng bóng. Vương Hoành bày các ống cơm nếp nhồi trong gióng tre lùi ra mấy tầu lá rừng sạch sẽ, đoạn nói lớn :
- Trưa rồi, mời quý vị dùng bữa.

Mọi người xúm lại ăn uống thiệt ngon lành. Xong bữa, nghỉ ngơi chốc lát, Chu Đức Kiệt bảo Lam Y và Âu Dương Bích Nữ cùng chàng đăng sơn xem thế nào.

Cha con Vương Bình, Võ Nguyệt Minh ở lại vì không thạo thuật phi thiềm tẩu bích.
Đeo khí giới, Tam hiệp tiến thẳng vào khu Thạch Sơn, lần theo chân núi sang phía tả, rồi đi khuất vào sau các hốc đá. Thấy phía ấy tương đối dễ lên núi hơn, vì sườn núi có nhiều mô đá lởm chởm, Tam hiệp liền bảo nhau lên thử xem sao. Thoăn thoắt lúc nhảy, lúc leo, ba người theo hàng một chuyền lên cao. Lam Y dẫn đầu, Âu Dương Bích Nữ đi giữa, Đức Kiệt đoạn hậu, đúng như mọi khi hành hiệp, ba người vẫn giữ nguyên thứ tự “Nhất, Nhị, Tam” quen thuộc ấy.

Lên đến lưng chừng núi, Lam Y ngừng bước, nàng nói :
- Nghỉ chân quan sát đã chứ! Đăng sơn kiểu này phải dùng sức bằng phi hành luôn mười dặm đường.
Ba người bèn ngồi xuống mô đá nhìn quanh. Phía trên, sườn núi vẫn lởm chởm y hệt quãng vừa leo. Núi đá trơ trọi không cây lớn, ngoại trừ các cụm cây dại từ các kẽ đá mọc ra. Đức Kiệt chỉ xuống phía dưới núi:
- Phía sau này cây cối tươi tốt hơn, khác hẳn mặt tiền, đất nứt khô khan, cây cối xơ xác.
Âu Dương Bích Nữ nói :
- Cây cối xanh tươi nhờ đất ẩm, nghĩa là nước... Hay là...
Nàng bỗng im lặng, chú ý nhìn quanh phía dưới núi. Đức Kiệt hỏi :
- Hay là sao? Hiền thê định nói là suối nước ở trong rừng kia, phải không?

Lam Y đỡ lời :
- Chắc phải đó. Và hiền tẩu có lý. Trái núi khô khan này làm gì có suối nước! Trở xuống đi, tìm kiếm làm chi cho hoài công?

Vợ chồng Đức Kiệt đồng ý cùng Lam Y nhảy chuyền lần xuống đến chân núi. Chợt nhìn thấy sự gì, Đức Kiệt vội gọi hai nàng ngừng lại, chỉ viên đá lớn ở chênh chếch phía tay tả mà rằng :
- Coi kìa, trên mặt viên đá kia có khắc!
Ba người tiến tới xem, đọc ra ba chữ “Đăng Thạch Sơn”. Nét chữ đục trên đá rất sâu.

Đức Kiệt nói :
- Lúc đăng sơn, không trông thấy vì mặt phiến đá có chữ xây theo hướng đi, thành thử mất công lên, xuống núi. Thì ra Đăng Thạch Sơn là tên trái núi này mà chúng ta hiểu lầm là “đăng sơn”.
Lam Y nói :
- Hồi nãy hiền tẩu không hiểu nổi hai câu “Đăng Thạch Sơn” và “Quá Đàn Khê” lộn nghĩa. Ta chỉ có việc tìm ra ngọn Suối Đàn đó. Hẳn là người đục chữ vào phiến đá kia và người viết trên tấm lụa chỉ là một.

Âu Dương Bích Nữ nói :
- Trái núi này có tên tức khi xưa phải có người ở và có sự tích gì, chớ không lẽ bỗng dưng người ta lần mò vào chốn hoang tịch này để làm gì?

Chu Đức Kiệt nhìn vợ mà rằng :
- Việc đó không biết thê nào mà lường được. Như mấy năm trước, sau khi hỏa thiêu Xích Hoa viện bên Sơn Phu, Lam Y và ngu huynh thấy vợ chồng Đới Vĩnh Khang tích trữ nhiều vàng bạc châu báu quá, bỏ đi thì phí, mang theo thì nặng quá không được, nên đành chôn trên sườn núi trong một khu hoang tịch. Vậy biết đâu người viết trên mảnh lụa không cùng một trường hợp như ta?

Âu Dương Bích Nữ trách :
- Một việc như thế mà hồi còn ở Tô Châu, Chu lang không nhớ tới lấy của đó về làm phúc phân phát cho dân nghèo, có hơn là chôn cất đi một chỗ không?

Lam Y nói :
- Ta có thể biên thơ nhờ Âu Dương bá phụ lấy hộ, hoặc giả chừng nào ta xuống Giang Nam thăm Người thì sẽ trở lại Sơn Phu một chuyến, nhân dịp thăm Quan gia ổ luôn thể.
Ba người vừa đi vừa trò chuyện, lúc ra tới chỗ cha con Vương quản trang và Võ Nguyệt Minh chờ thì vừng thái dương đã ngả non tây, Chu Đức Kiệt quyết định trở vào đóng trại ở chân núi phía trong Đăng Thạch Sơn.

Trong khi Vương Bình, Vương Hoành và Võ Nguyệt Minh sửa soạn căng lều tìm kiếm củi đốt lửa, sắp bữa ăn chiều thì Tam hiệp rủ nhau vào rừng lục lạo tìm suối lấy nước về dùng. Lam Y tiến về phía hữu, nàng nói :
- Lúc đứng trên sườn núi, tiểu muội nhận thấy ở phía này có một khu hình như trống không có cây, biết đâu đó không là vũng nước, thử tới xem?

Ba người len lỏi trong rừng toàn cây lớn cành lá sum suê gần che lấp hết ánh sánh của buổi chiều tàn. Đi được một quáng khá xa quả nhiên cây cối thưa dần, tiếng suối róc rách chảy nghe rõ mồn một lẫn với tiếng chim đêm bắt đầu lên giọng. Tam hiệp lẹ bước đến một khu đất trống, rộng rãi tới trên một mẫu đất. Mặt đất ngổn ngang nhiều mỏm đá lớn, nhỏ giữa khu, một giòng suối trong vắt chảy ngang qua. Âu Dương Bích Nữ mừng rỡ reo lên :
- Có thế chứ! Câu “Quá Đàn Khê” chắc ngụ chỉ con suối này. Nhưng lấy nước rồi trở ra kẻo tối. Mai sẽ hay.
Tam hiệp vục mỗi người hai túi nước, ra tới lều vải thì màn đêm mờ ảo màu lam đã buông xuống toàn thể núi rừng cô tịch. Đống lửa cháy lớn soi sáng cả một vùng quanh lều. Võ Nguyệt Minh bày ăn trong khi mọi người cho ngựa uống nước, chất cỏ khô lên tấm vải cho chúng ăn. Đức Kiệt kể chuyện Đăng Thạch Sơn và việc tìm thấy suối trong rừng cho cha con họ Vương và Võ Nguyệt Minh nghe. Chàng nói tiếp :
- Mai ăn sáng xong, ta giở trại vào cả trong khu đất trống có suối nước. Nội ngày, theo lời ghi chú trong giấy, được việc càng hay, bằng như không thấy gì thì trở về cho khỏi phí thời giờ.

Vương Bình nói :
- Mọi lời ghi chú trong giấy cho đến nay đều đúng cả, lẽ nào vào giai đoạn cuối cùng lại sai được? Bực một nỗi là không hiểu nguyên nhân vụ này ra sao cả...

... Sáng hôm sau, chờ ánh dương lên cao đánh tan hết sương rừng lạnh lẽo, đoàn người ngựa mới bắt đầu vào rừng lần tới khu đất trống, Vương Bình lẩm bẩm :
- Lạ nhỉ! Giữa rừng lại có khu đất trống, đá phiến ngổn ngang, suối chảy từ đầu bên này ăn sâu vào rừng bên kia. Hẳn là gần đây phải có hoặc núi hoặc đồi là nơi đầu nguồn chứ!

Biết tánh Vương Bình thường hay lẩm bẩm nói một mình mỗi chuyến viên lão quản trang trung thành ấy đứng trước một cảnh gì lạ, Lam Y mỉm cười mà rằng :
- Quản trang còn định tìm nơi xuất xứ của dòng suối kia nữa hay sao?

Vương Bình cười theo :
- Già rồi đâm ra lẩm cẩm như vậy đó, Nhị cô nương.

Giữa lúc ấy, vợ chồng Đức Kiệt đi tới chỗ Lam Y và Vương Bình đứng nói chuyện. Đức Kiệt mở tấm lụa ra bảo mọi người :
- Dòng suối ghi trong giấy có lẽ đây rồi.

Giờ đây, đến đoạn:
“Khởi thạch phiến.
Tây bắc ký.
Thập nhất trượng.
Tùng dương hòe.
Tam thụ tâm”.

Mấy câu đều có mạch lạc với nhau. Chỉ cần nhận ra phiến đá cốt yếu ghi trong giấy, theo hướng Tây bắc đi mười trượng tới chỗ ba cây tùng, dương, hòe là xong xuôi mọi việc.
Mọi người nhìn quanh nhận xét.

Lam Y nói :
- Phiến đá ấy ở bên kia suối vì câu trên có nói phải qua suối. Nhưng ngổn ngang toàn thạch bản, biết lấy phiến nào làm chuẩn đích bây giờ?
Mấy người nhận xét hồi lâu quả không thấy viên đá nào khác thường cả.

Đức Kiệt nói :
- Đứng đây nhìn không được! Ta sang bờ bên kia chia nhau ra quan sát từng viên đá một may ra thấy gì lạ chăng?
Ai nấy đều đồng ý, nhảy qua dòng nước sang bên vì chiều ngang suối rộng chưa được một trượng. Mọi người lom khom nhận xét từng viên đá một.

Hồi lâu, tiếng Lam Y reo lên :
- Thấy rồi, lại cả đây coi!
Mọi người đều đứng thẳng lên nhìn, thấy Lam Y đang đứng trên phiến đá cao bằng đầu người ở gần mé rừng bên hữu chừng hai trượng.

Nàng chỉ xuống mặt phiến đá, chỗ chân đứng :
- Có hai chữ “Tây Bắc” đục trên mặt phiến đá này.

Đức Kiệt nhìn mặt trời, nhận định phương hướng, đoạn chỉ phía rừng :
- Tây bắc hướng này. Từ thạch phiến đi mười một trượng tới chỗ ba cây tùng, dương, hòe tất phải vào quá trong rừng đến tám trượng nữa. Nào ta cùng vào đó xem sao.
Dứt lời, Đức Kiệt đi trước, mọi người theo sau, qua khu đất trống vào sâu trong rừng cây. Quả nhiên, đoàn người vào tới một khu có ba cây tùng, dương, hòe gốc lớn hàng mấy ôm.

Âu Dương Bích Nữ nói :
- Chà! Mấy cây này lớn thiệt, có lẽ sống nhiều thế kỷ rồi đây!
Ba cây mọc đều đặn, đứng thành hình chân vạc, từ góc nọ qua góc kia xa độ một trượng, bụi rậm mọc chi chít kín cả quãng giữa.

Vương Hoành nói :
- Bụi rậm quá. Để tôi phát bớt đi mới được!
Lam Y rút dao rừng ra, nàng nói :
- Mỗi người một tay phát cho lẹ.

Vương Hoành sắn tay áo khởi công trước. Gã mới chặt được mấy nhát bỗng nhiên một con trăn lớn mình đỏ, hoa, đen từ bụi rậm lao vút ra đánh quấn ngang lưng Vương Hoành.

Giật mình, Hoành nhảy vội ra khỏi bụi cây nhưng bị con ác xà lanh lẹ quăng khúc đuôi quấn trúng cổ chân kéo lại, trong khi đầu nó cất lên toan cắn vào bả vai nạn nhân. Lúc đó, Lam Y đứng gần Vương Hoành hơn cả. Không do dự, nàng tuốt Thái Dương kiếm như chớp nhoáng, nhảy tới lia cổ một nhát trảm đầu ác xà rớt xuống đất đầy lá khô. Ác xà quằn quại rãn khúc, nhờ đó Vương Hoành rút được chân ra. Vương Bình chỉ ác xà mà rằng :
- Giống Bách Hoa xà này nguy hiểm lắm. Cẩn thận kẻo nó sống có đôi.

Mọi người xúm lại chặt phá hết bụi cây, đoạn dùng cành cây quét sạch lá khô trong khu tam giác. Vương Bình trở ra ngoài lấy cuốc xẻng.
Lam Y nói :
- Để ngựa ngoài ấy lâu quá cũng không nên, lỡ có mãnh thú từ đầu rừng bên kia tới thì sao?

Đức Kiệt và Vương Bình khen phải, hai người trở ra dắt ngựa vào. Trong khi ấy, Lam Y và Âu Dương Bích Nữ xem xét mặt đất, không thấy có dấu tích chi cả. Đức Kiệt bổ một nhát cuốc trúng giữa khu tam giác chàng nói :
- “Tam thụ tâm” là nơi chính giữa này. Đào đi!

Cha con Vương quản trang cùng Đức Kiệt xúm lại kẻ đà người cuốc đến gần hai thước sâu cũng không thấy gì.
Âu Dương Bích Nữ đến chỗ để các dụng cụ lấy một cây xiên sắt nhỏ đưa cho chồng :
- Chu lang hãy thăm chiều sâu thử xem kẻo đào mãi mất công.

Bỏ cuốc, Đức Kiệt cầm xiên sắt thọc xuống đất thăm dò. Xiên sắt thụt xuống đất được độ một thước thì vướng phải vật gì cứng rắn.

Đức Kiệt reo lên :
- Đây rồi, vướng vật gì xiên không xuống sâu được nữa.
Ba người lại tiếp tục đào hồi lâu thấy lên được một thống lớn bằng sứ dày dặn miệng gắn kín. Nhờ được khu ấy cao đất khô nguyên nên chỉ dùng lá chùi qua là chiếc thống sứ men xanh sạch sẽ ngay.
Mọi người xúm lại xem xét không thấy gì lạ cả, ngoại trừ chữ “Tống” ở dưới chân thôi.
Lam Y nói :
- Chiếc hũ sứ này từ đời Tống, nhưng không đề niên hiệu.

Đức Kiệt dùng dao ngắn nạy hết các lớp trám đường gắn kỹ khắp chung quanh nắp thống, cạy mãi mới nhấc được nắp ra. Bên trong có một bọc vải dầu còn nguyên đầy lên miệng thống, trong thống cũng khô ráo như thường. Đức Kiệt mở bọc vải dầu, chàng nói :
- Người nào hạ thổ chiếc thống này khéo biết lựa chỗ đất cao không hề bị ngấm nước...

Giờ hết lần vải dầu, ngay phía trên lộ ra bộ kim giáp kiểu vẩy cá vàng lóng lánh. Lam Y nhấc hẳn bộ kim giáp ra, phía dưới toàn là nữ trang châu bảo ngọc ngà quý giá, thứ nguyên có, thứ dát vàng có. Âu Dương Bích Nữ và Lam Y nhắc các bảo vật đó lên coi đưa cho Võ Nguyệt Minh và cha con Vương quản trang xem. Đức Kiệt nói :
- Không có vàng. Những trang vật này là trước đây của một nhà quyền quý nào có lẽ vì loạn lạc nên qua khu này chôn xuống đây. Duy chỉ bực một điều là không hiểu vì lý do gì tấm lụa ghi nơi chôn bảo vật lại thuộc về nhà ta!

Bỏ các bảo vật vào trong thống sứ, Âu Dương Bích Nữ giở bộ kim giáp ra xem kỹ lại, nàng chợt trông thấy các đầu nỗi đều có khắc chữ “Quan”, bèn đưa cho mọi người xem.

Đức Kiệt nhìn Lam Y, nét mặt tươi hẳn lên, chàng nói :
- Có thế chứ! Các bảo vật của họ Quan. Nội tổ tứ đại Chu gia là Đức Điền lấy người họ Quan. Mà tổ mẫu họ Quan ấy là bà cô mẫu tứ đại của Quan Long ở Mã Thạch cương, trên đường Dương Châu, Kim Lăng.
“Chắc tấm giấy lụa này của tổ mẫu để lại”.

Lam Y hỏi Đức Kiệt :
- Nhưng sao lại chôn bảo vật ở đây mà không chôn ở Mã Thạch cương?
- Chắc rằng họ Quan trước kia hoặc ở quanh khu vực này, hoặc vì lẽ chi đó đi qua đây. Ngu huynh có nhớ Quan Long nói rằng Quan gia mới thành lập ở Mã Thạch cương một, hai đời nay chớ không phải cố thổ từ lâu. Căn cứ vào việc tổ mẫu họ Quan kết thân với nội tổ tứ đại Chu Đức Điền, ta có thể suy luận rằng họ Quan trước kia có ở Bình Dương.

Âu Dương Bích Nữ bảo chồng :
- Nhân dịp này, Chu lang cũng nên phái người xuống Nam mời biểu đệ Quan Long lên Sơn Đông chơi. Nhân thể chúng ta gởi thơ về Tô Châu thăm nhà.
Vương Bình nói :
- Chuyến này ba vị nghỉ ở nhà, vậy cho phép tôi và Hoành nhi đảm nhiệm việc xuống Hoa Nam cho biết đó biết đây.

Lam Y nhìn Đức Kiệt cười :
- Ý kiến của Vương quản trang hay đó, hiền huynh nghĩ thế nào?
Đức Kiệt cười vang :
- Ngu huynh cũng đang định nhờ hai người đi thay mới an tâm được.

Lam Y quay lại hỏi Võ Nguyệt Minh :
- Võ muội muốn theo Vương quản trang du ngoạn Giang Nam không, ta sẽ xin phép Trần nhũ mẫu dùm?
Võ Nguyệt Minh e lệ cúi đầu, nín thinh. Âu Dương Bích Nữ tươi cười vỗ vai Lam Y mà rằng :
- Im lặng là ưng thuận rồi, cô muội cứ việc nói với Trần nhũ mẫu cho Nguyệt Minh đi luôn thể là xong.

° ° ° ° °


Đoàn người trở về Bình Dương thành.

Từ đó, Chu gia Tam hiệp nghỉ lại Chu gia trang vui thú điền viên trong một thời gian mấy năm, khai khẩn thêm các đất đai trước đây bỏ dở.

Những buổi trăng treo vách quế, gió nhẹ bên sông, Lam Y nữ hiệp cùng vợ chồng Đức Kiệt thường uống rượu ngoài Bách Hoa đình luận đàm kim cổ, nhắc lại những hoạt động xưa khi hoa báu kiếm hành hiệp khắp bốn phương trời.
Âu Dương Bích Nữ lần lượt năm một, hạ sanh một trai đặt tên là Chu Đức Hùng và một gái mỹ danh Chu Bích Anh.

Hai trẻ đều khỏe mạnh, bụ bẫm đặc dòng nhà võ. Chú bé Đức Hùng giống hệt Chu Đức Kiệt, và Bích Anh giống mẫu thân Bích Nữ và cô mẫu Lam Y.
Phần Lam Y rất sung sướng, suốt ngày bế cháu, nựng cháu, nhiều khi vợ chồng Đức Kiệt bảo nàng :
- Chừng nào hai trẻ biết đi, cô muội khởi luyện cho chúng, nhé?

Lam Y nữ hiệp cười dòn dã :
- Nhất định rồi, “Đao pháp” Chu gia vốn dĩ gia truyền.

HẾT
Tên của Diễn Đàn: Tea Lounge
User avatar
Editor 1
 
Posts: 687
Joined: Wed Nov 23, 2011 5:39 pm
I am: Reader

Previous

Return to Martial Arts

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 13 guests



www.VomtroiMagazine.com

All Daily News - Tin mới nhất
www.VomTroiMagazine.com 

********

Cám Ơn.Thank You.Merci

Contact us

Vom Troi Magazine

9101 Boul. Maurice Duplessis 
Succ. Rivières des Prairies
P.O. Box 25273
H1E – 6M0 Mtl PQ 
Tel: 514-677-7315

VomtroiMagazine@gmail.com
VNBusinessMedia@Yahoo.com 

_________________________ __________________________
 Supporters **** ****

        


HTML Counter
cron